1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ứng dụng phức hợp hạt nano - kháng thể đơn dòng phát hiện vi khuẩn listeria monocytogenes

7 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 568,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trình nghiên cứu của bài viết này, VK L. monocytogenes sau khi được ly giải bằng phương pháp hóa học trên màng nitrocellulose, đã phát hiện bằng phức hợp kháng thể đơn dòng với hạt nano vàng (biodesign) hoặc phức hợp kháng thể đơn dòng với các chấm lượng tử (tự gắn). Đây là một phương pháp sử dụng vật liệu mới để phát hiện vi khuẩn.

Trang 1

ỨNG DỤNG PHỨC HỢP HẠT NANO-KHÁNG THỂ ĐƠN DÒNG PHÁT HIỆN VI KHUẨN LISTERIA MONOCYTOGENES

Lê Thị Hiên*; Vũ Xuân Nghĩa**

Phạm Đức Minh**; Nguyễn Năng Định*

TÓM TẮT

Phức hợp của chấm lượng tử CdSe/ZnS với kháng thể đơn dòng (KTĐD) được tạo ra để ứng dụng phát hiện vi khuẩn (VK) L monocytogenes, sau khi các tế bào này được ly giải bằng phương pháp hóa học trên màng nitrocellulose Bên cạnh đó, sản phẩm thương mại phức hợp hạt nano vàng với kháng thể đơn dòng được sử dụng để so sánh khả năng phát hiện L monno Kết quả cho thấy, phức hợp KTĐD-chấn lượng tử được tạo ra có kích thước tương ứng 10 nm có khả năng phát hiện

L mono ở nồng độ VK ly giải trên màng cellulose từ 105

- 106 cfu/ml

* Từ khóa: L monocytogenes; Kháng thể đơn dòng; Phức hợp hạt nano

Application of monoclonal antibody-conjugated nanoparticles for detection of bacteria

Listeria monocytogenes

summary

The monoclonal antibody-conjugated CdSe/ZnS quantum dots were synthesized for detection of

L monocytogenes after the cell lysis on nitrocellulose membrane In addition, a commercial product - monoclonal antibody-conjugated gold nanoparticles - was used for comparison of these two materials The study broadened the applications of nanomaterials in bioimaging and pathogene detection

* Key words: L monocytogenes; Monoclonal antibody; Nanoparticles

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngộ độc thực phẩm đã và đang là vấn

đề được cộng đồng trên toàn thế giới quan

tâm Nguyên nhân chính gây ra các ca ngộ

độc thực phẩm là do VK như Salmonella,

Escherichia coli, L monocytogenes Trong

đó, số ca tử vong do VK, L monocytogenes

gây ra đứng thứ hai (chỉ sau VK Salmonella)

trong tổng số các ca tử vong do nhiễm

khuẩn từ thực phẩm Khác với các loài gây ngộ độc thực phẩm khác, L monocytogenes

có thể phát triển ngay cả ở 4ºC (khi thực phẩm được giữ trong tủ lạnh) Do đó,

cho con người từ những thực phẩm đông lạnh Mặc dù hiện diện với số lượng nhỏ trong thực phẩm, nhưng khi đi vào cơ thể, chúng không bị đào thải mà tích lũy chờ cơ hội gây bệnh

* Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội

** Học viện Quân y

Chịu trách nhiệm nội dung khoa học: PGS TS Nguyễn TháI Sơn

Trang 2

Hiện nay đã có nhiều phương pháp phát

hiện VK L monocytogenes như: nuôi cấy

[1], PCR [2], Western blot [3], ELISA [4],

ELFA [5] Nuôi cấy là phương pháp truyền

thống, mất khá nhiều thời gian và cần có

môi trường tăng sinh và phân lập chọn lọc

cho từng loại VK, nên không phù hợp với

nhu cầu phát hiện nhanh VK trong các mẫu

thực phẩm hoặc chẩn đoán nhanh nguyên

nhân gây ngộ độc thực phẩm cho người

bệnh để có phương pháp điều trị kịp thời

Các phương pháp chẩn đoán phân tử dựa

trên kỹ thuật miễn dịch và kỹ thuật PCR cho

kết quả nhanh hơn và nhạy hơn

Gần đây, công nghệ nano phát triển rất

nhanh tạo ra những vật liệu nano tiên tiến

(vật liệu có kích thước nanomet) mang lại

nhiều ứng dụng to lớn trong lĩnh vực dược

phẩm và y sinh Trong các loại vật liệu nano,

hạt nano vàng và chấm lượng tử (quantum

dots) là hai loại vật liệu nano được nghiên

cứu và ứng dụng rộng rãi nhất Hạt nano

vàng gắn với các phân tử sinh học là một

sản phẩm với rất nhiều ứng dụng trong lĩnh

vực y sinh học, trong chẩn đoán và điều trị

tế bào ung thư, đặc biệt trong công nghệ

chế tạo kit chẩn đoán nhanh các loại bệnh

truyền nhiễm [6] Chấm lượng tử với khả

năng phát huỳnh quang và độ bền màu với

ánh sáng đã vượt qua các chất màu hữu cơ

và trở thành một trong số những vật liệu

sáng giá của công nghệ nano Chấm lượng

tử được sử dụng trong đánh dấu tế bào và

phần tử sinh học, dẫn truyền và phân phối

thuốc, trong các công cụ chẩn đoán mới [7]

Trong công trình nghiên cứu này, VK L

phương pháp hóa học trên màng nitrocellulose,

đã phát hiện bằng phức hợp kháng thể đơn

dòng với hạt nano vàng (biodesign) hoặc phức hợp kháng thể đơn dòng với các chấm lượng tử (tự gắn) Đây là một phương pháp

sử dụng vật liệu mới để phát hiện vi khuẩn

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Vi khuẩn

Vi khuẩn Listeria monocytogenes ATCC

35152, chủng chuẩn quốc tế, được tăng sinh và bảo quản theo tiêu chuẩn quốc gia tại Bộ môn Vi sinh Y học, Học viện Quân y

VK E coli BL21 (Viện Công nghệ Sinh học,

Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

2 Vật liêu

Kháng thể đơn dòng C86030M kháng L mono (Biodesign), kháng thể đơn dòng C86920M kháng L mono gắn hạt nano vàng (Biodesign), albumin huyết thanh bò (BSA) (Biobasic) Chấm lượng tử CdSe/ZnS (Viện Khoa học Vật liêu - Viện Khoa học

và Công nghệ Việt Nam cung cấp) Màng nitrocellulose (0,45 micromet, Whatman) Đệm Blotting 10x (250 mM, 1,92 M Glycine) Đệm Blotting 1x (pha loãng đệm Blotting 10x với methanol và nước theo tỷ lệ thể tích 1:2:7) Đệm TBS 1x (Tris HCl 50 mM; NaCl

100 mM; pH 7,5) Đệm TTBS 1x (0,05% Tween 20 trong đệm TBS 1x) Đệm PBS 1x (100 mM NaH2PO4, 100mM Na2HPO4, 150

mM NaCl pH 7,5)

3 Phương pháp nghiên cứu

* Tạo phức hợp kháng thể đơn dòng với chấm lượng tử:

Gắn chấm lượng tử có nhóm chức amino với kháng thể đơn dòng kháng L mono bằng chất nối bis (3-sulfo-N-hydroxysuccinimide ester) (BS3) (Sigma) Ủ chấm lượng tử 10 mg/ml

Trang 3

trong đệm PBS 1x với chất nối BS3 trên

máy lắc trong 30 phút ở nhiệt độ phòng

Ly tâm 5.000 vòng/phút trong 5 phút,

thu tủa, bỏ dịch tan có chứa chất BS3 dư

Thêm 20 µl PBS 1x vào tủa lắc cho tủa

phân tán đều trong đệm Thêm 2 µl kháng

thể (2,8 mg/ml), trộn nhẹ, để một giờ ở

nhiệt độ phòng Ly tâm 5.000 vòng/phút

trong 5 phút Thu dịch nổi để phân tích

lượng kháng thể dư bằng phương pháp

điện di trên gel polyacrylamide (gel tách

12%, gel cô 5%) Thu tủa (phức hợp hạt

nano-kháng thể), phân tán lại trong PBS 1x

và ủ với 3 µg BSA trong 30 phút ở nhiệt độ

phòng Ly tâm thu tủa phân tán lại trong 20

µl PBS và giữ ở 4ºC để sử dụng

* Ly giải VK trên màng nitrocellulose:

Chuẩn bị dung dịch sử dụng để ly giải tế

bào và rót sẵn vào 5 đĩa Petri khác nhau

- Đĩa 1: dung dịch SDS 10%; đĩa 2: dung

dịch biến tính (0,5M NaOH; 1,5M NaCl); đĩa

3:dung dịch trung hòa (1,5M NaCl; 0,5M

Tris HCl pH 7,5); đĩa 4: dung dịch trung hòa

(như đĩa 3); đĩa 5: dung dịch đệm SSC

(0,15 M NaCl, citrate natri 15 mM pH 7,0)

- Thấm dung dịch bằng giấy thấm và để

sẵn trên các đĩa

- Ngâm màng nitrocellulose bằng đệm

blotting 1x ba lần, mỗi lần 5 phút Nhỏ

1 - 5 µl tế bào L monocytogenes lên màng

nitrocellulose Đặt màng lên giấy đã thấm

ướt các dung dịch trong đĩa Petri theo thứ

tự và thời gian Đĩa 1: 10 phút; đĩa 2: 5 phút;

