1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tạo mạch máu dùng chạy thận nhân tạo chu kỳ ở những trường hợp khó tại Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 01/2012 đến tháng 06/2014

6 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 278,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung đề tài nghiên cứu trình bày về phẫu thuật tạo cầu nối mạch máu dùng lọc máu chạy thận là một phẫu thuật đơn giản. Tuy nhiên tuổi thọ cầu nối hạn hữu, bệnh xơ vữa mạch, tiểu đường, bất thường mạch máu, tai biến trong quá trình sử dụng đặt ra nhiều tình huống phức tạp trong việc tạo thông và duy trì nó thích hợp.

Trang 1

TẠO MẠCH MÁU DÙNG CHẠY THẬN NHÂN TẠO CHU KỲ

Ở NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÓ TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

TỪ THÁNG 01/2012 ĐẾN THÁNG 06/2014

Nguyễn Đỗ Nhân*, Đỗ Kim Quế*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: phẫu thuật tạo cầu nối mạch máu dùng lọc máu chạy thận là một phẫu thuật đơn giản Tuy

nhiên tuổi thọ cầu nối hạn hữu, bệnh xơ vữa mạch, tiểu đường, bất thường mạch máu, tai biến trong quá trình

sử dụng đặt ra nhiều tình huống phức tạp trong việc tạo thông và duy trì nó thích hợp

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả những trường hợp phẫu thuật lần 2, mạch không

phù hợp, mạch ghép, chuyển vị và nông hóa tĩnh mạch

Mục tiêu nghiên cứu: tần suất nguyên nhân, hiệu quả phẫu thuật và cải thiện tiên lượng gần

Kết quả nghiên cứu: có 35 bệnh nhân, tỉ lệ nam/nữ là 19/16 Trước mổ: Tắt hoặc hẹp nặng động mạch quay

(06), tĩnh mạch nền tắc hoặc hẹp (08), hẹp tắc nặng tại cầu nối(05), phình mạch, cầu nối lưu lượng cao(04), tắc ống ghép mạch(6) Thời gian mổ trung bình 115 + 28,7 phút Kết quả tốt có 23 trường hợp (65,71%) Biến chứng sau mổ: tắc cầu nối (02), hẹp miệng nối (02), nhiễm trùng vết mổ(02)

Bàn luận: chuẩn bị bệnh nhân trước mổ là rất quan trọng Siêu âm mạch máu, khám lâm sàng, trong đó cần

đánh giá các yếu tố về tính chất mạch máu xơ vữa, hẹp, tắc do huyết khối, tiêm chích, chấn thương, mổ lại nhiều lần, đoạn tĩnh mạch hiệu dụng ,tĩnh mạch cánh tay, dưới đòn Có các yếu tố tác động vào hiệu quả tạo dò như:

Chọn lựa vị trí tạo dò, mạch tạo dò và miệng nối, theo dõi và phát hiện tắc cầu nối sớm sau mổ

Kết luận: Mổ lại nhiều lần, mạch máu không phù hợp và tổn thương hẹp mạch do xơ vữa là những khó khăn trong phẫu thuật tạo dò Dùng mạch máu tự thận giúp cải thiện tiên lượng Có 35 trường hợp vào nghiên

cứu này, kết quả sau mổ tốt có 23 trường hợp (65,71%) Tỉ lệ biến chứng tương tự nghiên cứu khác

Từ khoá: phẫu thuật tạo cầu nối mạch máu

ABSTRACT

ARTERIOVENOUS SHUNTING FOR HAEMODIALYSIS – COMPLICATED CASES

IN THONG NHAT HOSPITAL FROM JAN, 2012 UNTIL JUNE, 2014

Nguyen Do Nhan, Do Kim Que

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - No 3- 2014: 289-294

Background: The efficacy of arteriovenous shunting is varied, depending on various factors, as vacular anatomy’s diversity, or combined atherosclerosis, or thromboembolism associated with long-term use

Methods: Retrospective, descriptive study

Results: 35 patients, male/female ratio is 19/16 Before surgery: occlusion or severely narrowed radial artery

(06), occlusion or narrowed basilar vein (08), occlusion or severe stenosis at the bridge (05), aneurysm, overloaded bridge (04), occlusion angioplasty (6) After surgery: The average operation time was 115 + 28.7 minutes Good results for 23 cases (65.71%) Complications after surgery: occlusion of the bridge (02), anastomotic stenosis (02),

wound infection (02)

Discussion: Preoperative patient preparation is very important Vascular ultrasounding, clinical

* Khoa Ngoại lồng ngực – mạch máu Bệnh viện Thống Nhất

Trang 2

examination, including the need to assess the nature and elements of vascular atherosclerosis, stenosis , thrombotic categories, injections, injuries, repeated surgeries, effective vein segments, brachial vein, subclavian vein There are factors impacting on the effectiveness of arteriovenous shunting such as: selection of intervention sites, selection of the vein and artery to be shunted, anastomosis, monitoring and early detection of any occlusion

of the bridge after surgery

Conclusion: Repeated surgeries , inappropriate vascular selection, stenosis caused by atherosclerosis are the

difficulties for arteriovenous shunting surgery With 35 cases in this study, good postoperative results were achieved for 23 cases (65.71 %) Complication rate was similar to other researches

Key words: arteriovenous shunting

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cầu nối động - tĩnh mạch đến nay vẫn được

xem là phương pháp chủ yếu dùng chạy thận

chu kỳ trong điều trị bệnh suy thận mạn giai

đoạn cuối có chỉ định lọc thận(3,4,5) Có nhiều kỹ

thuật, vị trí tạo dò động - tĩnh mạch Do sự đa

dạng trong giải phẫu mạch máu, bệnh lý nội

khoa xơ vữa mạch máu kết hợp hoặc thời gian

dùng lâu bị huyết khối, mổ lại v.v nên hiệu quả

phẫu thuật tạo dò động - tĩnh mạch phụ thuộc

vào nhiều yếu tố

Bệnh viện Thống Nhất từ lâu đã thực hiện

phẫu thuật tạo dò động – tĩnh mạch để chạy

thận, đặc biệt trên những trường hợp phức tạp,

đã mổ nhiều lần ở tuyến trước, bệnh nhân cao

tuổi có nhiều bệnh nội khoa

TỔNG QUAN

Trên thế giới, số trường hợp cần chạy thận

ngày càng tăng(3,4,5,6) Tại Việt Nam, riêng đối

tượng bảo hiểm y tế, có khoảng 9200 trường hợp

đang chạy thận chu kỳ Lọc thận chu kỳ là

phương pháp điều trị chính trong suy thận giai

đoạn cuối(1)

Có nhiều phương pháp chạy thận như chạy

qua dò động – tĩnh mạch tự thân (AVF:

arteriovenous fistula), bằng mạch ghép nhân tạo

(AVG: arteriovenous graft) hoặc catheter ở cổ

Trong đó, tạo dò bằng động- tĩnh mạch đầu ở cổ

tay (kỹ thuật nối bên-bên) của Brescia và cộng sự

là một trong những phương pháp hiệu quả nhất

để chạy thận vì ít biến chứng, dùng được lâu, ít

ảnh hưởng đến chất lượng sống v.v… Hiện nay,

đa số phẫu thuật viên chọn kỹ thuật này nhưng

kiểu nối tận-bên

Hiện nay, bệnh nhân được chạy thận ngày càng sống lâu hơn trong khi cầu nối có tuổi thọ hạn hữu, các bệnh mạch máu trầm trọng hơn do suy thận, tổn thương cầu nối khi sử dụng v.v đặt ra vấn đề cần sửa chữa cầu nối, mổ lại, tạo mới, và nhiều tình huống lâm sàng phức tạp khác trong việc tạo dò và duy trì một dò thích hợp dùng chạy thận

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu hồi cứu mô tả Số liệu được thu thập từ những trường hợp phẫu thuật tạo dò động – tĩnh mạch từ lần 2, mạch máu tự thân không phù hợp (nhỏ xơ vữa, tổn thương hẹp, tắc), chuyển vị tĩnh mạch và nông hóa tĩnh mạch

Thời gian từ tháng 01 năm 2012 đến tháng 06 năm 2014 tại bệnh viện Thống Nhất - thành phố

Hồ Chí Minh

Các yếu tố liên quan được thu thập gồm: tuổi, giới, bệnh lý đi kèm, tình trạng trước mổ,

mô tả mạch máu trên siêu âm doppler, vị trí mổ,

số lần mổ, kỹ thuật, kết quả mổ (sau mổ đến ngày ra viện), biến chứng, mổ lại

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Tổng số

Có 35 bệnh nhân, tỉ lệ nam/nữ là 19/16

(54,28% và 45,72%)

Biểu đồ 1: Phân bố giới tính của mẫu

Trang 3

Tuổi

Trung bình là 65+ 11 tuổi (nhỏ nhất là 18

tuổi, cao nhất là 86 tuổi)

Biểu đồ 2: Phân bố độ tuổi-tần suất

Một số bệnh lý nội khoa

Ghi nhận như tăng huyết áp, tiểu đường,

suy tim, tắc tĩnh mạch chi v.v…

Bảng 1: Bệnh nội khoa kết hợp

Trường hợp Tỉ lệ%

Kết quả siêu âm Doppler mạch máu 2 tay

Trước mổ ghi nhận các yếu tố: đường kính

động mạch, tĩnh mạch 2 tay, đặc biệt tại những

vị trí có thể tạo dò, tính chất thành mạch, huyết

khối 1 trường hợp vết thương cũ khuỷu tay trái

gây hẹp nặng động mạch

Bảng 2: Kết quả siêu âm mạch trước mổ

Trường hợp Tỉ lệ%

Tắt hoặc hẹp nặng động

mạch quay

Tắc hoặc hẹp nặng động

mạch trụ

Tĩnh mạch nền tắc hoặc quá

nhỏ

Tắc hoặc hẹp nặng tại cầu

nối

Phình mạch cầu nối lưu

lượng cao

Vị trí mổ và kỹ thuật

Về bên mổ thì ưu tiên phẫu thuật tạo dò bên tay không thuận, nếu không thuận lợi thì chọn tay thuận Về vị trí trên tay thì ưu tiên theo thứ

tự từ cổ tay, cẳng tay, khuỷu đến cánh tay Chọn tạo dò bằng mạch tự thân trước, đến dùng mạch ghép nhân tạo Dùng kỹ thuật khâu mạch tận- bên, bên-bên, thu nhỏ miệng nối

Bảng 3: Vị trí tạo dò

Trường hợp Tỉ lệ%

Bảng 4: Loại mạch máu dùng tạo dò

Trường hợp Tỉ lệ%

Thời gian mổ

Trung bình là 115 + 28,7 phút Nhanh nhất là

45 phút, dài nhất là 420 phút

Kết quả sau mổ

Được đánh giá ban đầu dựa vào những yếu

tố : không biến chứng, cầu nối hoạt động, có rù,

sự dãn nở của tĩnh mạch sau cầu nối, dùng được ngay sau hậu phẫu ngày 01 trong trường hợp sửa chữa hoặc sau 1-2 tháng với trường hợp tạo mới Kết quả tốt có 23 trường hợp (65,71%), mổ lại có 04 trường hợp (11,42%)

Biến chứng sau mổ gồm

Tắc cầu nối (tự thân, ống ghép): 02 trường hợp (05,71%), hẹp miệng nối: 02 trường hợp (05,71%) nhiễm trùng vết mổ: 02 trường hợp (05,71%), trong đó có 01 trường hợp phải lấy bỏ ống ghép

Trang 4

BÀN LUẬN

Thời điểm mổ

Hiện nay, có nhiều quan điểm về thời điểm

mổ tạo dò động – tĩnh mạch Tuy nhiên, đa số

các tác giả đồng ý là nên mổ vào giai đoạn suy

thận mạn độ IV(GFR < 25 ml/ph, Creatinin >

4mg% hoặc trước thời điểm dự tính chạy thận

khoảng 6 tháng)(5) Trong nghiên cứu này, có 12

trường hợp mổ mới được chọn thời điểm như

trên Những trường hợp mổ lại, vấn đề thời

điểm mổ không quan trọng bằng việc chuẩn bị

tốt bệnh nhân trước mổ

Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ

Có thể nói đây là một trong những yếu tố

quan trọng nhất quyết định sự thành công của

tạo dò động – tĩnh mạch Đặt biệt trong nghiên

cứu này, là những trường hợp phức tạp, chúng

tôi đều chuẩn bị từng bước, đánh giá lâm sàng,

siêu âm mạch, thời gian sử dụng cầu nối trước

đó, bệnh sử những tai biến trong quá trình sử

dụng v.v kể cả tâm lý, trải nghiệm của người

bệnh

Siêu âm mạch máu trước mổ cũng như việc

khám lâm sàng là rất cần thiết(1,2,8) Kỹ thuật tạo

dò ở những lần mổ trước, diễn tiến bệnh nội

khoa (tiểu đường, xơ vữa mạch) quá trình sử

dụng cầu cũng như biến đổi động học dòng

chảy đã làm thay đổi giải phẫu và tính chất

mạch máu ở nhiều mức độ Lâm sàng và siêu

âm giúp chúng tôi rất nhiều trong việc đánh giá

sự thay đổi này đặc biệt là các yếu tố về tính chất

mạch máu xơ vữa, hẹp, tắc do huyết khối, tiêm

chích, chấn thương, tính chất đoạn tĩnh mạch

hiệu dụng sau cầu nối cũng như tĩnh mạch cánh

tay, dưới đòn

Vai trò siêu âm trước mổ thể hiện rõ ưu điểm

trên 11 trường hợp trong nghiên cứu này

Những bệnh nhân này khám lâm sàng nghi ngờ

có tổn thương mạch máu như mạch quay yếu,

tĩnh mạch vùng cẳng tay bất thường và sẹo nhỏ

vùng khuỷu tay Siêu âm mô tả được rõ những

tổn thương này, hội chẩn trước mổ đã quyết

định đổi vị trí tạo dò Cầu nối của các trường

hợp này sau mổ đều hoạt động tốt, tránh được việc tắc cầu nối hoặc đổi vị trí trong lúc mổ Trong nghiên cứu này có 02 trường hợp, siêu

âm mạch phát hiện cầu nối lưu lượng kém do hẹp ngay tại miệng nối Kết hợp với chụp mạch máu xóa nền (DSA) và can thiệp mạch, chúng tôi

đã khảo sát chi tiết và nong thành công 01 trường hợp Trường hợp còn lại chuyển mổ vì nong thất bại do tái hẹp trên đoạn dài Ở những trường hợp khó, chúng tôi thấy rằng có vai trò của chụp mạch xóa nền và can thiệp Tuy nhiên phương pháp này thay thế được phẫu thuật sửa chữa hoặc tạo dò không thì cần thời gian để đánh giá Đa số trường hợp hẹp cầu nối phức tạp thường xảy ra trên đoạn dài, nhiều vị trí, mạch xơ vữa hệ thống Thêm nữa, chi phí cho một lần can thiệp mạch không nhỏ

Chọn lựa vị trí tạo dò

Theo R Allen(3), có nhiều vị trí để tạo dò động – tĩnh mạch theo thứ tự ưu tiên dựa vào các mốc giải phẫu học: đầu tiên là chọn tay không thuận, sau đó là lần lượt theo thứ tự:

1 Tĩnh mạch đầu-động mạch quay ở cổ tay

2 Tĩnh mạch nền-động mạch cánh tay ở khuỷu

3 Tĩnh mạch nền-động mạch trụ ở cổ tay

4 Tĩnh mạch nền-động mạch cánh tay ở khuỷu

5 Ghép mạch tự thân(tĩnh mạch hiển)

6 Mạch ghép nhân tạo

Theo Gagne và cộng sự(7), tuổi thọ trung bình của mạch tự thân dài hơn mạch ghép nhân tạo( mạch nhân tạo là 4,6 tháng)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng chọn lựa vị trí theo gợi ý trên Tuy nhiên, chúng tôi chưa có trường hợp nào dùng tĩnh mạch hiển để làm mạch ghép

Tương tự, có 1 trường hợp bệnh nhân được

mổ 6 lần : 2 lần đầu là AVF cổ tay trái và AVG khủy tay trái thất bại do tĩnh mạch không phù hợp(nhỏ, tắc) chuyển mổ 2 lần AVF cổ tay phải(tĩnh mạch nhỏ, tắc), 1 lần AVG khủy tay phải dùng được 05 tháng thì hẹp tắc và mổ lần 6

Trang 5

sửa miệng nối (sau 1 tháng thì tắc lại) Trường

hợp này được chúng tôi hội chẩn và siêu âm

mạch trước mổ Kết quả thấy rằng tĩnh mạch tự

thân sau ống ghép còn hoạt động tốt Trường

hợp này được chuyển mổ quay về lại AVF tự

thân tại khuỷu tay phải Kết quả sau mổ tốt và

dùng được ngay sau 1 ngày (đến hiện tại đang

dùng 14 tháng) Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi

trường hợp này lâu dài để có những đánh giá

chi tiết hơn Trước mắt, việc này cũng nói lên

tính ưu việc của mạch tự thân, thứ tự ưu tiên

nên chọn khi mổ tạo dò

Mặc dù là lựa chọn sau cùng, mạch ghép

nhân tạo cũng có vai trò nhất định Trong nghiên

cứu này, những trường hợp phải dùng mạch

ghép nhân tạo chúng tôi đều không tìm thấy

tĩnh mạch tự thân phù hợp qua siêu âm và thăm

khám lâm sàng kỹ lưỡng

Mạch tạo dò và miệng nối

Là một yếu tố luôn được các phẫu thuật viên

quan tâm Miệng nối nhỏ thì có nguy cơ không

đủ lưu lượng, có thể tắc cầu nối Miệng rộng thì

tăng lưu lượng quá mức, tăng tiền tải, suy tim

Một số nghiên cứu nước ngoài gợi ý kích thước

miệng nối từ 10-15mm, số khác thì 5-7mm Theo

Robin-2003, kích thước mạch máu phù hợp:

- Động mạch: lớn hơn 1,6 mm

- Miệng nối: lớn hơn 4mm

- Tĩnh mạch: lớn hơn 2,2 mm, nằm nông

(<1cm), thẳng trên 1 đoạn dài(10cm), nằm vùng

trước hoặc bên để dễ châm kim

Theo Nguyễn Sanh Tùng nghiên cứu trên

115 bệnh nhân tại Hà Nội, kích thước miệng nối

nên từ 6-8mm để đạt lưu lượng đủ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, kích thước

miệng nối trung bình 4-8mm, tùy theo trường

hợp Có 2 trường hợp quá lưu lượng, miệng nối

dãn 12mm Chúng tôi thu nhỏ lại còn 4-6mm

cầu nối sau đó đủ lưu lượng

Chuyển vị tĩnh mạch

Chuyển vị có thể thực hiện nhờ tĩnh mạch

nền ở nhiều vị trí như: đoạn cánh tay theo

Dagler(4), Đỗ Kim Quế(1), đoạn cẳng tay theo Thái

Minh Sâm(2) Việc chuyển vị này giúp ích rất nhiều cho việc chọn lựa tĩnh mạch vì vẫn tạo được dò tại vị trí mong muốn trong khi tĩnh mạch đầu không phù hợp Tuy nhiên, do đặc điểm nằm phía sau, thành mỏng(1), chuyển vị đi

xa, nên đòi hỏi kinh nghiệm, sự khéo léo và kỹ thuật phẫu tích để không tổn thương thành mạch, xoắn mạch

Trong nghiên cứu này, 05 trường hợp chuyển vị đều sử dụng được cầu nối sau 40 ngày Theo (1) là 35 ngày và Ryan(9) là 74 ngày Chúng tôi có 01 trường hợp bị xoắn mạch khi nối, được phát hiện ngay trong mổ và gỡ xoắn, tạo hình lại miệng nối Sau mổ, cầu nối hoạt động tốt Theo Đỗ Kim Quế(1) cũng có trường hợp này

Có 01 trường hợp chúng tôi mổ lại tạo dò tại khuỷu tay trái bên-bên do AVF chuyển vị ở cổ tay trái lưu lượng kém Chúng tôi nhận thấy vị trí tĩnh mạch chuyển vị khá phù hợp Tuy nhiên tính chất co dãn kém và khá nhỏ Trường này, bệnh nhân được mổ tại cổ tay 03 lần ở nơi khác, trong đó 2 lần đầu AVF thất bại, lần 3 mổ chuyển vị Chúng tôi chưa tìm được mô tả chi tiết mổ nên chưa thể đánh giá nhiều hơn

Xơ hóa tĩnh mạch

Có 03 trường hợp bệnh nhân vào trong bệnh cảnh nặng, phải hồi sức nội khoa một thời gian, cần tiêm chích nhiều Quá trình này làm xơ hóa tĩnh mạch cẳng tay không thể làm cầu nối dù rằng trước đó nó khá thuận lợi Việc này được chúng tôi trao đổi và rút kinh nghiệm trong kíp điều trị, khi cần tiêm chích cố gắng tránh phải dùng đoạn tĩnh mạch mà chúng tôi đánh giá là

có thể dùng làm cầu nối, đặc biệt là tĩnh mạch đầu, tĩnh mạch nền cẳng tay Sau 03 trường hợp này, chúng tôi chưa ghi nhận trường hợp nào tĩnh mạch vùng cẳng tay bị xơ hóa

Biến chứng

Nhiễm trùng vết mổ là biến chứng chung trong các cuộc phẫu thuật, đặc biệt trên bệnh nhân suy thận, bệnh nội khoa đi kèm, suy giảm sức đề kháng Trong nghiên cứu này có

Trang 6

02 trường hợp nhiễm trùng ống ghép, trong đó

01 trường hợp phải lấy bỏ ống ghép, trường

hợp còn lại tắc ống ghép sau 02 tháng phải tạo

dò mới

Một số nguyên nhân dẫn đến biến chứng

hoặc thất bại sau mổ lâu dài không chỉ là vấn đề

đánh giá trước và sau mổ Việc sử dụng đúng

cách, bảo quản cầu nối cũng rất quan trọng Một

số yêu cầu để tăng tuổi thọ cầu nối: chờ đủ thời

gian để cầu nối (tĩnh mạch) trưởng thành

(thường là sau 4-6 tuần) Vị trí châm kim cách xa

miệng nối 3-5cm (đoạn hiệu dụng sau cầu nối)

Châm kim một điểm hay di chuyển bậc thang

Băng ép vừa đủ khi chạy thận xong để cầm máu

Đồng thời, chúng tôi luôn hướng dẫn bệnh nhân

cách nhận biết cầu nối hoạt động hay đã tắc theo

cách đơn giản nhất 02 trường hợp trong nghiên

cứu này được chính bệnh nhân phát hiện tắc cầu

nối và mổ kịp thời để lấy huyết khối

KẾT LUẬN

Tạo dò động – tĩnh mạch có vai trò quan

trọng trong điều trị bệnh thận giai đoạn cuối Mổ

lại nhiều lần, mạch máu không phù hợp và tổn

thương hẹp mạch do xơ vữa là những khó khăn

trong phẫu thuật tạo dò

Có 35 trường hợp vào nghiên cứu này, kết

quả sau mổ tốt có 23 trường hợp (79,31%) Tỉ lệ

biến chứng tương tự nghiên cứu khác

Ưu tiên chọn mạch tự thân làm cầu nối

Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ có vai trò quyết

định cho thành công của cuộc mổ, đặc biệt là vai

trò của khám lâm sàng kỹ lưỡng và siêu âm mạch máu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đỗ Kim Quế (2005), Kết quả phẫu thuật chuyển tĩnh mạch nền tạo dò động tĩnh mạch cánh tay, Y học Tp.Hồ Chí Minh,Tập

9, phụ san của số 1,

2 Thái Minh Sâm(2010), phẫu thuật tạo dò động tĩnh mạch để chạy thận nhân tạo tại bệnh viện Chợ Rẫy từ 1/1008 đến 5/2010, Y Học TP HồChí Minh, Tập 15, Phụ bản của Số4/2011

3 Allen R (2009): Vascular Access Surgery for Haemodilysis The transplantation society

4 Beathard G (2003): A practioner resoure guid to Hemodialisis, Artoriovenous Fistulas

5 Cull JD, Cull DL, Taylor SM, Carsten III CG, Snyder BA, Youkey JR, Langan EM 3rd, Blackhurst DW Prothetic thigh arterivenous access: Outcome with SVS/AAVS reporting standards J Vasc Surg 2004; 39:381 -86

6 Dagher FJ, Gelber R, Ramos E, Sadler J (1976) The use basilic vein and branchial artery as an AV fistula for long-term hemodialysis J Surg Res; 20: 373-376

7 Gagne PJ, Martinez J, DeMassi R, Gregory R, Parent FN, Gayle R, Meier GH 3rd, Philput C (2000) The effect of venous anastomosis Tyrell vein collar on the primary patency of arteriovenous grafts in patients undergoing hemodialysis J Vasc Surg ; 32:1149-54

Clearinghouse (NKUDIC), http://kidney.niddk.nih.gov/kudiseases/pubs/vascularaccess/

9 Rao AK, Azin GD, Hood DB, Rowe DL, Kohl RD, Katz SG, Weaver FA (2004) Basilic vein transposition fistula: A good for maitaining hemodialysis access site options? J Vasc Surg; 39:1043-47

10 Ryan SV, Calligaro KD, Scharff J, Dougherty (2004) Management of the infectedprothetic grafts J Vasc Surg; 39:73-78

Ngày nhận bài báo: 11-04-2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20-04-2014 Ngày bài báo được đăng: 20-05-2014

Ngày đăng: 22/01/2020, 19:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm