1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Yếu tố tác động ý định lau mát hạ sốt cho trẻ của điều dưỡng nhi theo mô hình học thuyết hành vi hoạch định

6 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 258,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết với nội dung nhằm hướng dẫn thực hành xử trí sốt đã được phổ biến và không ủng hộ việc dùng thuốc hạ sốt thường xuyên hoặc lau mát bằng nước ấm. Tuy nhiên, điều dưỡng nhi ở các nước, kể cả Việt Nam, thường rất quan tâm vấn đề trẻ sốt và xử trí sốt của họ không phải lúc nào cũng dựa trên khoa học chứng cứ.

Trang 1

YẾU TỐ TÁC ĐỘNG Ý ĐỊNH LAU MÁT HẠ SỐT CHO TRẺ

CỦA ĐIỀU DƯỠNG NHI THEO MÔ HÌNH HỌC THUYẾT HÀNH VI

HOẠCH ĐỊNH

Trần Thụy Khánh Linh*, Đoàn Thị Kim Thoa*, Anne Walsh**, Helen Edwards**

TÓM TẮT

Đại cương: Tài liệu hướng dẫn thực hành xử trí sốt đã được phổ biến và không ủng hộ việc dùng thuốc hạ

sốt thường xuyên hoặc lau mát bằng nước ấm Tuy nhiên, điều dưỡng nhi ở các nước, kể cả Việt Nam, thường rất quan tâm vấn đề trẻ sốt và xử trí sốt của họ không phải lúc nào cũng dựa trên khoa học chứng cứ

Mục tiêu: Áp dụng học thuyết hành vi hoạch định để xác định các yếu tố tác động đến ý định thực hiện lau

mát bằng nước ấm của điều dưỡng nhi

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại 4 khoa nội của các bệnh viện nhi thành phố Hồ Chí

Minh Phương pháp lấy mẫu thuận tiện trên 240 điều dưỡng nhi có chăm sóc trẻ sốt Bảng câu hỏi khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lau mát bằng nước ấm cho trẻ sốt Các yếu tố bao gồm: thái độ, tác nhân xã hội, khả năng tự kiểm soát hành vi, hành vi quá khứ và thông tin dịch tễ học

Kết quả: Mô hình xác định rằng điều dưỡng có khả năng kiểm soát hành vi cao, đã từng lau mát nước ấm hạ

sốt thì ý định thực hiện của họ cao (mô hình giải thích 80% phương sai ý định) Hành vi quá khứ giải thích thêm 3% phương sai ý định của điều dưỡng Thái độ và tác nhân xã hội không có ý nghĩa thống kê giải thích ý định hành vi của điều dưỡng

Kết luận: Việc xác định các yếu tố tác động đến ý định lau mát bằng nước ấm cho trẻ sốt của điều dưỡng

theo mô hình học thuyết hành vi hoạch định đưa ra thông tin quan trọng để phát triển chiến lược nâng cao thực hành xử trí trẻ sốt dựa trên khoa học chứng cứ của điều dưỡng Việt Nam Can thiệp nên chú trọng đến việc điều chỉnh tóm tắt các quy trình kỹ thuật dựa trên khoa học chứng cứ cho điều dưỡng, phổ biến các quy trình này và nâng cao kỹ năng truy cứu thông tin của điều dưỡng để họ cập nhật kiến thức và tự tin kiểm soát được các quyết định trong chăm sóc bệnh nhi.

Từ khóa: trẻ, xử trí sốt, điều dưỡng nhi, lau mát nước ấm, học thuyết hành vi hoạch định

ABSTRACT

IDENTIFYING FACTORS INFLUENCING NURSES’ INTENTION TO TEPID SPONGE BY USING THE

THEORY OF PLANNED BEHAVIOUR

Tran Thuy Khanh Linh, Doan Thi Kim Thoa, Anne Walsh, Helen Edwards

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 4- 2014: 87 – 92

Background: Evidence-based guidelines regarding fever management have been published and they do not

support regular antipyretic or tepid sponging However, nurses are concerned about the child’s fever and their fever management is not always based on the latest scientific evidence in many countries including Vietnam

Objectives: Using the theory of planned behaviour to identify factors influencing Vietnamese nurses’

intention to reduce the child’s fever by tepid sponging

Methods: Across-sectional study was conducted at four medical wards of two children’s hospitals in Ho Chi

Trang 2

Minh City The study sample comprised a convenience sample of 240 nurses who care for febrile children The questionnaire assessed factors influencing nurses’ intention to tepid sponge febrile children including attitude, subjective norm, perceived behavioural control, past behaviour and additional demographic information

Results: Predictive modelling of intentions showed that nurses who had control over and had previously

tepid sponged had stronger intentions to do so (80% of the variance was explained) Past behaviour predicted further 3% of variance in nurses intention to tepid sponge Attitude and subjective norms did not significantly predict nurses’ intention

Conclusions: Identification of predictors of intentions to tepid sponge febrile children by using the theory of

planned behaviour provides important information for developing strategies to improve Vietnamese nurses’ fever management practices based on latest scientific evidence Strategic interventions should focus on modifying and summarising evidence-based guidelines for the nurses, publishing these summarised guidelines and increasing nurses access to evidence-based practices so that they can update their knowledge and indeed have control over their decisions when caring for patients

Key words: child, fever management, paediatric nurse, tepid sponge, theory of planned behavior

ĐẠI CƯƠNG

Sốt là một triệu chứng thường gặp ở trẻ em

trong thời kỳ từ 6 tháng đến 5 tuổi Trong thời kỳ

này trẻ dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn thông thường

vì không còn nhận được miễn dịch từ mẹ truyền

sang (sau 6 tháng) đến khi hệ miễn dịch phát

triển hoàn chỉnh (bước qua tuổi thứ 6) Sốt

thường liên quan đến các bệnh nhiễm khuẩn và

là một trong những nguyên nhân làm cho cha

mẹ đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế(9) Mặc dù

sốt là một phản ứng có lợi của cơ thể chống lại

tác nhân gây bệnh(5) và nhiều tài liệu đã chứng

minh rằng trẻ không được hạ sốt thường xuyên

sẽ nhanh khỏi bệnh và ít có nguy cơ dị ứng khi

lớn(19) Tuy nhiên, nhiệt độ sốt thường là mối

quan tâm của điều dưỡng khi họ tin rằng cần

phải hạ sốt để ngăn ngừa tác hại của sốt như là

co giật và tổn thương não(16,15) Thực hành xử trí

sốt của điều dưỡng đã không dựa trên chứng cứ

tại nhiều nơi trên thế giới kể cả Việt Nam Lau

mát bằng nước ấm là thực hành xử trí sốt của

điều dưỡng không được khuyến khích trong các

y văn khoa học chứng cứ(13,17) Tài liệu hướng dẫn

rằng lau mát bằng nước ấm tác dụng rất ít để hạ

sốt và có thể gây tác dụng ngược lại làm cho trẻ

khóc, giẫy giụa và rét run(12) Khi lau mát mà trẻ

quấy khóc sẽ tăng hoạt động cơ thể khiến nhiệt

độ tăng thêm Thực hành chăm sóc cần thiết cho

trẻ lúc sốt là để trẻ thoáng mát, cung cấp đủ dịch

và tạo sự thoải mái cho trẻ

Tại Việt Nam, kiến thức của điều dưỡng về

xử trí trẻ sốt không cao (45,7% có kiến thức đúng)(10) và có ý kiến rằng điều dưỡng nhận thông tin trái chiều về cách xử trí sốt cho trẻ(15) Điều dưỡng chia sẻ khi tham dự hội thảo do các điều dưỡng Úc hướng dẫn và được biết lau mát bằng nước ấm để hạ sốt là không cần thiết Tuy nhiên khi làm việc tại bệnh viện, điều dưỡng vẫn thực hiện lau mát hạ sốt vì họ cho rằng không có y văn nào trong bệnh viện chỉ rõ điều này và điều dưỡng cần thực hành chăm sóc theo quy định của bệnh viện(15) Nghiên cứu này áp dụng học thuyết hành vi hoạch định (Sơ đồ 1) để xác định các yếu tố tác động đến hành vi lau mát của điều dưỡng để hiểu rõ nhu cầu và động cơ của họ từ đó xây dựng chiến lược chương trình can thiệp phù hợp Theo Ajzen, ý định thực hiện hành vi chịu tác động bởi thái độ tích cực hoặc tiêu cực, tác nhân ủng hộ hoặc phản đối và khả năng tự kiểm soát hành vi bản thân(1) Ngoài

ba yếu tố tác động này, một số nghiên cứu xác định rằng hành vi của một người đều có lý do

và hành vi trong quá khứ cũng góp phần quan trọng tác động ý định thực hiện hành vi hiện tại(3,4)

Trang 3

Sơ đồ 1: Mô hình xác định yếu tố tác động đến ý định lau mát nước ấm hạ sốt của điều dưỡng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang, phương pháp lấy

mẫu thuận tiện tại các khoa nội của hai bệnh

viện nhi đồng, thành phố Hồ Chí Minh, có 240

điều dưỡng thỏa tiêu chí chọn mẫu đã tham

gia nghiên cứu Tiêu chuẩn lựa chọn đối

tượng nghiên cứu là điều dưỡng đã từng hoặc

đang chăm sóc trẻ sốt trong độ tuổi từ 6 tháng

đến 5 tuổi

Công cụ nghiên cứu

Để đo lường các yếu tố trong học thuyết

hành vi hoạch định, các câu hỏi được xây dựng

dựa trên hướng dẫn của Ajzen Điều dưỡng trả

lời mỗi câu hỏi trên thang đo Likert 7 điểm

Thái độ được đo lường bởi 4 cặp tính từ đối

nghịch:“tốt – xấu”, “mong muốn – không mong

muốn”, “có lợi – có hại” và “quan trọng – không

quan trọng”

Tác nhân ảnh hưởng được xác định qua 2

câu hỏi:“Những người quan trọng với tôi/ Những

người tôi tôn trọng ý kiến đều tán thành việc tôi

lau mát bệnh nhi khi nhiệt độ trẻ ≥ 38.5°C”

Khả năng tự kiểm soát bản thân được đo

lường bởi 2 câu hỏi: “Trong tuần tới, tôi tự tin

rằng tôi có thể/ tôi hoàn toàn kiểm soát được việc lau

mát cho bệnh nhi khi nhiệt độ trẻ ≥ 38.5°C”

Hành vi quá khứ được xác định qua câu hỏi:

“Trong 4 tuần qua, tôi thường lau mát cho bệnh nhi khi nhiệt độ trẻ ≥ 38,5°C”

Ý định được đo lường bởi 3 câu hỏi: “Trong tuần tới, tôi có ý định/ dự kiến/ mong là sẽ lau mát

cho bệnh nhi khi nhiệt độ trẻ ≥ 38,5°C”

Ngoài ra, bộ công cụ có những câu hỏi về kiến thức của điều dưỡng về sinh lý trẻ sốt và cách xử trí sốt Thông tin dịch tễ như là tuổi, trình độ chuyên môn và kinh nghiệm chăm sóc trẻ cũng được xác định Bộ câu hỏi được đánh giá tính giá trị nội dung bởi 5 chuyên gia trong lĩnh vực điều dưỡng nhi và thiết kế công cụ theo học thuyết hành vi Sau đó được thử nghiệm trên 5 điều dưỡng theo tiêu chuẩn chọn mẫu Các điều dưỡng này sẽ trả lời thử bộ câu hỏi và đưa ra ý kiến của họ về thời gian hoàn thành câu hỏi, từ ngữ sử dụng trong phần hướng dẫn, mức

độ dễ hiểu và cấu trúc của từng câu hỏi Sau khi được đánh giá và thử nghiệm, bộ công cụ được điều chỉnh và hoàn thiện để khảo sát chính thức trên 240 điều dưỡng

Đạo đức nghiên cứu

Hội đồng đạo đức của Đại học Công nghệ Queensland và Hội đồng khoa học Bệnh viện địa phương phê duyệt và chấp thuận nghiên cứu được tiến hành thu thập số liệu Các điều dưỡng

Khả năng tự kiểm soát

hành vi

Thái độ đối với hành vi

hạ sốt

Hành vi quá khứ

Trang 4

tham gia nghiên cứu được giải thích thông tin về

mục đích nghiên cứu và quy trình thu thập số

liệu Sự tham gia của họ là hoàn toàn tự nguyện

và danh tính không xác định Nội dung trả lời

của họ được giữ bảo mật, chỉ được xem qua và

phân tích bởi các nghiên cứu viên

Phân tích kết quả

Mô hình hồi quy tuyến tính bội thứ bậc

(hierarchical regression) được xây dựng với biến

số phụ thuộc là ý định thực hiện hành vi Trong

mô hình bậc 1, các biến số độc lập đưa vào kiểm

định là tuổi, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm

chăm sóc trẻ và kiến thức xử trí trẻ sốt của điều

dưỡng Mô hình bậc 2 gồm các biến số độc lập

như mô hình 1 và giá trị trung bình của các yếu

tố gồm thái độ, tác nhân ảnh hưởng và khả năng

tự kiểm soát bản thân trong học thuyết hành vi

hoạch định Mô hình bậc 3 có thêm biến số độc

lập là hành vi quá khứ Độ phù hợp của mô hình

được đánh giá qua giá trị R2 điều chỉnh (adjusted

R2) và sự đóng góp của từng biến độc lập đối với biến phụ thuộc được đánh giá qua hệ số hồi quy riêng phần β

KẾT QUẢ

Điều dưỡng tham gia nghiên cứu này trong

độ tuổi từ 21 đến 55 (Mean= 31,45, SD= 8,18) Đa

số là điều dưỡng trung học (92%), kinh nghiệm chăm sóc trẻ từ 1 tháng đến 34 năm (Mean= 8,46, SD= 7,77) Kiến thức của điều dưỡng được đánh giá qua 28 câu hỏi tổng hợp kiến thức về sốt, sốt cao co giật và xử trí sốt Kiến thức của điều dưỡng còn rất hạn chế, điểm kiến thức đúng trong khoảng 4 đến 17 (Mean= 10,46, SD= 2,70) Chi tiết kiến thức không trình bày trong bài viết này Bảng 1 trình bày giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số Cronbach’s alpha (nếu có), hệ số tương quan của các biến số phụ thuộc và từng biến độc lập, cũng như tương quan giữa các biến độc lập với nhau

Bảng 1: Giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số tương quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc (N=240)

*p<0,05, **p<0,01, *** p<0,001, 2 đuôi a Các biến không có giá trị trung bình, độ lệch chuẩn và hệ số Cronbach’s alpha b Điểm trung bình được tính theo tổng điểm 28 c Giá trị trung bình được tính theo thang Likert 7 điểm (1-7; điểm cao mức độ đồng ý cao, quan trọng hơn)

Ma trận hệ số tương quan thuận của các yếu

tố trong học thuyết hành vi hoạch định cho thấy

điều dưỡng có thái độ tích cực, được nhiều

người ủng hộ, khả năng tự kiểm soát hành vi cao

và từng lau mát thì ý định thực hiện lau mát hạ

sốt cho bệnh nhi cao Tuổi, trình độ chuyên môn

và kinh nghiệm tương quan nghịch với ý định

thực hiện hành vi nói lên rằng điều dưỡng trẻ, trình độ chuyên môn thấp và ít kinh nghiệm thì

ý định lau mát hạ sốt cao Hệ số tương quan của

2 biến độc lập, tuổi và kinh nghiệm, rất cao (0,89) thể hiện mối tương quan chặt chẽ có thể dẫn đến trạng thái đa cộng tuyến của 2 biến này Do vậy, tuổi được xem xét loại ra khỏi mô hình hồi quy

Trang 5

Trong mô hình 1, trình độ học vấn và kiến

thức có ý nghĩa thống kê giải thích 8% phương

sai của ý định lau mát hạ sốt Mô hình 2 có thêm

các biến số trong học thuyết hành vi hoạch định

giải thích thêm 68% phương sai ý định lau mát

của điều dưỡng Trong mô hình 2 này, khả năng

tự kiểm soát có ý nghĩa thông kê với hệ số β cao

(0,82) Mô hình 3 có thêm biến hành vi quá khứ

giải thích 80% phương sai của ý định (R2 điều chỉnh= 0,79) Điều này có nghĩa là mô hình 3 đã xây dựng phù hợp với tập dữ liệu ở mức 80% Trong mô hình cuối cùng này, khả năng tự kiểm soát (β= 0,74) và hành vi quá khứ (β= 0,24) có ý nghĩa thống kê giải thích ý định lau mát hạ sốt của điều dưỡng (Bảng 2)

Bảng 2: Hồi quy tuyến tính bội thứ bậc xác định yếu tố tác động đến ý định thực hiện lau mát nước ấm hạ sốt

của điểu dưỡng (N=240)

Lau mát nước ấm

*p<0,05, **p<0,01, *** p<0,001 CI= Confidence Interval (Khoảng tin cậy)

BÀN LUẬN

Học thuyết hành vi hoạch định đã được sử

dụng để tìm sự tác động của các yếu tố lên ý

định hành vi trong nhiều nghiên cứu Đây là

nghiên cứu đầu tiên áp dụng học thuyết này để

xác định yếu tố ảnh hưởng đến ý định hành vi

lau mát hạ sốt cho trẻ của điều dưỡng nhi Điều

dưỡng nào có khả năng kiểm soát cao hành vi

lau mát và từng lau mát hạ sốt cho trẻ thì ý định

lau mát hạ sốt của họ sẽ cao Các nghiên cứu

khác cũng đã tìm ra kết qua tương tự như là xét

mối ảnh hưởng của khả năng kiểm soát hành vi

lên ý định sử dụng bảng hướng dẫn kỹ thuật

lâm sàng(14) tổng hợp thực hành chứng cứ(7) và

nhiều hành vi sức khỏe khác(8) Hành vi lau mát

trong quá khứ của điều dưỡng tuy chỉ góp phần

giải thích thêm 3% ý định nhưng lại có ý nghĩa

thống kê nên việc bổ sung cấu trúc này vào mô hình cần được xem xét như một số tác giả đã từng đề nghị(7,2,11)

Thái độ và tác nhân ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê giải thích ý định vì điều dưỡng tin rằng họ đang theo đúng kỹ thuật và những người quan trọng đối với họ đều ủng hộ thực hành này Kết quả của nghiên cứu thể hiện phạm vi thực hành hạ sốt của điều dưỡng nhi tại Việt Nam Lau mát bằng nước ấm được xem là một kỹ thuật đúng để xử trí hạ sốt cho trẻ và có quy trình hướng dẫn thực hiện kỹ thuật trong các trường đào tạo điều dưỡng và bệnh viện nhi Tuy nhiên việc lau mát không được khuyến khích thực hiện trong các tài liệu chứng cứ khoa học gần đây(13,17,6) Lau mát chỉ có tác dụng hạ nhiệt ngoại biên, thân nhiệt trung tâm giảm

Trang 6

không đáng kể mà còn gây khó chịu cho trẻ như

quấy khóc, kích động làm tăng thân nhiệt(18) Mặt

khác, lau mát bằng nước ấm là một kỹ thuật khá

tốn thời gian trong khi điều dưỡng nhi rất tất bật

với các kỹ thuật chăm sóc quan trọng khác Điều

dưỡng thường hướng dẫn cha mẹ lau mát hạ sốt,

tuy nhiên việc theo dõi giám sát cha mẹ thực

hiện đúng kỹ thuật thì còn hạn chế khi có trường

hợp cha mẹ nghe chỉ dẫn “lau mát” nghĩ đến

dùng nước mát để lau khắp người trẻ Nếu điều

này xảy ra sẽ làm cho trẻ dễ bị nhiễm lạnh, co

mạch và thân nhiệt tăng Vì những lý do trên,

các hướng dẫn xử trí hạ sốt cho trẻ nên được

xem xét điều chỉnh theo chứng cứ khoa học để

đảm bảo chất lượng chăm sóc bệnh nhi

KIẾN NGHỊ

Học thuyết hoặc khung lý thuyết trong

nghiên cứu điều dưỡng là cơ sở giải thích mối

tương quan và sự tác động của các yếu tố với

nhau Học thuyết hành vi hoạch định có thể áp

dụng cho các nghiên cứu hành vi khác của điều

dưỡng Ý định lau mát nước ấm hạ sốt của điều

dưỡng tham gia nghiên cứu này rất cao và bị tác

động mạnh bởi khả năng kiểm soát hành vi có

nghĩa là điều dưỡng tự tin hành vi đang thực

hiện là đúng và không gây hại Tuy nhiên hành

vi lau mát này không được khuyến khích trong

các y văn khoa học thế giới Từ điều này cho

thấy việc cập nhật thông tin, truy cứu tài liệu và

bảng hướng dẫn lâm sàng đảm bảo công tác

chăm sóc bệnh nhân an toàn chất lượng là rất

cấp thiết Các trường đào tạo điều dưỡng và

bệnh viện cần phối hợp chặt chẽ với nhau để

xem xét điều chỉnh các bảng quy trình kỹ thuật

theo thực hành chứng cứ cho điều dưỡng Để

việc áp dụng thực hành chứng cứ tại các cơ sở y

tế và trong cộng đồng địa phương đạt hiệu quả,

cần thêm những nghiên cứu kiểm chứng thực

hành sao cho phù hợp với hệ thống y tế và điều

kiện văn hóa môi trường trong nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ajzen I, Attitudes, personality and behavior 2nd ed 2005, New

York: Open University Press

2 Ajzen I, Perceived behavioral control, self-efficacy, locus of control,

and the theory of planned behavior Journal of Applied Social

Psychology, 2002 32(4): p 665-683

3 Ajzen I, The theory of planned behavior Organizational behavior

and human decision processes, 1991 50(2): p 179-211

4 Bamberg S, Ajzen I, and Schmidt P, Choice of travel mode in the

theory of planned behavior: the roles of past behavior, habit, and reasoned action Basic and applied social psychology, 2003

25(3): p 175-187

5 Blatteis CM, Endotoxic fever: New concepts of its regulation

suggest new approaches to its management Pharmacology &

Therapeutics, 2006 111(1): p 194-223

6 Chiappini E et al, Update of the 2009 Italian pediatric society

guidelines about management of fever in children Clinical

Therapeutics, 2012 34(7): p 1648-1653.e3

7 Côté F et al, Using the Theory of Planned Behaviour to predict

nurses’ intention to integrate research evidence into clinical

decision-making Journal of Advanced Nursing, 2012 68(10): p

2289-2298

8 Godin, G and G Kok, The theory of planned behavior: a review of

its applications to health-related behaviors 1996

9 Hay AD et al., The prevalence of symptoms and consultations in

pre-school children in the Avon Longitudinal Study of Parents and Children (ALSPAC): a prospective cohort study Family Practice,

2005 22(4): p 367-374

10 Luong TV, Paediatric nurses' knowledge of fever management

2011, University of Medicine and Pharmacy: Ho Chi Minh

11 MacCallum RC and Austin JT, Applications of structural

equation modeling in psychological research Annual Review of

Psychology, 2000 51(1): p 201-226

12 Meremikwu M and Oyo-Ita A Physical methods versus drug

placebo or no treatment for managing fever in children Cochrane

Database of Systematic Reviews, 2009

13 NICE, Feverish illness in children 2013, London, UK: Royal

College of Obstetricians and Gynaecologists

14 Puffer S and Rashidian A, Practice nurses' intentions to use

clinical guidelines Journal of Advanced Nursing, 2004 47(5): p

500-509

15 Tran LTK, Walsh A, and Edwards H, An exploratory study of

Vietnamese nurses' practices caring for febrile children, in The 3rd Asian International Conference on Humanized Health Care 2011:

Hanoi Medical University, Hanoi, Vietnam

16 Walsh AM, Influences on paediatric nurses' management of fever in

children hospitalised for a febrile illness 2003, Queensland

University of Technology: Brisbane

17 Watts R, Robertson J, and Thomas G, Nursing management of

fever in children: a systematic review International Journal of

Nursing Practice, 2003 9(1): p S1-8

18 Watts R, Robertson J, and Thomas G, The nursing management

of fever in children: a systematic review The Joanna Briggs

Insitute, 2001 14

19 Williams LK et al, The relationship between early fever and allergic

sensitization at age 6 to 7 years Journal of Allergy and Clinical

Immunology, 2004 113(2): p 291-296

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/7/2014 Ngày bài báo được đăng: 20/08/2014

Ngày đăng: 22/01/2020, 20:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w