1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát liên quan giải phẫu đông mạch cảnh trong và xoang bướm ‐ ứng dụng phẫu thuật qua xoang bướm hố yên

7 82 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 557,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát mối liên quan giải phẫu đa dạng của động mạch cảnh trong và xoang bướm bằng phân tích hình ảnh CT scan, qua đó nêu tính ứng dụng trong phẫu thuật qua xoang bướm hố yên.

Trang 1

VÀ XOANG BƯỚM ‐ ỨNG DỤNG PHẪU THUẬT QUA XOANG BƯỚM 

HỐ YÊN 

Huỳnh Lê Phương* 

TÓM TẮT 

Mục đích: Chúng tôi khảo sát mối liên quan giải phẫu đa dạng của động mạch cảnh trong và xoang bướm 

bằng phân tích hình ảnh CTscan,. qua đó nêu tính ứng dụng trong phẫu thuật qua xoang bướm hố yên. 

Đối tượng và phương pháp: Với những tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ, chúng tôi có 80 người trưởng 

thành chụp CT scan đầu tại bệnh viện Chợ Rẫy đưa vào khảo sát. Với phần mềm phân tích các yếu tố liên quan 

về giải phẫu của động mạch cảnh trong và xoang bướm được khảo sát và phân tích trên các mặt phẳng 3D. 

Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận động mạch cảnh trong có tạo lồi vào phía trong thành bên XB 

với 68,12 % đoạn bên trước và 56, 87 % ở đoạn dọc thành sau. Gần 50% các trường hợp các vách trong XB có  chân bám trên thành xương lồi động mạch cảnh. 

Kết luận:  Mối liên hệ giải phẫu giữa động mạch cảnh trong và xoang bướm là một trong những đặc thù 

giải phẫu của xoang bướm. Khảo sát và đánh giá trước mổ vùng xoang bướm bằng CT scan giúp phẫu thuật  viên chủ động thao tác và tránh những biến chứng trong phẫu thuật qua xoang bướm hố yên. 

Từ khóa: Xoang bướm; Động mạch cảnh trong; CTscan. 

ABSTRACT 

RELATIONSHIP OF SURGICAL ANATOMY OF THE INTERNAL CAROTID ARTERY AND 

SPHENOID SINUS – APPLICATIONS IN TRANSSPHENOIDAL SURGERY 

Huynh Le Phuong* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 77 ‐ 83 

Purpose:  We  sought  to  investigate  the  surgical  anatomical  relation  of  the  internal  carotid  artery  and 

sphenoid sinus. Through that we delineate the surgical applications in transsphenoidal surgery. 

Methods:  CT scan imaging studies obtained in 80 healthy adults who have no sellar and sphenoid sinus 

lesions were reviewed. The anatomical measurements were made on various dimensions using the multiplanar  reconstruction technique that were analyzed. 

Results: All of sphenoid sinuses in this radiological study had shown that 68.12% of all of Internal carotid 

artery was bulging into sinus at lateral anterior segment and 56.87% at vertical posterior segment. In addition,  there were over 50% of the sphenoid sinus have septum were inserting into the carotid prominence. 

Conclusion: This study highlights the surgical anatomy, variants and the relationship of the sphenoid sinus 

to  internal  carotid  arteries.  Therefore,  axial  and  coronal  CT  sections  should  always  be  obtained  prior  to  any  surgery in the sphenoid sinus area. 

Key words: Sphenoid sinus; Internal carotid artery; Computed tomography. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Từ lâu, xoang bướm đã được xem là một cấu 

trúc giải phẫu có biến đổi đáng kể về kích thước, 

hình dáng và không đối xứng. Điều quyết định 

về  sự  biến  đổi  không  đồng  nhất  này  tùy  thuộc  vào  mức  độ  khí  hóa  của  xoang  bướm.  Trong  y 

* Khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy 

Tác giả liên lạc: TS. BS. Huỳnh Lê Phương  ĐT: 0909225188   Email: phuongsds@yahoo.com 