đĩa 3: 5 phút; đĩa 4: 5 phút; đĩa 5: 15 phút

Ly giải xong, để bề mặt màng khô, ngâm

màng bằng sữa tách béo 5% trong TTBS 1x

trên máy lắc trong 2 giờ ở nhiệt độ phòng

Rửa màng bằng TTBS 1x ba lần, mỗi lần

5 phút và TBS 1x ba lần, mỗi lần 5 phút

Hình 1: Hình minh họa phương pháp ly giải

tế bào trên màng nitrocellulose

* Phát hiện VK sau ly giải trên màng nitrocellulose bằng phức hợp kháng thể đơn dòng với hạt nano vàng hoặc với chấm lượng tử:

Nhỏ 1 - 2 µl dung dịch phức hợp hạt nano vàng-kháng thể đơn dòng hoặc phức hợp chấm lượng tử-kháng thể đơn dòng lên

vị trí có tế bào VK L monocytogenes đã ly giải trên màng nitrocellulose Ủ 30 giây ở nhiệt độ phòng Rửa màng bằng TTBS 5 phút

Quan sát và chụp ảnh

Đối với phức hợp chấm lượng tử kháng thể, ánh sáng huỳnh quang đỏ của mẫu được quan sát dưới đèn tử ngoại (UV transluminator 2.000) với bước sóng kích thích 300 nm

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Tạo phức hợp kháng thể đơn dòng với chấm lƣợng tử

Theo phân tích hình ảnh bằng kính hiển

vi điện tử quét phân giải cao (FESEM) ban đầu, các chấm lượng tử cụm lại thành hạt

có kích thước khá lớn khoảng 300 nm Sau khi gắn kháng thể, chấm lượng tử tách thành các hạt có kích thước nhỏ hơn rất nhiều, chỉ khoảng 10 nm (hình 2)

Vi khuÈn

Hãa chÊt

Mµng NC GiÊy thÊm

§Üa

Trang 4

Hình 2: Ảnh hiển vi điện tử quét phân giải

cao (FESEM) của chấm lượng tử trước (A)

và sau khi gắn kháng thể (B)

Để đánh giá khả năng gắn kết của kháng

thể với chấm lượng tử, sau phản ứng, ly tâm

thu dịch nổi, phân tích bằng phương pháp điện

di biến tính trên gel polyacrylamide (hình 3)

Hình 3: Hình ảnh gel điện di dịch nổi của

phản ứng gắn kháng thể lên chấm lượng tử

1: Kháng thể đơn dòng C86030M (kháng

thể khi chưa phản ứng với chấm lượng tử

3 vạch với khối lượng phân tử 30 kDa,

50 kDa và 160 kDa, tương ứng với chuỗi nhẹ, chuỗi nặng của kháng thể và kháng thể hoàn chỉnh) 2: Thang protein 3: Dịch nổi của phản ứng gắn kháng thể lên chấm lượng tử

Kết quả cho thấy, trong dịch nổi không còn kháng thể nữa (đường số 3), chứng tỏ kháng thể đã gắn kết hết với chấm lượng tử

và tủa xuống sau ly tâm

2 Phát hiện VK sau ly giải trên màng nitrocellulose bằng phức hợp hạt nano vàng-kháng thể đơn dòng hoặc phức hợp chấm lƣợng tử-kháng thể đơn dòng

Các tế bào VK L monocytogenes được

ly giải bởi hóa chất thấm qua giấy thấm và màng nitrocellulose Sau ly giải, các protein của VK bám vào màng nitrocellulose Phức hợp hạt nano-kháng thể được sử dụng phát hiện các kháng nguyên VK trên màng nitrocellulose Sử dụng đối chứng âm là dịch ly giải của VK E coli (hình 4)

Hình 4: Phát hiện VK L monocytogenes

sau khi ly giải trên màng nitrocellulose dùng phức hợp chấm lượng tử-kháng thể (A) hoặc phức hợp hạt vàng-kháng thể (B) Đối chứng âm là dịch ly giải của VK E.coli

A

B

A

B

10 6 10 6 (cfu/ml)

