1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang phát hiện kháng thể kháng HLA huyết thanh bệnh nhân suy thận mạn tính dự kiến ghép thận

7 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 146,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu: sàng lọc phát hiện kháng thể kháng HLA trong huyết thanh bệnh nhân nhận thận ghép bằng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang và đánh giá hiệu quả định danh kháng thể kháng HLA trong huyết thanh bệnh nhân suy thận mạn dự kiến ghép thận bằng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT HẤP PHỤ MIỄN DỊCH

VI HẠT ĐÁNH DẤU HUỲNH QUANG PHÁT HIỆN KHÁNG THỂ

KHÁNG HLA TRONG HUYẾT THANH BỆNH NHÂN SUY THẬN

MẠN TÍNH DỰ KIẾN GHÉP THẬN

Đỗ Khắc Đại 1 ; Nguyễn Ngọc Tuấn 1

Hoàng Trung Kiên 1 ; Nguyễn Đặng Dũng 1

TÓM TẮT

Mục tiêu: sàng lọc phát hiện kháng thể kháng HLA trong huyết thanh bệnh nhân nhận thận

ghép bằng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang và đánh giá hiệu quả định

danh kháng thể kháng HLA trong huyết thanh bệnh nhân suy thận mạn dự kiến ghép thận bằng

kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang Đối tượng và phương pháp: sử dụng

2 bộ kít sàng lọc và định danh kháng thể kháng HLA trên 55 mẫu huyết thanh được thu thập từ

55 bệnh nhân suy thận và phân tích bằng kỹ thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh

quang trên hệ thống Luminex 200 tại Bộ môn Miễn dịch, Học viện Quân y Kết quả: 27/55 mẫu

huyết thanh (49,09%) có kháng thể kháng HLA dương tính, trong đó dương tính với lớp I + lớp

II chiếm tỷ lệ cao nhất (44.44%) Định danh được 17 loại kháng thể kháng HLA-A; 31 loại kháng

thể kháng HLA-B và 22 loại kháng thể kháng HLA lớp II Kết luận: đã ứng dụng thành công kỹ

thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang trong xét nghiệm sàng lọc và định danh

kháng thể kháng HLA trong huyết thanh của bệnh nhân suy thận mạn tính dự kiến ghép thận

* Từ khoá: Suy thận mạn tính (dự kiến ghép thận); Phát hiện kháng thể kháng HLA; Kỹ thuật

hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh quang

Application of Fluorescence Covalent Microbead Immunosorbent

Assay in Detection of Anti-HLA Antibodies in Recipient Candidates

for Kidney Transplant

Summary

Objectives: Anti-HLA antibodies in serum of kidney transplant recipients may significantly be

involved in antibody-mediated graft rejection Identification of the antibodies before kidney

transplant in these patients, therefore, helps clinicians to better manage the patients both pre-and post-transplant The aims of the present study are to screen and to identify anti-HLA

antibodies in serum of recipient candidates for kidney transplant at 103 Military Hospital

Subjects and methods: A fluorescence covalent microbead immunosorbent assay test kit, along

with Luminex 200 analyzer, were adopted in the study which allowed screening and identifying

anti-HLA antibodies present in 55 serum samples from 55 recipient candidates for kidney transplant

1 Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Ngọc Tuấn (nguyenngoctuanmd@gmail.com)

Ngày nhận bài: 21/12/2018; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 25/01/2019

Ngày bài báo được đăng: 28/02/2019

Trang 2

Results: 27 (out of 55) serum samples (49.09%) were reactive to anti-HLA antibodies; samples simultaneously reactive to anti-HLA class I and class II accounted for 44.4% of total number

of reactive samples HLA class I antibodies identified include 17 anti-HLA-A and 31 anti-HLA-B; for HLA class II antibodies, 22 anti-HLA-DR antibodies were identified Conclusions: Fluorescence covalent microbead immunosorbent assay with Luminex 200 analyzer were effective in screening and identification of anti-HLA antibodies in kidney transplant recipients

* Keywords: Kidney transplant; Recipient candidates for kidney transplant; Anti-HLA antibody; Fluorescence covalent microbead immunosorbent assay

ĐẶT VẤN ĐỀ

Kể từ khi ca ghép thận đầu tiên trên

thế giới thành công năm 1954, ghép thận

đã trở thành phương pháp điều trị tối ưu

nhất đối với bệnh nhân (BN) suy thận

mạn (STM) giai đoạn cuối Tại Việt Nam,

ca ghép thận đầu tiên được thực hiện

thành công tại Bệnh viện Quân y 103 vào

tháng 6 - 1992 Từ đó đến nay, đã có

hàng ngàn BN được ghép thận thành

công tại các trung tâm y tế lớn trên toàn

quốc Một trong những vấn đề quan trọng

nhất trong ghép thận đó là tình trạng đào

thải thận ghép, nguyên nhân do đáp ứng

miễn dịch của cơ thể túc chủ chống lại

mô ghép khác gen Trong đó, phản ứng

đào thải thận ghép tối cấp, cấp tính và

mạn tính qua trung gian kháng thể được

nhiều tác giả công bố [1]

Nhiều phương pháp xét nghiệm phát

hiện kháng thể kháng - kháng nguyên HLA

trước ghép (xét nghiệm tiền mẫn cảm)

được ứng dụng trên lâm sàng nhằm hạn

chế phản ứng đào thải thận ghép tối cấp

và cấp tính qua trung gian kháng thể như

kỹ thuật gây độc tế bào phụ thuộc bổ

thể (CDC); kỹ thuật ELISA và kỹ thuật

hấp phụ miễn dịch vi hạt đánh dấu huỳnh

quang (FCMIA) Trong đó, kỹ thuật FCMIA

là kỹ thuật mới với nhiều ưu điểm nổi bật như có độ nhạy và độ chính xác cao trong việc phát hiện kháng thể kháng lại kháng nguyên HLA so với kỹ thuật CDC và ELISA Tại Học viện Quân y, việc triển khai thành công kỹ thuật này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, góp phần hạn chế tối

đa phản ứng đào thải mô ghép trong ghép thận, cũng như theo dõi xuất hiện của kháng thể kháng HLA sau ghép nhằm nâng cao hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị cho BN nhận thận ghép Xuất phát từ những phân tích trên, nhóm nghiên cứu tiến hành đề tài này nhằm

mục tiêu: Sàng lọc phát hiện kháng thể

kháng HLA trong huyết thanh bằng kỹ thuật FCMIA và hiệu quả định danh kháng thể kháng HLA ở BN STM tính dự kiến ghép thận

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

thanh được thu thập từ 55 BN STM tính

dự kiến ghép thận và có chỉ định ghép

thận tại Bệnh viện Quân y 103

Trang 3

* Vật liệu nghiên cứu:

- 2 kít xét nghiệm:

+ Kít xét nghiệm sàng lọc phát hiện

kháng thể kháng HLA (LMX) (Hãng

Immucor, Mỹ)

+ Kít xét nghiệm định danh kháng thể

kháng HLA (ID1 và ID2) (Hãng Immucor, Mỹ)

- Hoá chất và sinh phẩm xét nghiệm:

+ Hỗn hợp với số lượng bằng nhau

các loại hạt từ khác nhau, mỗi loại hạt từ

huỳnh quang được gắn lên bề mặt một

hoặc một số loại kháng nguyên HLA

+ Hỗn hợp kháng thể phát hiện đã gắn

phức hợp huỳnh quang PE

+ Dung dịch pha mẫu, dung dịch pha

sinh phẩm, dung dịch rửa (Hãng Immucor,

Mỹ sản xuất và cung cấp)

+ Hệ thống Luminex 200 và phần mềm

điều khiển đi kèm (Hãng Luminex, Mỹ chế

tạo và cài đặt)

- Vật liệu và thiết bị labô phụ trợ khác

như máy lắc, máy hút chân không, các loại

pipét, đầu pipét, giấy bạc, giấy thấm, nước

cất, ống nghiệm đạt tiêu chuẩn quốc tế

được chính hãng sản xuất cung cấp

2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp tách huyết thanh từ

máu toàn phần:

Lấy máu toàn phần số lượng 2 ml cho

vào ống không có chất chống đông, đặt

trong tủ ấm 30 phút ở nhiệt độ 370C để co

cục máu tự nhiên Ly tâm với tốc độ

2.500 rpm trong 20 phút, hút 0,5 ml dịch

nổi màu vàng cho vào ống eppendorf loại

1,5 ml và tiến hành xét nghiệm ngay

* Phương pháp xét nghiệm sàng lọc phát hiện kháng thể kháng HLA bằng kỹ thuật FCMIA:

- Bước 1: tra 12,5 µl mẫu huyết thanh

+ 5 µl hỗn hợp hạt từ mang kháng nguyên HLA (LMX bead) được lấy từ kít LMX vào các giếng xét nghiệm tương ứng

- Bước 2: ủ ở nhiệt độ phòng trên máy

lắc 30 phút (trong buồng tối) Sau thời gian ủ tiến hành rửa plate 3 lần bằng cách cho thêm 100 µl dung dịch rửa vào mỗi giếng Hút cạn dịch trong giếng xét nghiệm bằng hệ thống bơm hút chuyên dụng

- Bước 3: tra vào mỗi giếng xét nghiệm

50 µl kháng thể phát hiện đã gắn chất huỳnh quang PE

- Bước 4: ủ và rửa plate theo chi tiết

mô tả tại bước 2

- Bước 5: tra vào mỗi giếng xét nghiệm

150 µl dung dịch rửa, trộn đều trên máy lắc 30 giây

- Bước 6: đọc và phân tích kết quả trên

hệ thống Luminex 200

* Phương pháp xét nghiệm định danh kháng thể kháng HLA bằng kỹ thuật FCMIA:

- Bước 1: tra 12,5 µl mẫu huyết thanh

+ 5 µl hỗn hợp hạt từ mang kháng nguyên HLA (ID1 và ID2 bead) được lấy

từ kít ID1 và ID2 vào các giếng xét nghiệm tương ứng

- Bước 2: ủ ở nhiệt độ phòng trên máy

lắc 30 phút (trong buồng tối) Sau thời gian ủ, tiến hành rửa plate 3 lần bằng cách cho thêm 100 µl dung dịch rửa vào mỗi giếng Hút cạn dịch trong giếng xét nghiệm bằng hệ thống bơm hút chuyên dụng

Trang 4

- Bước 3: tra vào mỗi giếng xét nghiệm

50 µl kháng thể phát hiện đã gắn chất

huỳnh quang PE

- Bước 4: ủ và rửa plate theo chi tiết

mô tả tại bước 2

- Bước 5: tra vào mỗi giếng xét nghiệm

150 µl dung dịch rửa, trộn đều trên máy

lắc 30 giây

- Bước 6: đọc và phân tích kết quả trên

hệ thống Luminex 200

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

* Kết quả sàng lọc phát hiện kháng thể

kháng HLA (n = 55):

Dương tính: 27 BN (49,09%); âm tính:

28 BN (50,91%) Theo Bùi Văn Mạnh và

CS (2009), tỷ lệ này là 69,2% [2], của

Yamamoto và CS (2014) là 39,4% [3]

Kết quả thu được khác nhau phụ thuộc

vào đối tượng nghiên cứu, cỡ mẫu

nghiên cứu Đặc biệt là phương pháp xét

nghiệm phát hiện kháng thể kháng HLA

Bùi Văn Mạnh và CS nghiên cứu trên cỡ

mẫu nhỏ hơn (n = 39) so với nghiên cứu

của chúng tôi và Yamamoto Chúng tôi

nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn hơn (n = 55);

đối tượng nghiên cứu là BN suy thận có

chỉ định ghép thận và sử dụng kỹ thuật

FCMIA để phát hiện kháng thể kháng HLA

* Kết quả sàng lọc phát hiện kháng thể

kháng HLA theo lớp kháng nguyên HLA:

Dương tính với lớp I: 8 BN (29,63%);

dương tính với lớp II: 7 BN (25,93%);

dương tính với lớp I + lớp II: 12 BN

(44,44%)

Trên các mẫu có kháng thể kháng HLA

dương tính, nhóm có kháng thể kháng HLA

dương tính với cả 2 lớp (lớp I + lớp II) chiếm tỷ lệ cao nhất (44.44%), cao hơn trường hợp chỉ dương tính với 1 lớp Kết quả này có thể giúp các nhà lâm sàng theo dõi điều trị BN sau ghép thận tốt hơn Trường hợp kháng thể kháng HLA dương tính với cả 2 lớp, tiên lượng xấu hơn dương tính với 1 lớp

kháng HLA-A

Số thứ

tự

Kháng thể kháng HLA-A

Tần suất xuất hiện

Tỷ lệ (%)

Đã định danh được 17 loại kháng thể kháng HLA-A Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là kháng thể kháng HLA-A*68 (12,20%) và thấp nhất là kháng thể kháng HLA-A*2534 (1,23%)

Trang 5

Bảng 2: Kết quả định danh kháng thể kháng HLA-B

Đã định danh được 31 loại kháng thể kháng HLA-B Trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất

là kháng thể kháng HLA-B*14 (8,96%) và B*08 (7,46%)

Trang 6

Nghiên cứu đã phát hiện một số kháng thể kháng lại các kháng nguyên HLA như A*23, A*25, B*08, B*14… Theo nghiên cứu của Nguyễn Đặng Dũng và CS, những kháng nguyên trên mẫu tế bào thu nhận từ máu cuống rốn chưa thấy xuất hiện [3], chứng tỏ trong cộng đồng người Việt vẫn có người mang kháng nguyên này, nhưng để phát hiện được kháng nguyên hiếm gặp đòi hỏi phải có nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và thực hiện trên nhiều khu vực khác nhau mới có thể đưa ra kết luận chính xác

Đã định danh được 22 loại kháng thể kháng HLA lớp II, trong đó chiếm tỷ lệ lớn nhất là HLA-DRB1*10 (14,29%)

12

DRB1

15

DRB3

22

DQB1

Trang 7

Bảng 4: Kết quả định danh kháng thể

kháng HLA lớp II theo các nhóm

Số

thứ tự

Kháng thể

kháng HLA lớp II

Số

Đã định danh được 5 nhóm kháng thể

kháng HLA lớp II (HLA-DRB1; HLA-DRB3;

HLA-DRB4; HLA-DRB5 và HLA-DQB1)

Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất là kháng

thể kháng HLA-DRB1 (48,28%), tiếp theo

là DQB1 (20,68%) và thấp nhất là kháng

thể kháng DRB3 (6,90%)

kháng HLA theo loại kháng thể/mẩu

huyết thanh

Loại kháng thể kháng

HLA/mẫu huyết thanh

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số mẫu huyết thanh có > 6 loại kháng

thể kháng HLA chiếm tỷ lệ cao nhất

(40,76%) Kết quả này có thể do kỹ thuật

FCMIA có độ nhạy cao, có thể định danh

được nhiều loại kháng thể khác nhau

tương ứng với các allen kháng nguyên đã

biết gắn trên hạt từ huỳnh quang Do vậy,

xét nghiệm tiền mẫn cảm trước ghép

bằng kỹ thuật FCMIA giúp sàng lọc và lựa

chọn người cho thận phù hợp nhất, góp phần làm giảm tỷ lệ đào thải thận ghép trên lâm sàng

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đã ứng dụng thành công

kỹ thuật FCMIA trong xét nghiệm sàng lọc

và định danh kháng thể kháng HLA trong huyết thanh của BN nhận thận ghép như sau:

- 27/55 BN (49,09%) dương tính với kháng thể kháng HLA, trong đó dương tính với HLA lớp I: 29,63%; lớp II: 25,93%; lớp I và lớp II: 44,44%

- Đã định danh được 17 loại kháng thể kháng HLA-A; 31 loại kháng thể kháng HLA-B và 22 loại kháng thể kháng HLA-DR

và DQ với tần suất xuất hiện cao nhất là kháng thể kháng HLA-A*68; HLA-B*14 và HLA-DRB1*10

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoàng Mạnh An Những tiến bộ trong

ghép tạng ở Việt Nam Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt Nam 2014, số 8, tr.41-43

2 Bùi Văn Mạnh và CS Nghiên cứu lâm

sàng, cận lâm sàng và một số chỉ số miễn dịch

ở BN sau ghép thận Luận án Tiến sỹ Y học Học viện Quân y 2009

3 Nguyễn Đặng Dũng và CS Xây dựng

cơ sở dữ liệu và phần mềm tra cứu HLA của các mẫu tế bào gốc dây rốn được hiến tặng cho Ngân hàng Tế bào gốc Mekostem Tạp chí

Y - Dược học Quân sự 2007, số 7, tr.21-28

4 Yamamoto H, Uchida N, Matsuno N,

Ota H, Kageyama K, Wada et al. Anti-HLA antibodies other than against HLA-A, -B, -DRB1 adversely affect engraftment and nonrelapse mortality in HLA-mismatched single cord blood transplantation: Possible implications of unrecognized donor-specific anti-bodies Biol Blood Marrow Transplant 2014, 20 (10), pp.1634-1640 doi:10.1016/j bbmt 2014.06.024.

Ngày đăng: 22/01/2020, 20:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w