1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhận thức, thái độ và thói quen ăn uống liên quan đến mòn ngót răng do acid ở một nhóm người Việt Nam trưởng thành

5 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 274,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả mối liên quan giữa tình trạng mòn ngót răng với nhận thức, thái độ và thói quen ăn uống. Nghiên cứu tiến hành sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, được khám đánh giá tình trạng mòn ngót răng do acid bằng chỉ số basic erosive wear examination và được phỏng vấn để thu thập thông tin về nhận thức, thái độ và thói quen ăn uống có liên quan.

Trang 1

NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THÓI QUEN ĂN UỐNG LIÊN QUAN ĐẾN MÒN NGÓT RĂNG DO ACID

Ở MỘT NHÓM NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH

Trần Thu Thuỷ*, Trần Đức Thành*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả mối liên quan giữa tình trạng mòn ngót răng với nhận

thức, thái độ và thói quen ăn uống

Đối tượng và phương pháp: Sinh viên năm thứ nhất Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh được mời

tham gia nghiên cứu Sinh viên được khám đánh giá tình trạng mòn ngót răng do acid bằng chỉ số Basic erosive Wear Examination (BEWE) và được phỏng vấn để thu thập thông tin về nhận thức, thái độ và thói quen ăn uống

có liên quan

Kết quả: 69,6% (n=276) có dấu hiệu của mòn ngót răng 16,3% sinh viên có tổn thương mòn ngót răng ở

mức độ BEWE 3 Tổng điểm BEWE khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi (<30, 30-35 và >35 tuổi) (Kruskal Wallis, p<0,001) Ghi nhận mòn ngót răng liên quan đến tuổi (Chi-Square, p<0.001) Không có sự khác biệt cả về tỷ lệ và mức độ trầm trọng giữa nam và nữ Một nửa người có BEWE 2 (49,4%) và BEWE 3 (44,4%) không hề nhận biết về tình trạng mòn ngót răng của họ Không có sự kết hợp có ý nghĩa nào giữa điểm số BEWE với cả nhận thức và thái độ đối với mòn ngót ngót răng 75,8% sinh viên có mòn ngót răng ở mức độ BEWE ≥2 lựa chọn cách xử trí không đúng với tình trạng mòn ngót răng Người có tình trạng mòn ngót nhẹ uống nước giải khát và ăn vặt nhiều hơn đáng kể so với những người không bị mòn ngót răng (Chi-Square, p<0,001) Các loại thức uống và thức ăn có tiềm năng gây mòn ngót được tiêu thụ khá phổ biến: 78,3% uống nước trái cây có tính acid, 74,6% ăn các loại thức ăn có tính acid, 55,0% uống nước giải khát

Kết luận: mòn ngót răng là tình trạng đáng quan ngại ở mẫu nghiên cứu trong khi đa số lại không nhận

thức được vấn đề Các loại thức ăn và nước uống có tiềm năng gây mòn ngót được sử dụng khá phổ biến vì thế cần cung cấp thông tin và cảnh báo cộng đồng để giảm thiểu tác động không mong muốn này

Từ khoá: Mòn ngót răng, nhận thức, thái độ, thói quen ăn uống

ABSTRACT

AWARENESS, ATTITIDES AND DIET RELATED DENTAL EROSION AMONG

A GROUP OF VIETNAMESE ADULTS

Tran Thu Thuy, Tran Duc Thanh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 181 - 185

Objectives: This study was to describe the prevalence of dental erosion and its association with awareness,

attitudes and dietary habits in a group of Vietnamese adults

Method: First-year students of the Ho Chi Minh University of Medicine and Pharmacy were invited to

participate Students were examined for dental erosion using the Basic erosive Wear Examination (BEWE) and interviewed about their awareness, attitudes and dietary habits related to dental erosion

Results: Of the subjects 69.6% (n=276) showed signs of dental erosion Severe erosion (BEWE 3) was found

in 16.3% subjects The total BEWE scores were significantly different between age groups (<30, 30-35, >35 year

* Bộ môn NKCC - Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: TS Trần Thu Thủy ĐT: 0913115959 Email: tranthuthuyrhm@yahoo.com

Trang 2

old) (Kruskal Wallis, p<0.001) Dental erosion was associated with age (Chi-Square, p<0.001) There was no significant differences in both prevalence and severity between gender Half of subjects having BEWE 2 (49,4%) and BEWE 3 (44,4%) had not perceived dental erosion There was no significant association between BEWE score and both perception and attitude toward dental erosion 75.8% subjects with BEWE ≥2 selected incorrect methods for erosive status Compared to subjects with no erosion, those with mild erosion had a significantly higher consumption of soft drinks and snacks (Chi-Square, p<0.001) Consumption of drinks and foods with an erosive potential were frequent (78.3% consumed acidic fruit juices, 74.6% consumed acidic foods, 55.0% consumed soft drinks)

Conclusion: The results suggested that erosive dental wear is of concern for this studied population There

should be increased awareness of erosive dietary foods as the consumption of acidic foods and drinks are very popular

Key words: Dental erosion, Awarness, Attitude, Dietary habit

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mòn ngót răng (dental erosion) là tình trạng

mô răng bị ăn mòn bề mặt do acid hay chất

chelat mà không phải do sâu răng Acid hay chất

gây mòn ngót răng có thể có nguồn gốc từ trong

các loại thực phẩm, thức uống được ăn uống vào

hay từ chính acid nội sinh bên trong cơ thể Trên

thế giới trước đây tình trạng mòn ngót răng ít

được quan tâm cả trong thực hành nha khoa lâm

sàng lẫn lãnh vực sức khoẻ răng miệng cộng

đồng Ngay cả ở những nước đã phát triển mòn

ngót răng hiếm khi được nhận diện và chẩn

đoán, đặc biệt ở giai đoạn khởi phát, can thiệp ít

được thực hiện ở giai đoạn sớm(9) Kiến thức về

mối nguy hại của mòn ngót răng chưa phổ biến

rộng rãi Nhưng do lối sống thay đổi, các loại

thức uống và thực phẩm chứa acid đa dạng hơn

trên thị trường và được tiêu thụ nhiều hơn

Đồng thời một số hoạt động, tình trạng hoặc

bệnh lý làm giảm khả năng bảo vệ răng tự nhiên

của cơ thể (do giảm tiết nước bọt hoặc thay đổi

chất lượng nước bọt) như các hoạt động thể thao

gắng sức hay sử dụng thuốc hàng ngày ở những

người mắc các bệnh mạn tính như cao huyết áp,

đái tháo đường, bệnh tim mạch… Việc tăng tiêu

thụ các thực phẩm có khả năng gây mòn ngót

răng và có thể kết hợp với các tình trạng làm

giảm khả năng bảo vệ tự nhiên của cơ thể đã làm

cho tình trạng hư hại răng do mòn ngót mòn

hưởng chất lượng lượng cuộc sống Vì thế ở các nước đã phát triển, mòn ngót răng đã trở thành một loại tổn thương răng đáng quan tâm, là thách thức đối với các nhà lâm sàng vì khi đã tiến triển nặng việc điều trị phục hồi thường phức tạp và rất tốn kém

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, lối sống của người Việt nam cũng đang dần thay đổi với việc các loại nước giải khát và thực phẩm chế biến sẵn có tiềm năng gây mòn ngót răng ngày càng phổ biến trên thị trường Theo thống

kê của Tổ chức Sức khoẻ thế giới năm 2011 Việt Nam ở trong nhóm nước có tỷ lệ tiêu thụ chất có cồn/người/năm tăng cao Năm 2012 có tổng số 3

tỷ lít bia được tiêu thụ ở nước ta, trung bình 32 lít một người Tuy nhiên cho đến nay dường như vấn đề này vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của giới chuyên môn, cả về mặt lâm sàng cũng như phương diện sức khoẻ cộng đồng Chưa có số liệu báo cáo chính thức nào về tình trạng mòn ngót răng và các yếu tố có liên quan Liệu đây có phải là vấn đề sức khoẻ răng miệng cộng đồng thực sự đáng quan tâm? Nghiên cứu thực hiện để khảo sát tỷ lệ mòn ngót răng do acid và mối liên quan với nhận thức, thái độ và thói quen ăn uống thực phẩm có tiềm năng gây mòn ngót ở một nhóm người Việt Nam trưởng thành

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Trang 3

nghiên cứu đã được Hội đồng Y đức của Đại

Học Y Dược Tp.HCM thông qua Sinh viên liên

thông năm thứ nhất (năm học 2013-1014) được

mời tham gia nghiên cứu Người đồng ý tham

gia nghiên cứu được phỏng vấn và khám đánh

giá tình trạng sức khỏe răng miệng (WHO, 1997)

và tình trạng mòn ngót răng do acid (dental

erosion) Nhóm khám gồm 3 giảng viên bộ môn

Nha khoa công cộng đã được tập huấn

Tiêu chuẩn chọn vào: người tham gia được

hỏi xem họ có cảm thấy răng của họ có biểu hiện

thay đổi gì về màu sắc (bị vàng đi, bóng láng

hơn) hay thực thể (mẻ bờ, sắc cạnh, có vết nứt, ê

buốt) Nếu trả lời có ít nhất một ý thì sẽ chọn vào

mẫu và tiếp tục phỏng vấn để thu thập thông tin

cần thiết Nếu trả lời không thì dừng phỏng vấn

và loại trừ ra khỏi nghiên cứu này

Phỏng vấn sử dụng bảng câu hỏi của Chu(3)

có điều chỉnh cho phù hợp Bảng phỏng vấn

gồm 13 câu hỏi về cảm nhận và hiểu biết về mòn

răng do acid, thái độ đối với mòn răng do acid

và thói quen ăn uống các thực phẩm có tiềm

năng gây mòn ngót răng Về cảm nhận và hiểu

biết, người tham gia được hỏi liệu họ có từng

nghe nói về “mòn ngót răng” chưa, có biết dấu

chứng nào là mòn ngót răng không, có lo ngại

không khi có dấu chứng của mòn ngót răng Về

thái độ người tham gia được hỏi về cách họ đã

thực hiện hoặc sẽ lựa chọn khi bị mòn ngót răng

Về chế độ ăn, hỏi về thói quen ăn uống, ăn vặt,

ăn hay uống những loại thức ăn và thức uống có

tiềm năng gây mòn ngót răng

Khám lâm sàng được thực hiện trên ghế nha

khoa dưới ánh sáng đèn, có lau khô khi cần thiết

Tình trạng mòn ngót răng được đánh giá bằng

chỉ số Basic Erosive Wear Examination (BEWE)(1)

và chụp ảnh lâm sàng Chỉ số BEWE gồm các

mức độ: 0- Không có mòn răng, 1- Bắt đầu mất

kết cấu bề mặt men, 2- Tổn thương dễ dàng

nhận thấy và liên quan dưới 50% diện tích bề

mặt, 3- Mô cứng mất trên 50% diện tích bề mặt

Xử lý số liệu: Số liệu thu thập được nhập bằng phần mềm Epi Data 3.1 và xử lý thống kê với phần mềm Stata 10

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Có tổng số 276 sinh viên năm thứ nhất hệ liên thông (178 nữ, 98 nam) đồng ý tham gia khám và cung cấp đầy đủ thông tin thoả mãn điều kiện của bảng phỏng vấn Tiếp theo khảo sát đầu tiên mô tả tỷ lệ và mức độ mòn ngót răng, chúng tôi phân tích các thông tin về nhận thức và thái độ của người tham gia nghiên cứu về vấn đề mòn ngót răng do acid Đồng thời thông tin về thói quen ăn uống các loại thực phẩm có tiềm năng gây mòn ngót răng cũng được thu thập và phân tích

Mòn ngót răng khá phổ biến trong mẫu nghiên cứu với 69,6% có biểu hiện mòn ngót răng, trong đó 16,3% ở mức độ nặng (BEWE 3) Mòn ngót răng ở sinh viên Malaysia cũng tương tự với tỷ lệ 68%(10) Tỷ lệ mòn ngót răng theo các báo cáo khá dao động từ 4-100% ở người trưởng thành(7) Việc tỷ lệ khá tương đồng giữa hai nhóm sinh viên Việt Nam và Malaysia có thể suy đoán một phần do cùng nằm trong vùng Đông Nam Á nên khá tương đồng về khí hậu và điều này có thể có tác động đến dạng thực phẩm và thói quen ăn uống Tương tự, cũng không có sự khác biệt

về tỷ lệ và mức độ mòn ngót răng giữa nam và

nữ, ở cả sinh viên Việt Nam và số liệu từ sinh viên Malaysia(10)

Tổng điểm BEWE khác nhau có ý nghĩa giữa các nhóm tuổi (<30, 30-35, >35)(Kruskal Wallis, p<0,001) (Bảng 1) Mức độ mòn ngót răng có liên kết với tuổi (Chi-Square, p<0,001)

Tỷ lệ và mức độ mòn ngót răng cao hơn ở người lớn tuổi hơn đã được ghi nhận trong các báo cáo(4,5,13) Sự gia tăng theo tuổi này hoàn toàn phù hợp với bản chất và căn nguyên của hiện tượng mòn ngót răng

Trang 4

Bảng 1: Điểm số BEWE theo nhóm tuổi

Nhóm n Điểm BEWE

(TB ± ĐLC)

Phép kiểm Kruskal Wallis

p = 0,0006

Về nhận thức, 48,9% trả lời không nghe nói

hay biết gì về “mòn ngót răng” Trong tổng số

những người đã bị mòn ngót răng (BEWE ≥ 1)

43,2% không nhận thức được tình trạng của

mình, cũng giống như nhóm không bị mòn ngót

Một nửa nhóm đã có mòn ngót ở mức độ BEWE

2 (49,4%) và BEWE 3 (44,4%), tức là mòn ngót

thường đã tiến triển vào ngà răng, chưa từng

nghe nói hay biết về “mòn ngót răng” Trong số

các dấu hiệu biểu hiện mòn ngót răng, các thay

đổi thực thể (răng có bờ mỏng, răng có vết nứt)

dễ nhận biết hơn so với các thay đổi khác (răng

đổi màu vàng, răng bóng láng hơn) (Chi-Square,

p<0,05) Trong một nghiên cứu về chế độ ăn

uống và kiến thức về mòn ngót răng ở Hong

Kong có 71% người trả lời chưa từng nghe qua

về “mòn ngót răng” dù họ đã nhận thức được

dấu chứng thay đổi trên răng của họ(3) Điều này

cho thấy giáo dục nha khoa là cần thiết để giúp

công chúng hiểu về “mòn ngót răng” và tác

động nguy hại của mòn ngót răng tới sức khoẻ

răng miệng

Không thấy có sự kết hợp có ý nghĩa giữa

điểm số BEWE và nhận thức cũng như thái độ

đối với mòn ngót răng Về thái độ xử trí đối với

tình trạng mòn ngót răng, 75,8% người có tổn

thương ở mức độ BEWE 2 trở lên đã lựa chọn

không đúng cách xử trí (chải răng ngay sau khi

ăn, chải răng mạnh hơn, chải răng thường

xuyên hơn và dùng chanh lát chà lên răng)

Việc không hề biết tới răng có thể bị mòn ngòn

răng do acid, không nhận thức được tình trạng

mòn ngót răng đang hiện có và tiếp đến là

không biết cách xử trí là vấn đề đáng quan

ngại Từ chuỗi tác động liên hoàn này người bị

mòn ngót răng sẽ chỉ tìm kiếm chăm sóc

Thói quen ăn hay uống các loại thực phẩm có tiềm năng gây mòn ngót răng khá phổ biến (Biểu

đồ 1) Không thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thói quen ăn uống và điểm số BEWE So với nhóm không có biểu hiện mòn ngót thì nhóm bị mòn ngót ở mức độ nhẹ có tần suất uống nước giải khát (nước ngọt, nước có gaz) và ăn vặt cao hơn có ý nghĩa (Chi-square, p<0.001) Tỷ lệ nam uống rượu bia (69,4%) và nước giải khát (73,47%) cao hơn so với nữ (10,7% uống rượu bia, 44,9% uống nước giải khát); tuy nhiên không có khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ và mức độ mòn ngót giữa nam và nữ trong mẫu nghiên cứu này Rượu bia, nước giải khát là những loại thức uống có tiềm năng gây mòn ngót do độ pH của thức uống Theo các kết quả nghiên cứu phân tích các thức uống giải khát phổ biến ở các nước châu Âu và Mỹ đều có độ acid với pH thấp dưới 3,5 trong khi men răng sẽ bắt đầu bị hoà tan khi pH từ 5,5 trở xuống(2,8) Khảo sát một số thức uống giải khát trên thị trường thành phố Hồ Chí Minh cho thấy đều có

độ pH dưới 4,0(12) Lượng tiêu thụ các thức uống

có tiềm năng gây mòn ngót ở Việt Nam hiện gia tăng đáng chú ý Theo Eurowatch Việt Nam trở thành nước tiêu thụ bia nhiều nhất Đông Nam

Á, thứ 3 châu Á, nằm trong nhóm 25 nước hàng đầu thế giới Năm 2013 số lượng tiêu thụ bia tăng gấp 4 lần so với năm 2004 Ở sinh viên và người trẻ tuổi, khảo sát gần đây cho thấy 25,5% uống rượu bia trên 3 lần/tuần(6)

Biểu đồ 1: Thói quen ăn uống *Thực phẩm vị chua:

Nước cam vắt, nước ép bưởi/thơm, nước chanh, nước

Trang 5

canh chua/lẩu chua, gỏi chua, nước chấm pha

dấm/chanh Nước ngọt, nước có gaz:

Pepsi/Cola/Sprite, Fanta orange, nước vị trái cây có

gaz, nước tăng lực, nước thể thao (sport drink), nước

trái cây lên men Rượu bia: các loại bia, rượu đế, rượu

vang, rượu mạnh

Về thói quen khám răng, không thấy có sự

khác biệt về số lần đi khám răng trong một năm

giữa nhóm có và không có biểu hiện mòn ngót

răng cũng như giữa nhóm không có mòn ngót

răng và nhóm có mòn ngót răng tiến triển vào

ngà răng (BEWE 2, BEWE 3) Trong số người có

mòn ngót răng mức độ BEWE 3 có 71,1 % trả lời

họ có đi khám răng ít nhất 1 lần trong 1 năm

trong khi có tới 44,4% trả lời chưa hề nghe nói về

“mòn ngót răng” Kết quả một lần nữa cho thấy

sự thiếu thông tin và hiểu biết trong quần thể

nghiên cứu về “mòn ngót răng” Đặc biệt mẫu

nghiên cứu đều là nhân viên y tế, những người

đã tốt nghiệp một chương trình đào tạo y dược

bậc đại học Đồng thời cũng đáng quan ngại về

việc bệnh nhân đến phòng khám có tình trạng

mòn ngót răng nhưng đã bị bỏ qua, hoặc là

người khám đã không nhận diện và chẩn đoán

được hoặc là đã không quan tâm đến tình trạng

mòn ngót răng của bệnh nhân dù tổn thương đã

rất rõ để nhận biết

KẾT LUẬN

Các kết quả bước đầu cho mòn ngót răng

không phải là tình trạng hiếm gặp ở mẫu nghiên

cứu, có nguy cơ ảnh hưởng sức khoẻ răng

miệng Ghi nhận tình trạng mòn ngót răng do

acid ở 69% cá thể trong nhóm khảo sát cho thấy

đây là một tình trạng khá phổ biến trong mẫu

khảo sát và không có sự khác biệt về giới Đa số

không có nhận thức về nguy cơ mòn ngót răng

trong khi thói quen tiêu thụ các loại thực phẩm

có tiềm năng mòn ngót răng lại rất phổ biến Do

vậy cần có giáo dục nha khoa giúp cho công

chúng hiểu về “mòn ngót răng” và làm sao giảm

thiểu những tác hại

Đây chỉ là một nghiên cứu khảo sát bước đầu, cần có các nghiên cứu tiếp tục trên trên nhiều phương diện trong lãnh vực này Đồng thời hy vọng các số liệu ban đầu này sẽ tạo được

sự quan tâm của giới chuyên môn, hướng tới duy trì và gia tăng sức khoẻ răng miệng cho cộng đồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bardlett D, Ganss C, Lussi A (2008) Basic erosive wear examination (BEWE): a new scoring system for scientific and

clinical needs Clin Oral Invest, 12(Suppl 1): S65–S68

2 Borjian A, Ferrari CC, Anouf A, Touyz LZ (2010) Pop-cola acids and tooth erosion: an in vitro, in vivo, electron-microscopic, and clinical report Int J Dent, 2010: 957842

3 Chu CH, Pang KK, Lo EC (2010) Dietary behavior and

knowledge of dental erosion among Chineses adults BMC Oral

Health, Jun 3: 10-13

4 Donachie MA, Walls AWG (1995) Assessment of tooth wear in

an ageing population J Dent , 23: 157–164

5 Ekfeld A (1989) Incisal and occlusal tooth wear and wear of some prosthodontic materials: an epidemio- 
 logical and clinical study Swed Dent J, Suppl 65: 1–62

6 Huỳnh Văn Sơn (2014) Mức độ nghiện rượu bia ở nam sinh viên và người trưởng thành trẻ tuổi tại Tp.HCM hiện nay Tại chí Khoa học ĐHSP TPHCM 2014, 5: 173-183

7 Jaeggi T, Lussi A (2014) Prevalence, incidence and distribution

of erosion In: Lussi A Erosive Tooth Wear, Monogr Oral Sci, vol 25,

55-73 Karger, Basel

8 Lussi A and Jaeggi T (2006) Chemical factors In: Lussi A Dental Erosion, Monogr Oral Sci., vol 20, 77–87 Karger, Basel

9 Lussi A (2014) Erosive Tooth Wear – A Multifactorial Condition

of Growing Concern and Increasing Knowledge In: Lussi A

Erosive tooth wear, Monogr Oral Sci., vol 25, 1–8 Karger, Basel

10 Manaf ZA et al (2012) Relationship between food habits and tooth erosion occurrence in Malaysian University students

Malays J Med Sci, Apr 19(2): 56-66

11 Mulic A (2012) On dental erosive wear among different groups

in Norway Doctoral thesis, 10-13 The Faculty of Dentistry, University of Oslo, Norway

12 Nguyễn Võ Ngọc Trang, Lê Đức Lánh, Siriruk Nakomchai (2013) Nồng độ Fluor và tính acit của nước giải khát tại thành

phố Hồ Chí Minh 2012 Y học thành phố Hồ Chí Minh, 17(2): 9-14

13 Smith BG, Robb ND (1996) The prevalence of tooth wear in

1,007 dental patients J Oral Rehabil, 23: 232–239

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 02/03/2015

Ngày đăng: 22/01/2020, 20:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w