E coli L.monocytogennes

E coli L.monocytogennes

(kDa) 1 2 3

160

50

30

97

66

43

30

Trang 5

Sau khi nhỏ phức hợp chấm lượng

tử-kháng thể đơn dòng tử-kháng L monocytogenes

lên vị trí tế bào L monocytogenes đã bị ly

giải và rửa bằng TTBS, quan sát dưới đèn

tử ngoại thấy các chấm phát huỳnh quang

đỏ Trong khi đó, tại vị trí dịch ly giải VK

lượng tử đã gắn được với kháng thể đơn

dòng kháng L monocytogenes và phức hợp

tạo thành có thể sử dụng để phát hiện đặc

hiệu VK L monocytogenes Nồng độ VK đưa

lên màng là 106 cfu/ml

Tương tự phần trên, phức hợp hạt vàng-

kháng thể đơn dòng kháng L monocytogenes

(biodesign) nhỏ lên màng nitrocellulose

và rửa bằng TTBS Tại vị trí ly giải VK

màu hồng (màu của phức hợp hạt nano

vàng-kháng thể), còn tại vị trí ly giải VK

được nhìn thấy rõ ở nồng độ 106 cfu/ml và

mờ hơn khi ở nồng độ 105 cfu/ml

Như vậy, phức hợp chấm lượng

tử-kháng thể (tự gắn) và sản phẩm thương

mại hạt nano vàng-kháng thể có thể phát

hiện được VK L monocytogenes ở nồng độ

105 - 106 cfu/ml chỉ vài phút sau khi nhỏ

phức hợp hạt nano-kháng thể đơn dòng

kháng L monocytogenes

Các phương pháp Western blot (phát

hiện L monocytogenes ở nồng độ 105

cfu/ml [3]) và phương pháp ELFA (khoảng

phát hiện 104

- 105 cfu/ml [5]) đều sử dụng phản ứng miễn dịch của kháng thể với

kháng nguyên protein màng được phân

tách (Western blot) và tinh sạch (ELFA)

Trong nghiên cứu này, phức hợp hạt nano-kháng thể cho phản ứng miễn dịch với dịch

ly giải tế bào (kháng nguyên chưa được phân

tách) và phát hiện được L monocytogenes

ở nồng độ gần tương đương Điều này cho phép dự đoán, nếu sử dụng kháng nguyên tinh sạch, tín hiệu màu cho bởi hạt nano vàng và chấm lượng tử có thể sẽ tốt hơn nhiều

Như vậy, phương pháp ly giải tế bào trên màng bằng hóa chất khá đơn giản, không cần công đoạn phá tế bào bằng siêu

âm và tinh sạch kháng nguyên protein màng tế bào Nghiên cứu góp phần mở rộng ứng dụng các vật liệu nano trong lĩnh vực đánh dấu sinh học và phát hiện các tác nhân gây bệnh Trong tương lai, phức hợp hạt nano-kháng thể, tương tự như chất màu huỳnh quang hữu cơ sử dụng trong EFLA

để làm tăng độ nhạy, có thể ứng dụng trong phương pháp chẩn đoán phân tử miễn dịch

để thay thế các chất màu hữu cơ

KẾT LUẬN

Vi khuẩn L monocytogenes sau khi được ly giải bằng phương pháp hóa học trên màng nitrocellulose được phát hiện bằng phức hợp kháng thể đơn dòng với hạt nano vàng hoặc phức hợp kháng thể đơn dòng với các chấm lượng tử

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Phạm Đức Minh, Vũ Xuân Nghĩa, Lê Thị Hiên, Nguyễn Năng Định Nghiên cứu ứng dụng kháng thể đơn dòng phát hiện VK Listeria monocytogenes Tạp chí Y học Việt Nam 2012, tháng 8, số 1, tr.22-24

Trang 6

2 Erdogan H.M, Cripps P.J, Morgan K.L

Optimization of a culture technique for the

isolation of Listeria monocytogenes from faecal

samples J Vet Med Infect Dis Vet Public Health

2002, 49 (10), pp.502-506

3 Levin R.E Application of the polymerase

chain reaction for detection of Listeria monocytogenes

in foods: a review of methodology Food Biotechnol

2003, 17, pp.99-116

4 Karamonova L, Blazkova M, Fukal L,

Rauch P, Greifov M, Horakova K, Tomaska M,

Roubal P, Brett G M, Wyatt G M.Development

of an ELISA specific for Listeria monocytogenes

using a polyclonal antibody raised against a cell

extract containing Internalin B Food and

Agricultural mmunology 2003, 15, pp.167-182

5 Sewell A.M, Warburton D.W, Boville A, Daley E.F, Mullen K The development of an

efficient and rapid enzyme linked fluorescent

assay method for the detection of Listeria spp

from foods Int J Food Microbiol 2003, 81, pp.123-129

6 Cai W Chen X Nanoplatforms for targeted

molecular imaging in living subjects Small

2007, 3 pp.1840-1854

7 Zrazhevskiy P, Sena M, Gao X Designing

multifunctional quantum dots for bioimaging, detection and drug delivery Chem Soc Rev

2010, 39 pp.4326-4354

Ngµy nhËn bµi: 18/10/2012 Ngµy giao ph¶n biÖn: 5/1/2013 Ngµy giao b¶n th¶o in: 6/2/2013

Ngày đăng: 22/01/2020, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm