1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị nang ống mật chủ hoại tử thủng với viêm phúc mạc mật: Phẫu thuật một thì so với hai thì

5 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 353,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều trị nang ống mật chủ hoại tử thủng với viêm phúc mạc mật, lựa chọn giữa phẫu thuật hai thì và phẫu thuật một thì vẫn còn là vấn đề nhiều tranh luận. Mục đích của nghiên cứu này là tổng kết kinh nghiệm của các tác giả trong điều trị nang ống mật chủ hoại tử thủng với viêm phúc mạc mật, đặc biệt với phẫu thuật một thì.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ NANG ỐNG MẬT CHỦ HOẠI TỬ THỦNG VỚI VIÊM PHÚC MẠC MẬT: PHẪU THUẬT MỘT THÌ SO VỚI HAI THÌ

Trần Ngọc Sơn*, Nguyễn Thanh Liêm*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Trong điều trị nang ống mật chủ hoại tử thủng với viêm phúc mạc mật, lựa chọn giữa phẫu

thuật hai thì và phẫu thuật một thì vẫn còn là vấn đề nhiều tranh luận Mục đích của nghiên cứu này là tổng kết kinh nghiệm của các tác giả trong điều trị nang ống mật chủ hoại tử thủng với viêm phúc mạc mật, đặc biệt với phẫu thuật một thì

Đối tượng phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật điều trị nang ống

mật chủ hoại tử thủng với viêm phúc mạc mật tại Bệnh viện Nhi Trung Ương từ tháng 5/2005 đến tháng 4/2011 Các dữ liệu được phân tích bao gồm đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán, cách thức phẫu thuật và kết quả điều trị Lựa chọn phương pháp phẫu thuật tùy thuộc vào phẫu thuật viên Trong phẫu thuật 2 thì, ở thì 1 bệnh nhân được dẫn lưu đường mật (thực hiện bằng cách đặt dẫn lưu túi mật hoặc trực tiếp vào nang ống mật chủ), rửa và dẫn lưu ổ bụng; phẫu thuật thì 2 cắt nang ống mật chủ và nối ống gan chung-hỗng tràng Roux-en-Y được thực hiện sau 1-2 tháng Trong phẫu thuật 1 thì, bệnh nhân được mổ cắt nang, nối ống gan chung-hỗng tràng Roux-en-Y cùng với rửa và dẫn lưu ổ bụng trong một lần, không đặt dẫn lưu đường mật

Kết quả: Có 19 bệnh nhân thuộc diện nghiên cứu, tuổi trung bình 2,6±2,9 tuổi (dao động 2 tháng đến 9

tuổi), trẻ gái chiếm 73,7% Biểu hiện lâm sàng bao gồm đau bụng, chướng bụng ở 94,7%, nôn 89,5%, sốt 68,4%, vàng da và phân bạc màu 26,3%, nắn bụng đau 100%, cảm ứng phúc mạc 73,7%, sờ thấy khối 21,1% Thời gian có các triệu chứng cấp tính dao động từ 1 đến 30 ngày (trung bình 5.4±6.5 ngày) Chẩn đoán chính xác trước mổ đạt được ở 15 ca (78,9%) Kích thước trung bình của nang ống mật chủ là 54± 49 mm (dao động: 15mm đến 180 mm) Trước tháng 2/2008, chỉ có 1/5 ca (20%) được mổ 1 thì nhưng sau đó cả 14/14 ca (100%) được mổ 1 thì Không có khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm bệnh nhân được mổ 1 thì hoặc 2 thì về đặc điểm bệnh nhân, thời gian bị bệnh, các biểu hiện lâm sàng và kích thước của nang Thời gian nằm viện trung bình sau mổ của nhóm bệnh nhân được mổ 1 thì là 8,0±2,8 ngày Không có trường hợp nào bị rò miệng nối, không có tử vong Tất cả các bệnh nhân được ra viện trong tình trạng sức khỏe tốt

Kết luận: Phẫu thuật 1 thì điều trị nang ống mật chủ hoại tử thủng với viêm phúc mạc mật là phẫu thuật

an toàn, khả thi, cho kết quả tốt và nên là lựa chọn thường qui ở các trung tâm phẫu thuật nhi có kinh nghiệm

Từ khóa: Nang ống mật chủ, hoại tử thủng, viêm phúc mạc mật, phẫu thuật 1 thì, 2 thì

ABSTRACT

SURGICAL TREATMENT FOR PERFORATED CHOLEDOCHAL CYST WITH BILE PERITONITIS:

ONE-STAGED VERSUS TWO-STAGED PROCEDURE

Tran Ngoc Son, Nguyen Thanh Liem

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 101 - 105

Objective: In management of perforated choledochal cyst with bile peritonitis (PCC), selection between

two-staged procedure and one-two-staged definitive repair is still controversial The aim of this study is to report the

* Bệnh viện Nhi Trung Ương

Tác giả liên lạc: TS.BS Trần Ngọc Sơn ĐT: 0904138502 Email: drtranson@yahoo.com

Trang 2

authors’ results in management of PCC with special emphasis on the one-staged procedure

Methods: Medical records of all patients undergoing surgery for PCC at National Children’s Hospital,

Hanoi, Vietnam from May, 2005 to April, 2011 were reviewed The clinical presentations, diagnosis, operative procedures and results were analyzed The choice of the operative procedure was according to the surgeon preference In the two staged procedure, firstly biliary drainage was performed by putting a drain into the gall bladder or the choledochal cyst, peritoneal lavage and drainage were also carried out Definitive repair was scheduled 1-2 months later, consisting of total excision of the cyst and Roux-en Y hepaticojejunostomy In the one staged procedure, definitive repair was performed with peritoneal lavage and drainage at once, without any biliary drain

Results: There were 19 patients, with mean age 2.6±2.9 years (ranged from 2 month to 9 years) and female

dominance (73.7%) The clinical manifestations were abdominal pain and distention in 94.7%, vomiting 89.5%, fever 68.4%, jaundice 26.3 and acholic stool 26.3%, abdominal tenderness 100%, peritoneal signs 73.7%, palpable mass 21.1% Duration of the acute symptoms ranged from 1 to 30 days (mean 5.4±6.5 days) Exact preoperative diagnosis was achieved in 15 cases (78.9%) and the remaining cases were diagnosed as peritonitis due to other causes Mean size of the choledochal cysts was 54± 49 mm (range: 15 to 180 mm) Before February

2008, the one-staged procedure was performed in only 1/5 cases (20%), but after that all 14/14 cases (100%) were treated with the one-staged definitive repair There was no significant difference between the one-staged and the two-staged group regarding patients’ characteristics, duration of symptoms, clinical presentations and cystic size The mean post-operative hospital stay for the one-staged group was 8.0±2.8 days There was no anastomotic leakage, no death and all patients were discharged in good health

Conclusions: One-staged definitive repair of perforated choledochal cyst with bile peritonitis is safe, feasible,

with good results and should be preferred in experienced centers

Key words: Choledochal cyst, perforated, bile peritonitis, one-staged, two-staged surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nang ống mật chủ (NOMC) là bệnh lý khá

hay gặp ở trẻ em Điều trị qui chuẩn của NOMC

(không thủng, không viêm phúc mạc mật) là

phẫu thuật 1 thì cắt toàn bộ nang và nối ống gan

chung với ruột (thường là hỗng tràng

Roux-en-Y) Tuy nhiên đối với các trường hợp nang ống

mât chủ hoại tử thủng với viêm phúc mạc mật

(NOMCT), cách tiếp cận điều trị còn có những

quan điểm khác nhau Nhiều tác giả khuyến cáo

nên phẫu thuật 2 thì với thì 1 chỉ dẫn lưu đường

mật và thì 2 điều trị cắt nang nối ống gan chung

- ruột 1 vài tháng sau đó(1,6,9,11,12) Tuy vậy cũng có

những tác giả ứng dụng thành công phẫu thuật

1 thì cắt nang nối ống gan chung với ruột

chỉ dựa trên một số ít trường hợp, chưa có

nghiên cứu nào trên loạt ca bệnh lớn(1-3,5-12) Với

kinh nghiệm nhiều năm điều trị OMC trên số

lượng lớn bệnh nhân (BN), chúng tôi tiến hành

nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả điều trị NOMCT, đặc biệt là tính khả thi, an toàn và hiệu quả của phẫu thuật 1 thì so với phẫu thuật 2 thì

Mục tiêu nghiên cứu

Tổng kết kinh nghiệm của các tác giả trong điều trị NOMCT, đặc biệt với phẫu thuật một thì

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là một hồi cứu mô tả loạt ca bệnh Đối tượng nghiên cứu bao gồm tất cả các bệnh nhân được điều trị NOMCT với viêm phúc mạc mật tại Khoa Ngoại, Bệnh viện Nhi Trung Ương (BVNTW) trong khoảng thời gian từ tháng 5/

2005 đến tháng 4/2011 Các dữ liệu được tập hợp phân tích bao gồm đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán, cách thức phẫu thuật và kết quả điều trị Lựa chọn phương pháp phẫu thuật tùy thuộc vào phẫu thuật viên Trong phẫu thuật 2 thì, ở thì 1 BN được dẫn lưu đường mật (thực hiện bằng cách đặt dẫn lưu túi mật hoặc trực tiếp vào

Trang 3

nang ống mật chủ), rửa và dẫn lưu ổ bụng; phẫu

thuật thì 2 cắt nang ống mật chủ và nối ống gan

chung-hỗng tràng Roux-en-Y được thực hiện

sau 2 tuần -1 tháng Trong phẫu thuật 1 thì, BN

được mổ cắt nang, nối ống gan chung-hỗng

tràng Roux-en-Y cùng với rửa và dẫn lưu ổ bụng

trong một lần, không đặt dẫn lưu đường mật

Kỹ thuật cắt nang và nối ống gan chung - hỗng

tràng trong mọi trường hợp là đồng nhất Các ca

bệnh được chia thành 2 nhóm phụ thuộc vào

cách tiếp cận điều trị phẫu thuật (1 thì hay 2 thì)

và các biến nghiên cứu được so sánh tương ứng

Các phương pháp thống kê được sử dụng là

Chi-square, Fisher’s exact test và T-test

KẾT QUẢ

Trong khoảng thời gian từ 1/5/2005 đến

30/4/2011, Khoa Ngoại BVNTW đã điều trị tổng

cộng 461 BN bị NOMC Trong số này có 19 bệnh

nhân có NOMCT chiếm tỷ lệ 4,1% Ở nhóm 19

BN thuộc đối tượng nghiên cứu này, độ tuổi của

BN dao động từ 2 tháng đến 9 tuổi (trung bình

2,6±2,9 tuổi) và trẻ gái chiếm đa số với 14 trẻ

(73,7%) so với 5 trẻ trai (26,3%)

Biểu hiện lâm sàng bao gồm đau bụng,

chướng bụng ở 18 BN (94,7%), nôn -17 BN

(89,5%), sốt – 13 BN (68,4%), vàng da và phân

bạc màu – 5 BN (26,3%), nắn bụng đau 100%,

cảm ứng phúc mạc - 14 BN (73,7%), sờ thấy khối

– 4 BN (21,1%) Ngoài ra còn có các triệu chứng

khác như ỉa lỏng 3 BN (15,8%), khó thở (2 BN-

10,5%), vật vã kích thích hoặc li bì (2 BN –

10,5%) Thời gian có các triệu chứng cấp tính dao

động từ 1 đến 30 ngày (trung bình 5,4±6,5 ngày),

trong đó trong vòng 10 ngày ở 18 BN (94,7%)

Chỉ có 1 trẻ gái 9 tuổi người dân tộc có thời gian

bị bệnh tới 1 tháng trước khi đến BVNTW, được

điều trị dài ngày ở các bệnh viện tuyến dưới do

chướng bụng không rõ nguyên nhân Có tới 9

BN (47,4%) đã được điều trị ở các bệnh viện

tuyến dưới không đỡ nên chuyển tới BVNTW

Có 3 BN (15,8%) đã được mổ với các chẩn đoán

khác (viêm ruột thừa, viêm phúc mạc) và được

dẫn lưu ổ bụng (ra dịch mật)

Siêu âm (SA) ổ bụng được thực hiện trên tất

cả các BN SA phát hiện thấy có NOMC ở 13 BN, dịch tự do ổ bụng -13 BN, dịch khu trú dưới gan phải - 8 BN, túi mật thành dày - 6 BN, nang lớn ổ bụng 3 BN, đầu tụy to - 2 BN, tràn dịch màng phổi 1 BN Có 1 BN SA chẩn đoán là viêm ruột thừa X-quang bụng không chuẩn bị được chụp trên 11 BN, trong đó thấy ổ bụng mờ ở 6 BN, ở 5

BN có mức nước – hơi Chụp cắt lớp vi tính CT được thực hiện trên 7 BN, trong đó 5 BN chẩn đoán được nang OMCT Có 1 BN 2 tháng tuổi cả

SA và CT chỉ chẩn đoán được là nang lớn chiếm gần toàn bộ ổ bụng Ở một BN đã được dẫn lưu

ổ bụng ở tuyến trước, CT cũng không phát hiện

ra nang ống mật chủ BN này được chụp đường mật trong mổ và thấy có hình ảnh nang ống mật chủ với đường kính 2,5 cm

Xét nghiệm máu cho thấy Hb<10g% ở 6 BN (31,6%), tăng bạch cầu ở 13 BN (68,4%) tăng bạch cầu trung tính ở 11 BN (57,9%) Trong 17

BN được xét nghiệm men gan, GOT tăng ở 12

BN (70,6%), GPT tăng ở 10 BN (58,8%), Bilirubin tăng ở 10 BN trên 11 BN được làm xét nghiệm (90,9%), chủ yếu là tăng mức độ nhẹ (<40 μmol/l) và tăng bilirubin trực tiếp 2 BN tăng amylase trên 5 BN được xét nghiệm 5 BN được chọc dò ổ bụng và ở cả 5 BN đều thấy có dịch mật tự do trong ổ bụng

Chẩn đoán chính xác trước mổ NOMCT đạt được ở 15 ca (78,9%) Các ca còn lại được chẩn đoán là viêm phúc mạc, viêm tụy có viêm phúc mạc, viêm túi mật hoại tử và u nang ổ bụng

Ở tất cả BN trong mổ đều thấy nang ống mật chủ hoại tử thủng Kích thước trung bình của nang ống mật chủ là 54 ± 49mm (dao động:

15 mm đến 180 mm) Có 2 BN viêm phúc mạc với dịch mật khu trú ở dưới gan phải Ở 2 BN còn thấy có hình thành nang giả chứa dịch mật xanh và bùn mật ở vị trí hậu cung mạc nối, trong

đó 1 BN 2 tháng tuổi nang giả này chiếm gần toàn bộ ổ bụng Ở các BN còn lại đều thấy dịch mật tự do ổ bụng Giả mạc dưới gan phải và ở các quai ruột quan sát thấy ở 6 BN Ở 1 BN còn thấy có dấu hiệu viêm tụy (“vảy nến” ở mạc nối lớn gần tụy và phù nề đầu tụy) Vị trí hoại tử

Trang 4

thủng của nang ống mật chủ ở thành sau nang

trong 7 trường hợp (36,8%), thành trước -3 BN,

thành bên phải 5 BN, thành bên trái 4 BN; trong

đó có 3 BN chỗ hoại tử phía dưới gần sát chỗ đổ

vào của ống cổ túi mật, 3 BN chỗ thủng gần sát

ống gan chung, 2 BN chỗ hoại tử lên cả một

phần ống gan chung gần sát ngã 3 đường mật

Bảng 1: So sánh giữa các BN được mổ 1 thì và 2 thì

Biến so sánh Nhóm mổ 2 thì Nhóm mổ 1

thì

p

Tuổi 1,6±0,8 2,8±2,4 0,32

Giới 3 nữ / 1 nam 11 nữ/ 4 nam 1,0

Thời gian bị bệnh

cấp tính (ngày)

2,0±0,8 6,4±7,1 0,25 Kích thước của

nang (cm)

4,9±3,8 3,9±2,7 0,51 Thời gian nằm viện

sau mổ (ngày)

