1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò giảm đau trong chuyển dạ đẻ bằng gây tê ngoài màng cứng phối hợp bupivacaine 0,1% và thuốc giảm đau

7 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 471,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài với mục tiêu nghiên cứu về vai trò giảm đau trong chuyển dạ đẻ bằng gây tê ngoài màng cứng phối hợp bupivacaine 0,1% và thuốc giảm đau. Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 102 sản phụ vào giai đoạn chuyển dạ hoạt động.

Trang 1

VAI TRÒ GIẢM ĐAU TRONG CHUYỂN DẠ ĐẺ BẰNG GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG PHỐI HỢP BUPIVACAINE 0,1% VÀ THUỐC GIẢM ĐAU

Nguyễn Văn Chinh*, Nguyễn Văn Chừng*

TÓM TẮT

Gây tê ngoài màng cứng với sự phối hợp thuốc tê Bupivacaine và thuốc giảm đau trung ương Fentanyl là phương pháp hữu hiệu dùng để giảm đau trong trong chuyển da Tuy nhiên, cũng như bất kỳ các thủ thuật can thiệp y khoa khác, phương pháp này còn tồn tại các tai biến, biến chứng và nhất là những bàn cải về vấn đề sử

dụng nồng độ thuốc sao cho thấp nhất, hợp lý nhất mà vẫn đạt được hiệu quả mong muốn

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng 102 sản phụ vào

giai đoạn chuyển dạ hoạt động và được chia làm 2 nhóm Nhóm 1, các sản phụ được gây tê ngoài màng cứng để giảm đau với Bupivacaine 0,1% và Fentanyl 1mcg/ml Nhóm 2, các sản phụ được gây tê ngoài màng cứng để giảm đau với Bupivacaine 0,125% và Fentanyl 1mcg/ml Tình trạng sức khỏe của thai nhi và sản phụ được theo dõi liên tục trước, trong và sau khi tiêm thuốc giảm đau

Kết quả: Các chỉ số đặc điểm chung, thông số về kỹ thuật và tai biến biến chứng không khác nhau giữa 2

nhóm nghiên cứu Chỉ số Apgar thời điểm 1 phút nhỏ hơn 7 (p< 0,05), chỉ số SpO 2 giảm có ý nghĩa (nhỏ hơn 90%) trong 20 phút đầu sau sanh (P= 0,001) ở cả 2 nhóm, sau đó dần trở về trị số bình thường Tỷ lệ trẻ sơ sinh tím da sau sanh trong 2 nhóm tăng có ý nghĩa

Kết luận: Giảm đau trong chuyển dạ bằng gây tê ngoài màng cứng với sự phối hợp Bupivacaine 0,1% và

Fentanyl 1mcg/ml an toàn và hiệu quả Để giảm bớt những bất lợi của phương pháp cần có sự phối hợp chặt chẻ với các nhà sản khoa, chọn lựa phương pháp tốt nhất trên cơ sở giục sanh đúng thời điểm, theo dõi sát nhịp tim thai và đặc biệt là can thiệp đúng lúc

Từ khóa: Giảm đau trong chuyển dạ, gây tê ngoài màng cứng, giảm đau ngoài màng cứng, trẻ sơ sinh, các

giai đoạn trong quá trình chuyển dạ, nhịp thở, nhịp tim thai

ABSTRACT

THE ROLE OF PAIN RELIEF IN LABOR BY THE COMBINED OF BUPIVACAINE 0.1% AND

FENTANYL IN EPIDURAL ANESTHESIA

Nguyen Van Chinh, Nguyen Van Chung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 397 - 403

Background: Epidural anesthesia by Bupivacaine and Fentanyl combined is an efficient way of the labor

analgesia but many still question the need for pain relief during labor and delivery This study is performed to look for the effects of epidural analgesia with Bupivacaine 0.1% and Fentanyl during labor and delivery

Methods: Prospective study, randomized controlled clinical trial 102 pregnant women in labor stages were

randomically divided into 2 groups The first group have undergone an epidural analgesia with Bupivacaine 0.1% and Fentanyl 1mcg/ml The second group have undergone an epidural analgesia with Bupivacaine 0.1% and Fentanyl 1mcg/ml Health status of the neonates and pregnants were monitored right before and after analgesic injection

Results: 2 group: Fetal heart rate decreased significantly within first 20 minutes after analgesic injection

Apgar score less than 7 at 1 minute (p< 0.05), SpO 2 decreased significantly (less than 90%) within first 20

* Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

minutes after delivered (P= 0.001) and returned gradually at the baseline level The proportion of purle skin appearance of neonates of 2 group increased significantly

Conclusions: Pain relief in labor by epidural anesthesia with Bupivacaine 0.1% and Fentanyl 1mcg/ml is

safe and effective To decrease the disadavantages of the epidural anesthesia in the labor, we must collaborate with the obstetricians about the best methods on the basis of performing the stimulation at the approriate time, monitoring of fetal heard rates and specially the intervention must be carried down at time

Keywords: Labor Analgesia, Epidural Anesthesia, Epidural Analgesia, Neonates, Labor Stages,

Resspiratory Rate, Fetal Heart Rate.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau đớn là cảm giác khó chịu đáp ứng lại

một sự tấn công từ bên ngoài hay bên trong cơ

thể có thể gây tổn thương trên mô Đau là vấn

đề ám ảnh bệnh nhân và thầy thuốc khi tiến

hành các bước điều trị Đau luôn được các thầy

thuốc quan tâm vì nó ảnh hưởng rất lớn đến tâm

sinh lý của bệnh nhân và nhất là phục hồi chức

năng các cơ quan Đau khi sanh hay đau trong

chuyển dạ cũng vậy, không phải hiển nhiên mà

dân gian ta có câu: “mang nặng, đẻ đau” Cơn

đau có thể làm cho cuộc chuyển dạ trở nên khó

khăn, phức tạp hơn, nhất là trong trường hợp

sản phụ có các bệnh lý kèm theo như tim mạch,

hô hấp, nội tiết và đã có không ít những phụ

nữ phải đánh đổi bằng chính tính mạng của

mình trong những lần “vượt cạn” để thực hiện

thiên chức lớn nhất của đời mình(4,10)

Áp dụng gây tê ngoài màng cứng

(GTNMC)để giảm đau chuyển dạ cũng đã có từ

hơn 50 năm về trước Năm 1956, Hingson đã có

những công trình có hệ thống đầu tiên về các

phương pháp giảm đau chuyển dạ Năm 1972,

Bonica đã viết “Principles And Practice Of

Obstetric Anesthesia And Analgesia”(2) Kể từ đó

các quan điểm về giảm đau trong chuyển dạ đã

được củng cố vững chắc dựa trên tác dụng của

thuốc tê và quá trình chuyển dạ Hiện nay,

phương pháp giảm đau trong chuyển dạ được

áp dụng rộng rãi nhất là GTNMC với sự phối

hợp giữa thuốc tê và thuốc giảm đau trung ương

vì đã cho thấy những ưu điểm, thuận lợi rõ rệt

như cải thiện chất lượng giảm đau, giảm bớt

được liều lượng sử dụng của cả hai nhóm thuốc,

giảm tai biến ngộ độc thuốc, duy trì nồng độ

thuốc ổn định, giảm tải công việc người làm

công tác sản khoa(1,5)… Tuy nhiên, cũng như bất

kỳ các thủ thuật can thiệp y khoa khác, phương pháp này còn tồn tại các tai biến, biến chứng và nhất là những bàn cải về vấn đề sử dụng nồng

độ thuốc sao cho thấp nhất, hợp lý nhất mà vẫn đạt được hiệu quả mong muốn Chính vì những

lý do đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài này nhằm đánh giá, so sánh các nồng độ thuốc hiện đang

sử dụng để chọn lựa sự phối hợp tốt hơn giữa thuốc tê và thuốc giảm đau trung ương dùng bằng đường ngoài màng cứng phổ biến hiện nay trong lĩnh vực giảm đau trong chuyển dạ

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá vai trò giảm đau trong chuyển dạ bằng GTNMC với sự phối hợp thuốc tê Bupivacaine 0,1% và thuốc giảm đau trung ương Xác định tỉ lệ các tai biến, biến chứng trên sản phụ và thai nhi của phương pháp giảm đau trong chuyển dạ bằng GTNMC với sự phối hợp thuốc tê Bupivacaine 0,1% và thuốc giảm đau trung ương

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu, can thiệp lâm sàng có nhóm chứng

Đối tượng nghiên cứu

Là những sản phụ (SP) đến sanh tại Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương và bệnh viện Quận Thủ Đức thời gian từ 04/2009 đến 10/2010

Kỹ thuật chọn mẫu

Tiêu chuẩn nhận

SP có khả năng sanh được ngã âm đạo

SP có yêu cầu được làm giảm đau chuyển dạ

Trang 3

Tiêu chuẩn loại

SP đang nhiễm trùng toàn thân, tình trạng

sốc, hay thiếu khối lượng tuần hoàn

Không thực hiện chọc dò NMC được

Có chống chỉ định GTNMC:

- Tiền sử dị ứng thuốc tê hoặc thuốc họ

Morphin

- Có dị dạng, bệnh lý cột sống

- Rối loạn đông máu

- Nhiễm trùng tại chỗ chọc kim

- Có bệnh của hệ thần kinh trung ương, tăng

áp lực nội sọ

Sa dây rốn

Sản giật, tiền sản giật nặng

Thai suy cấp

Nhau tiền đạo

SP không giao tiếp được

Phương tiện và trang thiết bị

Phương tiện theo dõi và hồi sức: nguồn

dưỡng khí, ống nghe tim phổi, máy đo HA động

mạch, nhiệt độ, kim luồn 20G, 18G… Máy đo độ

bão hòa oxy (pulse oximeter), máy monitor theo

dõi tim thai và cơn gò…

Dụng cụ: bộ GTNMC, hộp đựng dụng cụ

gây tê đã vô khuẩn, bơm tiêm điện liên tục, găng

tay vô trùng

Thuốc và dịch truyền: Lidocaine 2% 2ml,

Bupivacain (Marcain) 0,5%, 20ml; Fentanyl 100

mcg (2ml) Thuốc sát trùng, cấp cứu, dịch

truyền…:

Phương thức tiến hành

Chọn bệnh theo yêu cầu tiêu chuẩn nhận và

tiêu chuẩn loại

Hội chẩn sản khoa về khả năng sanh đường

dưới, những bất thường trong cuộc sanh, thời

điểm GTNMC để giảm đau là chuyển dạ giai

đoạn hoạt động

102 sản phụ chọn ngẫu nhiên được áp dụng

kỹ thuật giảm đau trong chuyển dạ bằng

GTNMC với thuốc tê là Bupivacain (Marcain)

phối hợp với thuốc giảm đau trung ương là

Fentanyl.và chia thành 2 nhóm:

Nhóm 1: Bupivacaine 0,1% and Fentanyl

1mcg/ml

Nhóm 2: Bupivacaine 0,125% and Fentanyl

1mcg/ml

Giải thích cho SP ký phiếu yêu cầu được làm giảm đau chuyển dạ

Thăm khám, giải thích và chuẩn bị bệnh nhân như một cuộc gây mê bình thường: thăm khám tiền mê, đặc biệt vùng lưng, cột sống, các chức năng vận động… kiểm tra các xét nghiệm thường qui, các yếu tố đông máu, điện tâm đồ… Đánh giá, phân loại nguy cơ theo ASA, kiểm tra những chỉ định và chống chỉ định của GTNMC

Thực hiện phương pháp GTNMC cho các SP của 2 nhóm

Sau khi GTNMC, các sản phụ được theo dõi liên tục dấu sinh tồn: mạch, huyết áp tại các thời điểm: trước GTNMC, sau GTNMC 5 phút, 10 phút, 15 phút, 20 phút, 25 phút, 30 phút, 60 phút

và > 1 giờ

Trong và sau khi sanh, tất cả 100 trẻ sơ sinh được theo dõi chặt chẻ, nhất là trong 30 phút đầu tiên, bao gồm: chỉ số Apgar, màu da, nhịp thở, nhịp tim, SpO2…ứng với từng thời điểm 1 phút (T1), 5 phút (T5), 10 phút (T10), 15 phút (T15), 20 phút (T20), 25 phút (T25), 30 phút (T30) Ngoài ra, còn theo dõi các thong số khác như: cách sanh, chiều cao, cân nặng,

Thu thập và xử lý số liệu

Tất cả các số liệu đều được ghi lại trong phiếu theo dõi nghiên cứu và nhập vào máy vi tính để phân tích và xử lý số liệu Quản lý và xử

lý tất cả các số liệu theo chương trình SPSS 13.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Từ 04/2009 đến 10/2010 tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương và bệnh viện Quận Thủ Đức TPHCM, chúng tôi đã tiến hành theo dõi

102 trường hợp thuộc nhóm 1 và nhóm 2 Kết quả thu thập và phân tích như sau:

Trang 4

Đặc điểm chung

Bảng 1:

Nhóm

Thông số NHÓM 1 (%) NHÓM 2 (%)

Chiều cao (cm) 154,6±13,8 152,5±12,7

Con

Giới tính

2,5-3.5 41 (80,5%) 42 (82,4%)

Cân nặng

con(kg)

Sanh thường 46 (90,2) 44 (86,3)

Sanh dụng

Cách sanh

Đặc điểm về kỹ thuật – tai biến biến chứng

Đặc điểm về kỹ thuật

Bảng 2:

Thông số NHÓM 1 (%) NHÓM 2 (%)

Thời gian làm tê NMC

(phút) 15,14 ± 1,12 16,41 ± 0,49

Thời gian lưu catheter (giờ) 3,48 ± 0,77 4,27 ± 0,82

Đường giữa 38 (74,5) 32 (62,7)

Đường chích

Đường bên 13 (25,5) 19 (37,3)

Hiệu quả

giảm đau

trong cuộc

sanh

Hai bên 43 (84,3) 46 (90,2)

Vùng mất

cảm giác đau

Thang điểm đau (VAS)

Bảng 3:

Thang điểm

đau

0 – 1 >1 – 3 >3 – 5 >5 - 8 >8 - 10

NHÓM 1 (%) 13(25,5) 21(41,5) 12(23,5) 4(7,8) 1(2,0)

NHÓM 2 (%) 15(29,4) 20(39,2) 14(27,5) 2(3,9) 0(0,0)

P < 0,05 ⇒ có sự khác biệt thống kê giữa các

điểm đau ở 2 nhóm

Phong bế vận động: đánh giá theo thang điểm Bromage

Bảng 4:

Phong bế vận động Độ 0 Độ 1 Độ 2 Độ 3

NHÓM 1 (%) 41(80,4) 8(15,7) 2(3,9) 0(0,0) NHÓM 2 (%) 38(74,5) 9(17,6) 3(5,9) 1(2,0)

Tai biến biến chứng Bảng 5:

Biến chứng NHÓM 1 (%) NHÓM 2 (%)

Đau đầu 2(3,9) 1(2,0) Đau lưng 3(5,9) 6(11,8)

Đặc điểm về sức khỏe Mẹ và Con

Thay đổi sinh hiệu của Mẹ trước và sau bơm thuốc

Bảng 6:

Mạch Huyết áp trung bình Thông số

trên Mẹ Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 1 Nhóm 2

Trước bơm thuốc 83,5 ± 7,4 81,7 ± 6,2 92,1 ± 11,4 92,1 ± 9,5 Sau 5 phút 91,8 ± 10,5 89,2 ± 9,4 87,9 ± 10,8 87,9 ± 10,3 Sau 10

phút 91,5 ± 10,3 90,5 ± 10,7 85,7 ± 9,8 87,6 ± 8,5 Sau 15

phút 87,8 ± 9,9 89,3 ± 8,7 90,3± 8,4 91,5± 8,1 Sau 20

phút 88,6 ± 8,2 86,6 ± 9,1 87,5 ± 7,6 86,8 ± 8,6 Sau 25

phút 87,7 ± 7,8 82,7 ± 7,9 86,4 ± 6,7 83,6 ± 7,9 Sau 30

phút 86,9 ± 8,4 85,8 ± 8,1 88,7 ± 7,9 87,7 ± 8,2 Sau 1 giờ 83,5 ± 7,4 82,9 ± 7,8 85,6 ± 7,6 88,2 ± 7,2

> 1 giờ 82,8 ± 7,3 80,3 ± 6,5 89,2 ± 8,7 87,6 ± 8,4

P value > 0,05 > 0,05 > 0,05 > 0,05

Đặc điểm các thông số trên trẻ sơ sinh tại thời điểm mới sanh

Bảng 7:

Nhóm Thông số NHÓM 1 (%) NHÓM 2 (%)

Nhịp thở

Nhịp tim

Trang 5

Hồng 48 (94,1) 46 (90,2)

Màu da

Hồi sức

Thay đổi chỉ số Apgar

Bảng 8:

Nhóm

Apgar NHÓM 1 (%) NHÓM 2 (%) P value

< 7 4 (7,8%) 5 (9,8%)

T1

≥ 7 47 (92,2%) 46 (90,2%) < 0,05

T5

Thay đổi SpO 2

Bảng 9:

Nhóm

Thời điểm

NHÓM 1

n (%)

NHÓM 2

n (%) P value

< 90 39 (76,5) 45 (89,3)

T5

≥ 90 12 (23,5) 6 (11,7)

0,001

< 90 29 (56,9) 30 (58,8)

T10

≥ 90 22 (43,1) 21 (41,2)

0,001

< 90 24 (47,1) 25 (49,1)

T15

≥ 90 27 (52,9) 26 (50,9)

0,001

< 90 7 (13,7) 11 (21,6)

T20

≥ 90 44 (86,3) 40 (78,4)

0,001

< 90 2 (3,9) 3 (5,9)

T25

≥ 90 49 (96,1) 48 (94,1)

> 0,05

< 90 1 (2,0) 1 (2,0)

T30

≥ 90 50 (98,0) 50 (98,0)

> 0,05

NHẬN XÉT VÀ BÀN LUẬN

Đặc điểm chung: (bảng 1)

Đa số các SP thuộc 2 nhóm đều nằm trong

tuổi sanh đẻ, chiếm gần 90% từ 20 – 40 tuổi, tuổi

trung bình: 26,3 tuổi ± 2,4 tuổi Tuổi thấp nhất là

17 tuổi, tuổi cao nhất là 39 tuổi Theo y văn, liều

lượng thuốc tê có ảnh hưởng đến tuổi bệnh

nhân nhưng thường là GTNMC toàn phần Mặc

khác, thuốc tê được hấp thu một phần qua tuần

hoàn máu ngay sau khi tiêm vào và phần còn lại

hấp thu chậm hơn Thuốc tê khuếch tán xuyên

qua màng não đến dịch não tủy và tủy sống Ơ

người trẻ, thuốc tê có thể thấm qua các lỗ cạnh

đốt sống làm tăng tác dụng của thuốc tê(8)

Cân nặng SP phù hợp với thể tạng SP người

Việt Nam, chiếm 90% cân nặng từ 50 đến 70kg

Cân nặng trung bình 2 nhóm lần lượt: 55,6 ± 3,8

kg và 54,7 ± 4,1kg, cao nhất 80kg, thấp nhất 41kg

Chúng tôi nhận thấy ở các SP béo phì, không chỉ

là những nguy cơ chọc dò khó khăn mà còn những vấn đề hô hấp, tuần hoàn và bệnh lý đi kèm ở người mẹ sẽ ảnh hưởng nhiều đến con Chiều cao chiếm đa số là 150 – 160 cm, cao nhất 165 cm, thấp nhất 140 cm Chiều cao trung bình 2 nhóm lần lượt: 154,6 ± 13,8 cm và 152,5 ± 12,7 cm Yếu tố chiều cao chỉ ảnh hưởng khiêm tốn đến mức lan rộng của thuốc tê và trong việc tính liều lượng thuốc tê trong GTNMC

Tỷ lệ sanh con so và con rạ gần tương đương nhau ở 2 nhóm nhưng nhóm sản phụ sanh con so chiếm tỷ lệ cao hơn Với những SP sanh con so,

do quá trình chuyển dạ lâu hơn, cảm giác đau nhiều hơn Hơn nữa tâm lý không ổn định: lo lắng, mệt mỏi, chuyển dạ kéo dài,… và nhiều những yếu tố khác làm ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chuyển dạ Có lẽ vì thế mà nhiều sản phụ sanh con so yêu cầu được làm giảm đau hơn .Mặc khác, phương pháp giảm đau này hiện nay khá phổ biến trong cộng đồng nên được nhiều người biết đến nhất là sản phụ sanh con đầu lòng Cân nặng của trẻ trung bình 2 nhóm: 3,06 kg

± 0,18 kg, trẻ nặng nhất 4,2 kg gặp SP bị bệnh tiểu đường, trẻ nhẹ nhất 2,4 kg Hơn nữa, với những SP sanh con > 4 kg thì nhiều nguy cơ có bệnh tiểu đường đi kèm và như vậy kéo theo một loạt các nguy cơ khác từ bệnh lý này

Cách sanh và cân nặng trẻ sơ sinh không khác nhau giữa 2 nhóm Các cách sanh thường, sanh mổ và sanh dụng cụ khác biệt nhau không

có ý nghĩa thống kê

Đặc điểm về kỹ thuật – tai biến biến chứng Thời gian làm thủ thuật trung bình: 15,48

phút ± 0,73 phút, cao nhất là 30 phút, thấp nhất

là 10 phút Trên thực tế, đối với những người có kinh nghiệm GTNMC thì thời gian tiến hành thủ thuật chỉ cần 5 phút hay chỉ cần đâm kim 1 lần là thành công

Thời gian lưu catheter trung bình: 4,17 giờ ± 0,52 giờ, cao nhất là 7 giờ, thấp nhất là 1,5 giờ Đối với các SP sanh con rạ thì thời gian chuyển

dạ sanh ngắn hơn và như vậy quá trình lưu

Trang 6

catheter cũng ngắn hơn, trong khi những SP

sanh con so thì ngược lại, do quá trình chuyển

dạ thường kéo dài nên kéo theo thời gian lưu

catheter lâu hơn Hơn nữa, thời điểm mà chúng

tôi tiến hành GTNMC để giảm đau cho tất cả các

SP là khi chuyển dạ vào giai đoạn hoạt động,

nghĩa là CTC mở ≥ 4 cm Do đó so với các tác giả

khác, thời gian lưu catheter trong nghiên cứu

này tương đối ngắn hơn Tôi tiến hành rút

catheter ngay khi sanh xong hoặc khi may TSM

xong (nếu có cắt TSM) Trong TH SP có chỉ định

mổ lấy thai, thông qua catheter NMC, tôi sẽ tiến

hành GTNMC toàn phần để mổ bắt con và bơm

thuốc liên tục để giảm đau sau mổ

Hiệu quả khác trong cuộc sanh được đánh

giá bao gồm những yếu tố: cảm giác mắc rặn,

hiệu quả lúc sổ thai như mức độ giãn nỡ TSM

hay mức độ đau khi may TSM Kết quả cho thấy

các chỉ số thay đổi không có ý nghĩa thống kê

giữa 2 nhóm và GTNMC không ảnh hưởng đến

cảm giác mắc rặn của SP Đặc biệt là ở những SP

có cắt TSM thì sau sổ thai, khi may lại TSM thì

SP không đau 100%, đây chính là ưu thế của

GTNMC liên tục vì qua catheter NMC sẽ tiếp tục

giảm đau cho các thủ thuật thực hiện sau đó

như sanh dụng cụ, may TSM, bóc nhau, kiểm tra

tử cung, và ngay cả giảm đau sau sanh mổ

- Trong nghiên cứu ghi nhận được tỉ lệ mất

cảm giác đau hai bên là 84 - 90% ở cả 2 nhóm,

chỉ có tỷ lệ nhỏ giảm đau 1 bên Sự không đối

xứng này liên quan đến sự khuếch tán không tốt

của thuốc tê, vị trí catheter trong khoang NMC

hoặc có thể chọc dò chưa đúng Tuy nhiên các tỉ

lệ giảm đau một bên thấp và không phải là bên

còn lại hoàn toàn bình thường, cũng có giảm

đau nhưng không đạt hiệu quả mong muốn

Điều này cũng phù hợp theo các nghiên cứu

khác(3, 6) Ngoài ra, các biến số về thang điểm đau

và mức độ phong bế vận động cũng không khác

nhau giữa 2 nhóm

So sánh các tai biến biến chứng trong 2

nhóm, chúng tôi ghi nhận các tai biến biến

chứng chiếm tỷ lệ thấp và không khác biệt giữa

2 nhóm nghiên cứu, không ghi nhận những tai

biến nặng hay đe dọa sự an toàn cho sản phụ và thai nhi Trong đó, trong nhóm 1 có 1(2,0%) TH tụt HA, 2 (3,9%) TH lạnh run, 1(2,0%) TH buồn nôn, nôn, 2(3,9%)TH đau đầu, 3(5,9%) TH đau lưng và 1(2,0%) TH có rối loạn đi tiểu Tỷ lệ tai biến trong nhóm 2 có 2(3,9%) TH tụt HA, 3 (5,9%) TH lạnh run, 2(3,9%) TH buồn nôn, nôn, 1(2,0%)TH đau đầu, 6(11,8%) TH đau lưng và 5(9,8%) TH có rối loạn đi tiểu

Đặc điểm về sức khỏe Mẹ và Con

Sau khi tiến hành xong gây tê ngoài màng cứng, luồn và cố định catheter, bơm thuốc tê và thuốc giảm đau trung ương, chúng tôi theo dõi sát các yếu tố cần khảo sát ở cả 2 nhóm (bảng 6), nhận thấy:

Sinh hiệu sản phụ bao gồm: mạch, huyết áp (HA) thay đổi không có ý nghĩa thống kê, có một

số trường hợp có tụt huyết áp nhưng rất ít và thường có cảm giác khó chịu, nôn và ói kèm theo hoặc xảy ra trước khi hạ HA Xử trí bằng truyền dịch nhanh, thở Oxy, không có trường hợp nào phải dùng thuốc Ephedrin hay vận mạch

Trong thực tế cần lưu ý vấn đề chậm nhịp tim thai đi kèm theo hạ huyết áp vì lúc đó lưu lượng máu tử cung – nhau giảm và ảnh hưởng trên thai liên quan đến thời gian hạ HA: nhịp tim thai chậm sau 5 phút, thiếu oxy huyết và toan chuyển hóa sau 10 phút Chúng tôi nhận thấy nguyên nhân thường gặp là do nằm ngửa, gây hội chứng chèn ép động tĩnh mạch chủ, phong bế giao cảm và nhất là khi nó xảy ra đột ngột Các điều kiện thuận lợi thường kết hợp với nhau và sự cộng hưởng các yếu tố nguyên nhân gây ra trụy mạch trầm trọng như trong trường hợp có kèm theo hạ khối lượng tuần hoàn do bất

kỳ nguyên nhân nào hay rối loạn hệ thần kinh thực vật, béo phì Sự đáp ứng của người mẹ khi

có hạ HA bao gồm kích thích hệ giao cảm tạo ra nhịp tim nhanh và co thắt các tĩnh mạch chủ yếu

ở phần trên thân thể Chính vì vậy, sau khi bơm thuốc tê và thuốc giảm đau phải theo dõi kỹ nhịp tim thai và phải phân biệt rõ chậm nhịp tim thai do thuốc, do chèn ép tĩnh mạch chủ dưới,

do suy thai hay nguyên nhân nào khác

Trang 7

Theo dõi từ thời điểm khi trẻ sanh ra của

cả 2 nhóm (bảng 7), chúng tôi nhận thấy nhịp

thở, nhịp tim thai nhi thay đổi không có ý

nghĩa thống kê Trong một nghiên cứu so sánh

hiệu quả của 3 loại thuốc họ morphine dùng

bằng đường NMC (fentanyl 50 mcg,

sufentanyl 15 mcg và butorphanol 2 mg) với

nhóm chứng, cũng không tìm thấy sự khác

biệt về biến đổi nhịp tim trẻ sơ sinh Tóm lại,

tác dụng trực tiếp của thuốc họ morphine

quanh tủy sống tùy thuộc nồng độ huyết

tương của người mẹ, liều thuốc dùng đường

NMC làm cho nồng độ trong máu gần với

nồng độ đo được sau khi tiêm bắp Vấn đề

dùng thuốc họ morphine đơn thuần liều thấp

không có tác dụng làm thay đổi huyết động

học Theo một số nghiên cứu cho rằng sự phối

hợp thuốc họ morphine với thuốc tê dường

như không làm tăng tần suất hạ HA ở người

mẹ Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng

tôi, những trẻ sơ sinh 2 nhóm đều có tỷ lệ màu

sắc da tím nhiều hơn trẻ sơ sinh bình thường

và tỷ lệ hồi sức sơ sinh của 2 nhóm cũng tăng

có ý nghĩa (bảng 7) Khác biệt này rất có ý

nghĩa trên lâm sàng nhất là khi bắt đầu triển

khai thực hiện rộng rãi phương pháp giảm

đau trong chuyển dạ(3,7)

Đánh giá chỉ số Apgar trẻ sơ sinh của 2 nhóm

đều giảm có ý nghĩa trong phút đầu tiên (T1)

(bảng 8) nhưng khác biệt nhau không có ý nghĩa

về mặc thống kê giữa 2 nhóm Đo độ bảo hòa

Oxy mao mạch (SpO2) thì thấy trẻ sơ sinh 2 nhóm

có giá trị thấp Sự thay đổi này có ý nghĩa tại các

thời điểm T5, T10, T15, và T20 nghĩa là tập trung

trong 20 phút đầu sau sanh (bảng 9) Tuy nhiên

sau 25 phút thì tự hồi phục dần và trong nghiên

cứu của chúng tôi, không có trường hợp nào phải

diễn tiến nặng Giải thích hiện tượng ngạt thoáng

qua này có thể do sự ức chế hô hấp tạm thời từ

việc dùng thuốc tê và thuốc giảm đau ở người mẹ

bằng đường ngoài màng cứng

KẾT LUẬN

Giảm đau trong chuyển dạ bằng gây tê ngoài màng cứng với sự phối hợp Bupivacaine 0,1% và Fentanyl 1mcg/ml an toàn và hiệu quả Các chỉ số thay đổi khác biệt không có ý nghĩa giữa 2 nhóm nghiên cứu Để giảm bớt những bất lợi của phương pháp cần có sự phối hợp chặt chẻ với các nhà sản khoa, chọn lựa phương pháp tốt nhất trên cơ sở giục sanh đúng thời điểm, theo dõi sát đáp ứng giảm đau trong quá trình chuyển dạ để

có sự điều chỉnh liều lượng thuốc giảm đau bơm vào khoang ngoài màng cứng thật hợp lý

Ngày nay, phương pháp giảm đau trong chuyển dạ bằng GTNMC với sự phối hợp thuốc

tê và thuốc giảm đau trung ương được ứng dụng rộng rãi trên thế giới và phát triển không chỉ bó gọn trong giảm đau cho người mẹ mà còn nhằm mục đích mang lại sự kiểm soát tốt và sự hài lòng cho sản phụ và trẻ sơ sinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

obsteùtricale: analyse systeùmique d’une erreur de vitesse de seringue autopousseuse” Cas cliniques, Annales Françaises d’Anestheùsie et de Reùanimation, Vol 28, (N05), Elsevier Masson et SFAR, pp 489 – 492

Analgesia/Anesthesia” Obstetric Anesthesia Handbook, (4th), Springer, USA, pp 130 – 171

during Regional Anesthesia”, Anesthesiology, Volume 1 (49), Medical Books, McGraw – Hill, USA, pp 1053 – 1080

Anesthesiology, Volume 1, (21), Medical Books, McGraw – Hill, USA, pp 358 – 373

Analg, (102), pp 921 - 929

comparison of minimum local anesthetic volumes and doses of epidural bupivacaine (0.125% w/v and 0.25% w/v) for analgesia

in labor” Anesth Analg, (104), pp 412 - 415

biến, biến chứng của phương pháp giảm đau trong chuyển dạ”

Y học Thành Phố Hồ Chí Minh, tập 14, phụ bản số 1, tr 260 -

270

GMHS, Đại Học Y Dược TPHCM, NXB Y Học, tr 209 – 226

vùng” Y học TPHCM; (4), tr 90-95

Surgery”, Anesthesiology, Volume 2, (61), Medical Books, McGraw – Hill, USA, pp 1471 – 1501

Ngày đăng: 22/01/2020, 19:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w