Trang 2

văn  thế  giới,  có  nhiều  công  trình  nghiên  cứu, 

báo cáo bằng cách khảo sát phẫu tích trên xác có 

kết hợp nội soi hoặc phân tích trên hình ảnh CT 

scan về giải phẫu của vùng xoang bướm và hố 

những nhận định về tính đa dạng biến đổi cấu 

trúc  giải  phẫu,  mối  liên  quan  giải  phẫu  của 

xoang  bướm  với  những  cấu  trúc  giải  phẫu 

chung  quanh  như  hành  lang  phẫu  thuật  nhằm 

giúp  ứng  dụng  thực  hành  trong  phẫu  thuật 

vùng  xoang  bướm‐hố  yên.  Thêm  nữa,  cũng  đã 

có những báo cáo cảnh báo về những tai biến có 

thể  tránh  do  chính  những  biến  đổi  giải  phẫu 

vùng xoang bướm gây ra trong phẫu thuật(4,14,18)  

Về hình thái, cấu trúc giải phẫu vùng xoang 

bướm, tại Việt Nam đã có vài công trình nghiên 

nắm  vững  kiến  thức  về  hình  thái  giải  phẫu  đa 

dạng của xoang bướm cũng như mối liên hệ với 

những  cấu  trúc  giải  phẫu  kề  cận  sẽ  hữu  ích 

trong  việc  đánh  giá  trước  khi  thực  hiện  phẫu 

thuật  vùng  xoang  bướm  hay  qua  xoang  bướm 

hố yên cũng như có thể góp phần tránh những 

biến  chứng  phẫu  thuật,  chúng  tôi  đã  thực  hiện 

một nghiên cứu về giải phẫu xoang bướm bằng 

phân  tích  hình  ảnh  CT  scan(10).  Trong  báo  cáo 

này chúng tôi trình bày kết quả khảo sát về mối 

liên quan giải phẫu giữa động mạch cảnh trong 

và thành xoang bướm và qua đó  đánh  giá  tính 

hữu  hiệu  và  ứng  dụng  trong  chẩn  đoán  trước 

mổ vùng xoang bướm hố yên của CT scan. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Mẫu  nghiên  cứu  được  thu  thập  từ  nhóm 

mẫu  là  những  người  đến  chụp  CT  scan  vùng 

đầu mặt: Bao gồm 80 người có yêu cầu đến chụp 

CT  scan  đầu  với  lý  do  nhức  đầu  không  rõ 

nguyên  nhân,  chọn  ngẫu  nhiên  trong  khoảng 

tháng 9/2010 đến 10/2010 tại Bệnh viện Chợ Rẫy. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

Bệnh nhân nam nữ, tuổi từ 18 trở lên. 

Bệnh nhân được chụp CT scan đầu khảo sát 

cả vùng mũi xoang. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh nhân có tiền sử chấn thương vùng đầu  mặt. 

Bệnh  nhân  có  tiền  sử  phẫu  thuật  vùng  đầu  mặt. 

Bệnh nhân được phát hiện bệnh lý vùng đầu  mặt, xoang qua hình ảnh CT scan. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 

Phương tiện nghiên cứu 

Các hình ảnh CT scan vùng đầu ghi được từ  máy  CT  scan  đa  lát  cắt.  Thông  số  kỹ  thuật  xác  lập trên máy CT để đạt hình ảnh tối ưu: Eff.maS:  180; KV: 120; Collimation: 40 × 0,6; Slice: 0,9mm,  Re.increment: 0,4 mm; Kernel: H70h Very sharp;  Window:  (Osteo.)  C:  400;  W:  2.000.  Hình  ảnh  được  dựng  lại  MPR  cho  3  mặt  phẳng:  mặt  phẳng trục (Axial); mặt phẳng trán (Coronal) và  mặt phẳng dọc (Sagittal). 

Biến số nghiên cứu 

Dịch tễ học: tuổi, giới. 

Đánh  giá  mối  liên  hệ  giữa  xoang  bướm  và  động mạch cảnh trong: 

Khảo  sát  độ  lồi  của  động  mạch  cảnh  liên  quan với thành XB. 

Khảo  sát  mối  liên  quan  giữa  động  mạch  cảnh và vách chia trong XB. 

Phương pháp tiến hành nghiên cứu 

Data về hình ảnh được lưu lại vào đĩa DVD 

và sau đó trên máy tính hình ảnh CT được phân  tích  bằng  phần  mềm  eFilm  Workstation  2.1.0.  (MERGE Healthcare Co. 2005). 

KẾT QUẢ  Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Phân bố mẫu theo tuổi 

Mẫu nghiên cứu trên CT scan ngẫu nhiên cắt  ngang của 80 đối tượng. 

Bảng 1 Phân bố theo nhóm tuổi. 

Tuổi 18-20 21-30 31-40

41-50

51-60

61-70

71-80 81-90 TS

Trang 3

Số BN 7 13 17 21 16 1 4 1 80

Tỉ lệ % 8,3 16,6 21,6 25 20 1,6 5 1,6 100

Nhận xét: Tuổi nhỏ nhất là 18, tuổi lớn nhất 

là  88.  Tuổi  trung  bình  (mean)  là  42,  4.  Tuổi 

thường gặp tập trung (median) là 42. 

Phân bố mẫu theo giới 

Bảng 2 Phân bố theo giới. 

Nhận  xét:  Trong  mẫu  nghiên  cứu  vì 

phương  pháp  mô  tả  cắt  ngang  ngẫu  nhiên 

trong  mẫu  cho  kết  quả  nữ  giới  chiếm  tỉ  lệ  2:1 

so  với  nam  giới.  Chúng  tôi  dùng  phép  kiểm 

định  thống  kê  để  kiểm  chứng  các  biến  không 

ảnh hưởng bởi tỉ số trên. 

Liên  quan  giải  phẫu  động  mạch  cảnh 

trong và xoang bướm 

Sự  liên  quan  giữa  động  mạch  cảnh  trong  với 

chân vách xoang 

Bảng 3: Số lượng vách trong XB có chân bám vào 

thành xoang bướm ngay ống động mạch cảnh trong. 

1 vách bám 2 vách bám Không có ĐMCT phải 33 (41,3%) 4 (5%) 43 (53%,7)

ĐMCT trái 39 (48,7%) 1 (1,3%) 40 (50%)

Nhận xét: Qua bảng 3, nghiên cứu ghi nhận 

có khoảng 50% các trường hợp, động mạch cảnh  trong không có chân vách xoang bám. 

Bảng 4: Số loại vách trong XB bám trên ống động 

mạch cảnh trong (% của 80). 

Vách chính Vách phụ Hai loại vách ĐMCT phải 11 (13,75%) 22 (27,50%) 4 (5%)

ĐMCT trái 18 (16,25%) 40 (32,5%) 2 (1,25%)

Nhận  xét:  Kiểm  định  thống  kê,  cho  thấy 

không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa hai bên phải  trái về số lượng và loại vách bám trên ống ĐM. 

Hình 1: Hình CT scan thiết diện phẳng ngang (axial) qua xoang bướm. 1.A: hình CT scan của một đối tượng 

trong nghiên cứu, minh họa sự bám của vách trong XB. Cả hai ĐMCT bên phải và trái đều có chân vách bám. 

Bên phải, ống ĐM có chân vách giữa chính bám. Bên trái, ống ĐM chỉ có chân vách phụ bám. 1.B: hình CT scan 

của một đối tượng khác trong nghiên cứu. Bên phải, ống ĐM có 2 chân vách bám: một vách giữa chính và một  vách phụ bám. Bên trái, ống ĐM chỉ có chân vách phụ bám 

Độ lồi động mạch cảnh trong trên thành xoang XB 

Bảng 5: Lồi ĐM cảnh trong vào XB đoạn lên (xương đá) 

Lồi vào XB <½ đường kính ĐM Lồi vào XB >2/3 đường kính ĐM Không thấy lồi vào trong XB ∑

ĐM cảnh trong phải 35 (43,75%) nam: 9 nữ: 26 14 (17,50%) nam: 8 nữ: 6 31 (38,75%) nam: 10 nữ: 21 80

ĐM cảnh trong trái 24 (30,0%) nam: 9 nữ: 15 18 (22,50%) nam: 8 nữ: 10 38 (47,50%) nam: 10 nữ: 28 80

∑ 59 (36,87%) nam: 18 nữ: 41 32 (20,0%) nam: 16 nữ: 16 69 (43,12%) nam: 20 nữ: 49 160

Nhận  xét:  Bằng  phép  kiểm  dấu  và  hạng  Wilcoxon,  ta  thấy  có  sự  khác  nhau  có  ý  nghĩa 

giữa có lồi ĐMC trong vào XB bên phải trội hơn 

Trang 4

bên  trái  (P=0,03<0,05).  Phép  kiểm  Chi‐bình 

phương  (Asimp  Sig.<  Pearson  Chi‐Square;  bên 

Phải:  Sig.  =  0,24<7,456;  bên  Trái:  Sig.= 

0,184<3,393)  cho  thấy  có  sự  khác  biệt  giữa  nam 

và nữ trong tỉ lệ lồi động mạch, đặc biệt ở nhóm 

có tỉ lệ động mạch lồi hơn 2/3 đường kính. 

Bảng 6: Lồi ĐM cảnh trong vào XB đoạn xoang hang. 

Lồi vào XB <½ đường kính ĐM

Lồi vào XB >2/3 đường kính ĐM

Không thấy lồi vào trong XB ∑

ĐM cảnh trong phải 41 (51,25%) nam: 20 nữ: 21 13 (16,25%) nam: 5 nữ: 8 26 (32,5%) nam: 11 nữ: 15 80

ĐM cảnh trong trái 40 (50%) nam: 18 nữ: 22 15 (18,75%) nam: 7 nữ: 8 25 (31,25%) nam: 12 nữ: 13 80

Nhận  xét:  Bằng  phép  kiểm  dấu  và  hạng 

Wilcoxon,  ta  thấy  không  có  sự  khác  nhau  có  ý 

nghĩa  giữa  có  lồi  ĐMC  trong  bên  phải  và  bên  trái (P>0,05). 

 

Hình 2: Hình CT scan, phần mềm eFilm tái tạo MPR 3 thiết diện (axial, coronal và sagittal) của một đối tượng 

trong nghiên cứu, minh họa sự lồi của ĐMCT vào trong XB. Ở đoạn thành bên sau XB (đoạn động mạch trong  xương đá) ĐMCT bên trái lồi nhiều hơn bên phải (hình A). Ở đoạn ĐMCT trong xoang hang, động mạch cũng  lồi vào XB, bên trái nhiều hơn bên phải (hình B, C và D). 

BÀN LUẬN 

Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Tuổi 

Dân  số  trong  mẫu  nghiên  cứu  lấy  từ  tuổi 

Trang 5

trưởng  thành  từ  18  tuổi  đến  88,  lứa  tuổi  XB  đã 

phát  triển  đầy  đủ.  Do  đó,  mẫu  nghiên  cứu 

không  bị  ảnh  hưởng  bởi  yếu  tố  tuổi.  Đã  có  tác 

giả  cho  rằng  yếu  tố  tuổi  có  ảnh  hưởng  đến  sự 

khí hóa của XB (12), chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên 

cứu  vấn  đề  này  sau  với  một  mẫu  dân  số  đông 

hơn. 

Giới 

Nghiên cứu của chúng tôi theo thiết kế mô tả 

cắt ngang, và mẫu dân số được lấy theo tiêu chí 

đưa ra (phần phương pháp và đối tượng) ngẫu 

nhiên không lựa chọn trong một thời điểm ngẫu 

nhiên. Dù vậy, qua thống kê theo biến giới tính 

cho  thấy  tỉ  lệ  Nam  và  Nữ:  1/2.  Tuy  nhiên,  với 

phép  kiểm  thống  kê  (Mann‐Whitney  U)  chúng 

tôi  vẫn  có  thể  phân  tích  và  tìm  hiểu  có  hay 

không có sự khác nhau giữa giới tính trong các 

biến nghiên cứu (phần sau). Tỉ lệ dân số nữ lớn 

hơn dân số nam cũng có thể lý giải, nữ giới quan 

tâm  đến  bệnh  tật  nhiều  hơn  nam  (chụp  hình 

kiểm  tra  sớm  khi  có  triệu  chứng  bất  thường; 

triệu  chứng  nhức  đầu  cũn  là  yếu  tố  tâm  lý 

thường  gặp  ở  phụ  nữ  nên  CT  scan  đầu  cũng 

được  chỉ  định  theo  yêu  cầu  nhiều).  Ngoài  ra, 

nam giới là thành phần lao động chính nên ít có 

thời gian hơn. 

Đặc điểm giải phẫu của XB qua phân tích 

hình ảnh CT scan 

Do về mặt cấu trúc giải phẫu, XB được bao 

quanh bởi những cấu trúc giải phẫu quan trọng 

như:  động  mạch  cảnh  trong  (ĐMCT),  ống  thần 

kinh thị, dây thần kinh thị (TKT) và sàn sọ, nên 

việc nắm vững chi tiết giải phẫu liên quan XB và 

đặc  biệt  những  biến  đổi  giải  phẫu  thường  gặp 

của  XB  là  cần  thiết.  Những  đánh  giá  giải  phẫu 

này  có  thể  được  nhận  dạng  trước  mổ  bởi  tận 

dụng  phương  tiện  chẩn  đoán  hình  ảnh  học  CT 

scan nhằm đạt hiệu quả điều trị cũng như tránh 

những  biến  chứng  đáng  tiếc  trong  mổ.  Trong 

nghiên cứu này, chúng tôi đề cập tới động mạch 

cảnh trong và XB. 

Động mạch cảnh trong 

Phân đoạn động mạch cảnh trong 

Động mạch cảnh trong là cấu trúc trong nhất  trong  xoang  hang.  Động  mạch  tựa  trên  mặt  ngoài  của  thành  xương  thân  xương  bướm  và  đường  đi  của  động  mạch  đoạn  trong  xoang  hang  tạo  nên  một  rãnh  trên  xương  còn  gọi  là  rãnh  cảnh.  Khi  XB  khí  hóa  mạnh  từ  bên  trong  làm thành xương bị bào mòn và rãnh cảnh sẽ tạo  nên  ụ  lồi  trên  thành  XB  nhìn  từ  phía  trong (17).  Một  khi  ụ  lồi  của  động  mạch  cảnh  lồi  vào  XB  gây  ra  một  nguy  cơ  chấn  thương  động  mạch  trong  phẫu  thuật  XB.  Phẫu  thuật  viên  XB  phải  biết  khả  năng  có  sự  biến  đổi  này  trên  thành  xoang  của  XB  để  tránh  biến  chứng  chết  người  trước  khi  vào  phẫu  thuật(5,12,18,19).  Tỉ  lệ  ghi  nhận  động mạch cảnh lồi vào XB đã được báo cáo trên 

y văn thế giới biến đổi từ 8~72%(2, 5,12). Phân đoạn  của động mạch cảnh theo đường đi từ ngoài vào 

sọ đã được Fisher mô tả đầu tiên vào 1983. Mặc 

dù, từ đó đến nay đã có nhiều báo cáo giải phẫu 

về phân đoạn, thuật ngữ và ranh giới phân đoạn  động  mạch  cảnh.  Tuy  nhiên,  phân  đoạn  được  chấp  nhận  sử  dụng  rộng  rãi  có  thể  xem  động  mạch cảnh có các phân đoạn sau: đoạn cổ, đoạn  xương đá, đoạn xoang hang, đoạn mấu giường 

và đoạn trong não(9).  

Động mạch cảnh trong và thành xoang hang 

Khu  trú  và  liên  quan  đến  vấn  đề  trong  nghiên  cứu  này  là  đoạn  xoang  hang  và  đoạn  mấu giường  trước.  Đoạn  xoang  hang  của  động  mạch cảnh bắt đầu từ bờ trên dây chằng đá lưỡi.  (petrolingual ligament). Động mạch chạy thẳng  hướng lên và cong ra trước, còn gọi là cong sau  (posterior  bend).  Sau  khi  chạy  hướng  ra  trước,  động  mạch  lại  cong  lên  trên,  còn  gọi  là  cong  trước,  và  chạy  tới  mặt  trong  dưới  mấu  giường  trước.  Do  đó,  có  thể  tạm  phân  chia  đoạn  trong  xoang hang của động mạch cảnh có: đọan thẳng  lên  sau,  đoạn  cong  sau,  đoạn  dọc  trước  sau,  đọan  cong  trước  và  đoạn  trong  nội  sọ.  Với  sự  phát triển của nội soi phẫu thuật XB, kiến thức  giải  phẫu  về  đường  đi  của  động  mạch  cảnh  trong  xoang  hang  liên  quan  đến  thành  bên  của 

XB dưới góc độ nhìn phẫu thuật noi soi xoang là  cần  thiết.  Trong  nghiên  cứu  này,  với  phương 

Trang 6

tiện  khảo  sát  giải  phẫu  XB  bằng  hình  ảnh  CT 

scan, để đơn giản hóa chúng tôi tạm chia đường 

đi của động mạch cảnh trên thành của XB thành 

hai  đoạn  cơ  bản:  đoạn  dọc  đứng  phía  sau  mà 

chúng tôi tạm gọi là đoạn thành sau XB và đoạn 

dọc trước sau ra trước phía bên ngoài XB chúng 

tôi  gọi  là  đoạn bên trước.  Kết  quả  (bảng  5  và  6) 

cho  thấy  ở  đoạn  dọc  đứng  phía  sau  ngoài  XB, 

động  mạch  cảnh  lồi  vào  XB  chiếm  tỉ  lệ  57%  so 

với 160 cạnh xoang được khảo sát, trong đó với 

20% động mạch cảnh lồi rõ với độ lồi lớn hơn ½ 

đường  kính  động  mạch.  Trong  khi  đó,  ở  đoạn 

đoạn  bên  trước,  tỉ  lệ  động  mạch  lồi  vào  XB 

chiếm 67,5 % mặc dù tỉ lệ lồi rõ với đường kính 

lồi  vào  lớn  hơn  2/3  đường  kính  động  mạch  chỉ 

có 17,5%.  

Khi nghiên cứu về mối liên quan động mạch 

cảnh  trong,  thần  kinh  thị  trong  XB,  các  nghiên 

cứu  cũng  đã  ghi  nhận  sự  hở  xương  thành  bên 

XB  trên  ụ  lồi  đường  đi  của  động  mạch.  Khi  ấy 

thành  động  mạch  chỉ  ngăn  cách  XB  bằng  lớp 

niêm mạc xoang. Fujii(8) bằng khảo sát phẫu tích 

xác ghi nhận có 4% các trường hợp thành động 

mạch  bị  hở  xương.  Elwany(5)  với  nghiên  cứu 

bằng  nội  soi  kết  hợp  phẫu  tích  xác  ghi  nhận 

4,8%. Sirikci, Birsen bằng khảo sát CT scan(19) ghi 

nhận  có  hở  xương  thành  động  mạch  với  tỉ  lệ 

23%,  và  5,3%  tương  ứng.  T.T.T.  Hồng(20)  trong 

luận văn nghiên cứu XB bằng CT scan báo cáo tỉ 

lệ  hở  xương  động  mạch  3,8%.  Chúng  tôi  dùng 

tiện ích (ROY) của phần mềm eFilm trong chức 

năng  tìm  giá  trị  H.U.  ngay  trên  thành  động 

mạch ở những trường hợp ghi nhận thiếu vắng 

thành  xương  và  ghi  nhận  tỉ  lệ  hở  xương  trên 

thành động mạch 4,5% cho tất cả các bên xoang. 

Các  báo  cáo  hở  xương  thành  xương  dọc  theo 

động mạch có khác biệt về  tỉ  lệ,  theo  chúng  tôi 

do  yếu  tố  địa  lý  dân  số  trong  nghiên  cứu,  số 

lượng mẫu và quan trọng là phương pháp khảo 

sát  (phẫu  tích  xác/  CT  scan).  Đặc  biệt,  với 

phương pháp khảo sát bằng CT scan tùy thuộc 

vào thế hệ máy (3D, đa lát cắt v.v ), chức năng 

phần mềm phân tích và qui ước chủ quan. 

Qua các báo cáo nghiên cứu giải phẫu XB về 

mối liên quan giữa động mạch cảnh trong với tỉ 

lệ  lồi  vào  XB,  tỉ  lệ  hở  xương  trên  thành  lồi  của  động  mạch  dù  tỉ  lệ  có  khác  nhau  nhưng  tựu  trung  vẫn  cho  thấy  hiện  tượng  biến  đổi  giải  phẫu  này  là  tồn  tại.  Điều  này  cho  thấy,  sự  cẩn  trọng trong phẫu thuật với thành bên của XB rất  cần  thiết,  đặc  biệt  góc  trước  trên  ngoài  của  XB. 

Sự  cẩn  trọng  sẽ  có  giá  trị  một  khi  các  biến  đổi  giải phẫu này được đánh giá trước mổ qua khảo  sát CT scan trước mổ.  

Hình ảnh xoang bướm trên CT scan 

Đầu  thập  niên  70,  sự  phát  minh  kỹ  thuật  chụp cắt lớp xử lý vi tính, CT scan được đưa vào  ứng  dụng  trong  y  khoa  như  một  cuộc  cách  mạng  về  chẩn  đoán  hình  ảnh(4)  Nhanh  chóng  ngay sau đó, phương tiện CT scan được áp dụng  rộng  rãi  cho  nhiều  chuyên  khoa.  Đã  có  nhiều  nghiên cứu báo cáo về giá trị của CT scan trong  việc khảo sát giải phẫu XB, đánh giá tiên lượng  những  biến  đổi  giải  phẫu  vốn  thường  gặp  của 

thuật nội soi XB hay qua XB hố yên dễ dàng xác  định  các  mốc  giải  phẫu  định  hướng  cũng  như  nhằm giảm thiểu các nguy cơ biến chứng có thể  xảy ra trong phẫu thuật XB(1,6,7,12,14).  

Sự  phát  triển  và  cải  tiến  kỹ  thuật  trong  CT  scan đã trải qua nhiều thế hệ máy, từ những CT  scan 4 lát cắt, độ phân giải thấp đến những thế 

hệ  máy  đa  lát  cắt  gần  đây  với  những  lát  cắt  nhuyễn cùng những phần mềm xử lý nâng cấp 

đã  cho  khả  năng  tái  tạo  3  thiết  diện  giúp  tạo  những hình ảnh chi tiết thực về giải phẫu. Thật  vậy,  với  thiết  diện  mặt  phẳng  trục  ngang,  mặt  phẳng trán và mặt phẳng trán dọc, hình ảnh XB  trên  CT  scan  có  thể  khảo  sát  theo  3  trục  không  gian. Qua đó, CT scan có thể khảo sát được xự  hiện  diện  các  mốc  giải  phẫu  cũng  như  những  biến  đổi  giải  phẫu  thường  gặp  của  vùng  hốc  mũi  xoang  bướm.  Đặc  biệt,  CT  scan  có  thể  ghi  nhận  được  mối  tương  quan  của  thần  kinh  và  mạch máu trong XB như: sự lồi của động mạch  cảnh,  thần  kinh  thị,  thần  kinh  V2,  thần  kinh  Vidian trên các thành của XB(16,20). 

Ngày  nay,  trong  sự  phát  triển  vũ  bão  của 

Trang 7

lĩnh  vực  chẩn  đoán  hình  ảnh,  cộng  hưởng  từ 

(MRI)  đã  góp  phần  hữu  hiệu  trong  chẩn  đoán 

các  bệnh  lý  đầu  sọ,  không  ngoại  trừ  XB.  Tuy 

nhiên,  giá  trị  thiết  thực  của  CT  scan  trong  việc 

đánh  giá  trước  phẫu  thuật  nội  soi  mũi  xoang 

không hề thay đổi. Cùng quan điểm với các tác 

giả nghiên cứu trước(1,3,12,16,21) chúng tôi cho rằng 

việc  thực  hiện  chụp  một  CT  scan  có  tái  tạo  3 

thiết  diện  trước  phẫu  thuật  nội  soi  xoang  mũi, 

đặc  biệt  XB,  là  một  điều  cần  thiết.  Trên  thực  tế 

lâm sàng, tình trạng bệnh lý có thể gây chèn ép, 

xô  lệch  hay  bào  mòn  các  cấu  trúc  giải  phẫu, 

nhưng  việc  khảo  sát  CT  scan  trước  mổ  sẽ  giúp 

phẫu  thuật  viên  nội  soi  xoang  mũi  đánh  giá 

được tình trạng giải phẫu vùng xoang bướm của 

người  bệnh,  xác  định  được  các  mốc  giải  phẫu 

định hướng, biết được những biến đổi giải phẫu 

thông  thường  hay  do  bệnh  lý  gây  ra  nhằm  có 

trước một tiên lượng cho một kế hoạch mổ cũng 

như  hạn  chế  tối  đa  các  nguy  cơ  biến  chứng  có 

thể  xảy  ra  của  một  phẫu  thuật  nội  soi  vùng 

xoang cạnh mũi(4,9,15). 

KẾT LUẬN 

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có tỉ lệ 

không  nhỏ  động  mạch  cảnh  trong  có  tạo  lồi 

vào phía trong thành bên XB với 68,12 % đoạn 

bên  trước  và  56,  87  %  ở  đoạn  dọc  thành  sau. 

Gần 50% các trường hợp các vách trong XB có 

chân  bám  trên  thành  xương  lồi  động  mạch 

cảnh.  Đánh  giá  những  biến  đổi  giải  phẫu  XB 

trước khi phẫu thuật xoang bướm hay qua XB 

hố yên là thiết thực bằng khảo sát hình ảnh CT 

scan 3 thiết diện. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Abdullah  BJ,  Arasaratum  S,  et  al.  (2001).  “The  sphenoid 

sinuses:  Computergraphic  assessment  of  septation, 

relationship  to  the  internal  carotid  arteries,  and  sidewall 

thickness in the Malaysian population”. JHK Coll Radiol. 4, pp: 

185‐188. 

2 Arlan H, Aydinlioglu AA, et al. (1999). “Anatomic variantions 

of the paranasal sinuses: CT examination for endoscopic sinus 

surgery”. Auris Nasus Larynx. 26, pp: 39‐48.  

3 Cappabianca P, Cavallo LM et al. (2008). “Endoscopic pituitary 

surgery”. Pituitary. 11, pp: 385‐390.  

4 Danielsen A, Reitan E, Olofsson J. (2006). “The role of omputed 

tomography in endiscopic sinus surgery: A review of 10 years  practice”. Eur Arch Otorhinolaryngol. 263, pp: 381‐389.  

5 Elwany S, Yacout YM, et al.  (1983).  “Surgical  anatomy  of  the  sphenoid sinus”. J laryngo Otol. 97, (3), pp: 227‐241.  

6 Enatsu K, Takasaki K, Kase Ki, et al. (2008). “Surgical anatomy 

of  the  sphenoid  sinus  on  the  CT  using  multiplanar  reconstruction  technique”.  Otolaryngo‐Head  and  Neck  Surg. 

138, pp: 182‐186.  

7 Fernandez‐Miranda JC, Prevedello DM, et al (2009). “Sphenoid  septations and their relationship with internal carotid arteries:  Anatomical  and  radiological  study”  Laryngoscope.  119,  pp:  1893‐1896.  

8 Fujji  K,  Chambers  SM,  Rhoton  AJ  Jr.  (1979).  “Neurovascular  relationships of the sphenoid sinus: A microsurgical study”. J  Neurosurg. 50, pp: 31‐39.  

9 Herzallah  IR,  Casiano  RR.  (2007).  “Endoscopic  endonasal  study of the internal carotid artery course and variations”. Am 

J Rhinol. 21, pp 262‐270.  

10 Huỳnh  Lê  Phương.  (2012).  “Đặc  điểm  giải  phẫu  ngoại  khoa  vách  ngăn  xoang  bướm‐Ứng  dụng  phẫu  thuật  qua  xoang  bướm hố yên”. Y Học Tp Hồ Chí Minh. 16, Phụ bản 4, tr: 282‐

288.  

11 Kalluska  SK,  Patil  NP,  et  al.  (1993).  “The  role  of  CT  scan  in  functional endoscopic sinus surgery” Rhinology. 31, pp: 49‐52.  

12 Kazkayasi  M,  Karadeniz  Y,  Arikan  OK.  (2005).  “Anatomic  variations  of  the  sphenoid  sinus  on  computed  tomography”.  Rhinology. 43, pp:109‐114.  

13 Lubbe  D,  Semple  P.  (2008).  “Preoperative  assessment  of  patient  undergoing  endoscopic,  transnasal,  transsphenoidal  pituitary surgery”. J Laryngology Otology. 122, pp: 644‐646.  

14 Meyers RM, Valvassori G. (1998). “Interpretation of anatomic  variations  of  computed  tomography  scans  of  the  sinuses:  A  surgeon’s perspective”. Laryngoscope. 108, pp: 422‐425.  

15 Moeller  CW,  Welch  KC.  (2010).  “Prevention  management  of  complications  in  sphenoidotomy”.  Otoloaryngol  Clin  N  Am. 

43, pp: 839‐854.  

16 Nguyễn  Hữu  Dũng  (2008).  Phẫu  thuật  nội  soi  điều  trị  tổn  thương trong xoang bướm. Luận văn tiến sĩ Y Học. Đại học Y  Dược Tp HCM.  

17 Romano  A,  Zuccarello  m,  Van  loveren  H,  Keller  J.  (2001). 

“Expanding  the  boundaries  of  the  transsphenoidal  approach: 

A microanatomy study”. Clin Anat 14, pp: 1‐9.  

18 Sethi DS, Stanley RE, et al. (1995). “Endoscopic anatomy of the  sphenoid sinus and sella turnica”. J Laryngol Otol 109, pp: 951‐

955.  

19 Siriki A, Bayarit YA, et al. (2000). “Variations of sphenoid and  related structures:. Eur Radiol. 10, pp: 844‐848.  

20 Trần thị Thanh Hồng. (2010). Khảo sát tình trạng lồi thần kinh 

và động mạch cảnh trogn vào xoang bướm qua lâm sang và 

CT scan. Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú. Đại học Y Dược Tp  HCM.  

21 Unsal B, Bademci G, et al. (2006). “Risk anatomic variations of  sphenoid sinus for surgery”. Sur Radiol Anat. 28, pp: 195‐201.   

Ngày nhận bài báo: 18/04/2013  Ngày phản biện đánh giá bài báo: 23/05/2013  Ngày bài báo được đăng: 27/05/2013 

Ngày đăng: 22/01/2020, 19:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w