22,7±8,3* 8,2±3,8 <0,001

* Tổng thời gian nằm viện sau 2 lần mổ

Trước tháng 2/2008, chỉ có 1/5 ca (20%) được

mổ 1 thì nhưng sau đó cả 14/14 ca (100%) được

mổ 1 thì Không có khác biệt có ý nghĩa giữa 2

nhóm bệnh nhân được mổ 1 thì hoặc 2 thì về đặc

điểm bệnh nhân, thời gian bị bệnh, các biểu hiện

lâm sàng và kích thước của nang (Bảng 1) Thời

gian nằm viện trung bình sau mổ của nhóm

bệnh nhân được mổ 1 thì là 8,0±2,8 ngày, ngắn

hơn đáng kể so với tổng số ngày nằm viện sau 2

lần mổ của các bệnh nhân mổ 2 thì Không có

trường hợp nào bị rò miệng nối, không có tử

vong Tất cả các bệnh nhân được ra viện trong

tình trạng sức khỏe tốt Theo dõi sau khi ra viện

từ 1 tháng đến 5 năm, các bệnh nhân đều có sức

khỏe tốt, phát triển bình thường, không có bệnh

nhân nào có biến chứng viêm đường mật, hẹp

miệng nối hoặc các biến chứng khác

BÀN LUẬN

NOMCT khá hiếm gặp ở trẻ em Nguyên

nhân dẫn đến thủng NOMC còn chưa rõ nhưng

các giả thuyết đã được nêu lên là tăng áp suất

trong nang do tắc ống mật tụy chung bởi cặn

protid(1), tác dụng của dịch tụy trào ngược vào

NOMC phá hủy thành đường mật còn chưa

trưởng thành ở trẻ em(2) Các nghiên cứu trên thế

giới cho thấy tỷ lệ NOMCT ở trẻ em bị nang ống

mật chủ là từ 1,8% cho đến 12,2%(1-3) Nghiên cứu này của chúng tôi đã cho thấy tỷ lệ của NOMCT trên tổng số các BN bị nang ống mật chủ được điều trị tại BVNTW là 4,1% Theo tìm hiểu của chúng tôi, đây cũng là báo cáo loạt bệnh nhân NOMCT lớn nhất trong y văn cho đến thời điểm hiện tại

Nghiên cứu này cho thấy biểu hiện lâm sàng của NOMCT hay gặp nhất là đau, chướng bụng, nôn với các dấu hiệu nắn bụng đau và có cảm ứng phúc mạc Điều khác biệt với các triệu chứng của nang ống mật chủ đơn thuần theo chúng tôi là ở NOMCT thường có chướng bụng

do có viêm phúc mạc mật Khám BN có thể thấy dấu hiệu có dịch tự do ổ bụng Các xét nghiệm máu là không đặc hiệu nhưng có thể giúp bác sĩ lâm sàng định hướng chẩn đoán bệnh liên quan đến gan mật (bilirubin, men gan tăng nhẹ) Siêu

âm có thể giúp chẩn đoán NOMCT khi phát hiện ra hình ảnh nang ống mật chủ và dịch tự

do ổ bụng Tuy nhiên trong loạt BN của chúng tôi, có tới gần 1/3 các trường hợp siêu âm không phát hiện ra nang ống mật chủ: có 3 BN siêu âm chỉ chẩn đoán là có nang lớn ổ bụng không rõ nguồn gốc, thậm chí 1 BN được chẩn đoán là viêm ruột thừa Chụp CT ổ bụng có thể giúp chẩn đoán NOMCT chính xác hơn khi có hình ảnh nang ống mật chủ với dịch quanh nang Tuy vậy trong loạt bệnh nhân này có trường hợp ngay cả CT cũng chỉ cho chẩn đoán nang lớn ổ bụng không rõ nguồn gốc Trong nghiên cứu này, chọc dò ổ bụng cho thấy có dịch mật tự do

là dấu hiệu đặc hiệu của thủng đường mật Do

đó theo chúng tôi, kết hợp giữa lâm sàng, siêu

âm và chọc dò ổ bụng có thể cho kết quả chẩn đoán chính xác NOMCT ở đại đa số các trường hợp CT có thể hữu ích cho các trường hợp chẩn đoán phân biệt khó hơn Theo một vài tác giả, xạ

đồ gan mật cũng là phương tiện có giá trị trong chẩn đoán NOMCT(10)

Điều trị BN bị thủng đường mật với viêm phúc mạc mật là khó khăn và có nguy cơ biến chứng cao(4) Vì NOMCT là hiếm gặp nên các nghiên cứu tổng kết trên một vài ca bệnh khó

Trang 5

có thể tìm được câu trả lời thỏa đáng cho việc

lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu: mổ một

thì hay 2 thì Tất nhiên nếu mổ được 1 thì

thành công sẽ có lợi nhiều cho bệnh nhân: chỉ

mổ một lần, bệnh nhân không phải chịu đựng

dẫn lưu đường mật trong thời gian hàng

tháng, có thể rút ngắn tổng thời gian điều trị,

giảm chi phí Tuy vậy, khó khăn cho điều trị

một thì có thể thấy là tình trạng nặng, nhiễm

trùng của bệnh nhân, khó khăn trong cắt nang,

nguy cơ rò miệng nối cao nếu nối ống gan

chung với ruột ngay…(4,12) Nghiên cứu này của

chúng tôi trên số lượng khá lớn BN (19 BN) tại

một trung tâm đã cho thấy chỉ có 4 trường hợp

ở giai đoạn trước 2008 phải mổ 2 thì, còn lại 15

trường hợp NOMCT đã được điều trị bằng

phẫu thuật cắt nang và nối ống gan

chung-hỗng tràng Roux-en-Y cung với rửa và dẫn lưu

ổ bụng ngay trong một lần cho kết quả tốt

Không có bệnh nhân nào ở nhóm mổ 1 thì bị

rò miệng nối mật ruột sau mổ, điều mà nhiều

tác giả khác lo ngại Theo dõi sau khi ra viện từ

1 tháng đến 5 năm cũng cho thấy không có

biến chứng So sánh đặc điểm bệnh nhân, thời

gian bị bệnh, lâm sàng và kích thước nang

giữa 2 nhóm mổ 1 thì và mổ 2 thì không thấy

sự khác biệt Sự khác biệt ở đây là do phẫu

thuật viên khác nhau: các phẫu thuật viên có

kinh nghiệm mổ nang ống mật chủ nhiều hơn

có xu hướng mổ một thì hơn

Tóm lại, phẫu thuật 1 thì điều trị nang ống mật chủ hoại tử thủng với viêm phúc mạc mật

là khả thi, an toàn, cho kết quả tốt và nên là lựa chọn thường qui ở các trung tâm có nhiều kinh nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ando H, lto T, Watanabe Y, et al (1995) Spontaneous perforation of choledochal cyst J Am Coll Surg; 181: 125–128

2 Ando K, Miyano T, Kohno S, et al (1998) Spontaneous perforation of choledochal cyst: a study of 13 cases Eur J Pediatr Surg; 8: 23–25

3 Arda IS, Tuzun M, Aliefendioglu D, et al (2005) Spontaneous rupture of extrahepatic choledochal cyst: two pediatric cases and literature review Eur J Pediatr Surg;15(5):361-3

perforation of the biliary tract in infancy: a series of 11 cases Eur J Pediatr Surg; 6: 341–346

5 Karnak I, Tanyel FC, et al (1997) Spontaneous rupture of choledochal cyst: an unusual cause of acute abdomen in children J Pediatr Surg;32(5):736-8

peritonitis: a rare presentation of perforated choledochal cyst Indian Pediatr; 39:588–592

7 Moss RL, Musemeche CA (1997) Successful management of ruptured choledochal cyst by primary cyst excision and biliary reconstruction J Pediatr Surg; 32: 1490–1491

8 Sai Prasad TR, Chui CH, Low Y, et al (2006) Bile duct perforation in children: is it truly spontaneous? Ann Acad Med Singapore; 35(12):905-8

9 Seema, Sharma A, Seth A, et al (2000) Spontaneous rupture of choledochal cyst Indian J Pediatr; 67: 155–156

10 Treem WR, Hyams JS, et al (1991) Spontaneous rupture of a choledochal cyst: clues to diagnosis and etiology J Pediatr Gastroenterol Nutr; 13: 301–306

11 Ueno S, Hirakawa H, Yokoyama S, et al (2005) Emergent biliary drainage for choledochal cyst Tokai J Exp Clin Med; 30(1):1-6

12 Wagholikar GD, Chetri K, Yachha SK, et al (2004) Spontaneous perforation-a rare complication of choledochal cyst Indian J Gastroenterol;23(3):111-2

Ngày đăng: 22/01/2020, 20:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w