1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức, thực hành về “Năm chìa khóa cho an toàn thực phẩm” của nhân viên cấp dưỡng tại bếp ăn tập thể trường mầm non Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013

8 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 432,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỷ lệ kiến thức và thực hành đúng về “Năm chìa khóa cho an toàn thực phẩm” của nhân viên cấp dưỡng (NVCD) các bếp ăn tập thể (BATT) trường mầm non trên địa bàn quận 11. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ “NĂM CHÌA KHÓA CHO AN TOÀN  THỰC PHẨM” CỦANHÂN VIÊN CẤP DƯỠNG TẠI BẾP ĂN TẬP THỂ   TRƯỜNG MẦM NON QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2013 

Hứa Khắc Sương Linh* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: An toàn thực phẩm (ATTP) ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của bất kỳ quốc gia 

nào trên thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển. Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra thông điệp “Năm chìa  khóa cho an toàn thực phẩm” (1)  như một thông điệp sức khỏe toàn cầu giúp đảm bảo an toàn thực phẩm và ngăn  ngừa các bệnh do thực phẩm gây ra. Tại quận 11, vẫn còn một số trường mầm non có bếp ăn bán trú chưa đạt  yêu cầu về ATTP. 

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ kiến thức và thực hành đúng về “Năm chìa khóa cho an toàn thực phẩm” của nhân 

viên cấp dưỡng (NVCD) các bếp ăn tập thể (BATT) trường mầm non trên địa bàn quận 11. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả, trực tiếp phỏng vấn kiến thức và quan sát thực 

hành NVCD tại 26 trường mầm non trên địa bàn quận 11, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5‐8/2013. Chọn  mẫu toàn bộ với n=97. 

Kết  quả: Tỷ lệ NVCD có kiến thức chung đúng về “Năm chìa khóa cho an toàn thực phẩm”chiếm 53%, 

trong đó tỷ lệ trả lời đúng thấp nhất là nội dung kiến thức về dùng nước sạch và thực phẩm tươi sạch. Tỷ lệ nhân  viên có thực hành đúng khá cao chiếm 88,3%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với thời gian  làm việc, giữa thực hành với loại hình họat động của trường, giữa kiến thức chung với thực hành  

Kết luận: Ban Giám hiệu nhà trường cần đầu tư cơ sở vật chất cho bếp ăn tập thể, bố trí nhà vệ sinh, phòng 

thay trang phục bảo hộ lao động, nơi rửa tay đúng qui định. Phòng Giáo dục đào tạo tăng cường kiểm tra, giám  sát hoạt động BATT tại các trường, nhất là khối trường dân lập. Trung tâm y tế dự phòng quận 11 xây dựng  chương trình tập huấn kiến thức ATTP phù hợp với đối tượng, chú trọng những phần kiến thức còn yếu của  NVCD, giúp họ bảo đảm ATTP. 

Từ khóa: kiến thức, thực hành, chìa khóa, an toàn thực phẩm, trường mầm non. 

ABSTRACT 

KNOWLEDGE, PRACTICE ON “FIVE KEYS TO SAFER FOOD” OF SUPPORT STAFF  

AT KINDERGARTEN CANTEENS IN DISTRICT 11, HO CHI MINH CITY IN 2013 

Hua Khac Suong Linh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 233 ‐ 240 

Background: Food safety has increasingly become a significant concern of any country all over the world, 

especially in developing countries. The World Health Organization has put forward the message ʺFive keys to  safer food” viewed as a global health messages to ensure food safety and prevent food‐borne diseases. In District 

11, there are still a number of kindergarten canteens that could not meet the requirements of food safety. 

Objectives: To determine the proportion of right knowledge and practice on ʺFive keys to safer foodʺ of staff 

in collective kitchens in all kindergarten in District 11, Ho Chi Minh city. 

Methods: A cross‐sectional study on 26 kindergarten kitchens with 97 staff was carries out from May to 

August, 2013. Direct interviews with observation of the facility and with staff’spractice were utilized to assess  staff’s knowledge and practice.  

* Trung tâm Y tế Dự phòng quận 11, Tp. HCM 

Trang 2

in which the prevalence of staff’s knowledge of using safe water and raw materials was lowest. The rate of staff  having  correct  practice  was  88.3%.  There  were  statistically  significant  associations  between  knowledge  and  seniority; practice and the type of school (public or private), and general knowledge and practice. 

Conclusion: It is necessary to invest in infrastructure in kindergarten kitchens such as lay outing toilets, 

dressing rooms and washing facilities reasonable. Department of Education and Training should strengthen to  inspect  and  supervise  on  food  safety  in  the  kindergartens,  especially  the  private  sector.  The  Health  Preventive  Center needs to develop appropriate training programs on food safety for staff working in kindergarten kitchens.  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Mỗi năm hàng triệu  người  bị  bệnh  và  hàng 

ngàn người chết vì một căn bệnh do thực phẩm 

có  thể  ngăn  ngừa  được.  Tổ  chức  Y  tế  Thế  giới 

(WHO)  đã  đưa  ra  thông  điệp  “Năm  chìa  khóa 

cho an toàn thực phẩm” xem như là một thông 

điệp sức khỏe toàn cầu giải thích các nguyên tắc 

cơ  bản  mà  mỗi  cá  nhân  trên  thế  giới  đều  phải 

biết  để  bảo  quản  thực  phẩm  an  toàn  và  ngăn 

ngừa  các  bệnh  do  thực  phẩm  gây  ra,  giúp  mọi 

người  cần  có  sự  chú  ý  để  bảo  vệ  sức  khoẻ  cho 

chính  bản  thân  mình  và  người  thân  trong  gia 

đình(7).  

Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng 

thực  phẩm  được  chế  biến  tại  BATT  rất  lớn  bởi 

tính tiện ích của nó đối với người tiêu dùng, nhất 

là trong trường học có tổ chức bán trú. Tuổi học 

sinh là độ tuổi đang phát triển nên rất cần năng 

lượng, cần thiết cho sự phát triển và học tập của 

các em. Do đó, việc tiêu thụ thực phẩm không an 

toàn chính là mối nguy cơ tiềm ẩn ngộ độc thực 

phẩm (NĐTP) và BTQTP trong trường học.  

Tại quận 11, 26 trường mầm non có tổ chức 

bếp  ăn  bán  trú,  100%  BATT  đều  được  cấp  giấy 

Chứng  nhận  đủ  điều  kiện  ATTP,  nhưng  qua 

kiểm tra thực tế nhiều năm liền, tình hình thực 

hiện vẫn còn có một số trường chưa đạt yêu cầu 

về một số nội dung liên quan đến ATTP(6). Đây 

chính  là điều  cảnh  báo NĐTP  có thể  xảy  ra  bất 

cứ lúc nào tại các BATT trường học. Bên cạnh đó 

việc  đánh  giá  kiến  thức,  thực  hành  của  NVCD, 

những  người  trực  tiếp  chế  biến  thực  phẩm  tại 

các  trường  mầm  non  vẫn  chưa  được  thực  hiện 

tại quận 11. 

Từ nhu cầu đảm bảo chất lượng ATTP trong  việc  tổ  chức  BATT  tại  trường  học,  đồng  thời  giúp cho ngành y tế địa phương có cơ sở đánh  giá thực trạng ATTP tại các trường, nhất là khối  mầm  non  để  từ  đó  xây  dựng  chương  trình  tập  huấn kiến thức ATTP cho nhân viên làm việc tại  BATT  phù  hợp  với  nhu  cầu  thực  tế,  chúng  tôi  chọn đề tài nghiên cứu “Kiến thức, thực hành về 

“Năm  chìa  khóa  cho  an  toàn  thực  phẩm”  của  NVCD các BATT trường mầm non quận 11, Tp. 

Hồ Chí Minh năm 2013”. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Nghiên  cứu  này  nhằm  xác  định  tỷ  lệ  kiến  thức và thực hành đúng về “Năm chìa khóa cho 

an  toàn  thực  phẩm”  của  NVCD  các  BATT  trường mầm non trên địa bàn quận 11. Các mục 

tiêu cụ thể: 

Xác  định  tỷ  lệ  NVCD  tại  trường  mầm  non  quận  11  có  kiến  thức  đúng  về  “Năm  chìa  khóa  cho an toàn thực phẩm”.  

 Xác  định  tỷ  lệ  NVCD  tại  trường  mầm  non  quận 11 có thực hành đúng về “Năm chìa khóa  cho an toàn thực phẩm”.  

 Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thực  hành đúng về nội dung “Năm chìa khóa cho an  toàn  thực  phẩm”  của  NVCD  trường  mầm  non  tại  quận  11,  thành  phố  Hồ  Chí  Minh  với  tuổi,  giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, thời gian làm  việc,  khám  sức  khỏe,  tập  huấn  ATTP  và  loại  hình hoạt động của cơ sở.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu cắt ngang mô tả. 

Trang 3

Toàn bộ 97 NVCD tại các BATT của trường 

mầm non trên địa bàn quận 11, TP.HCM.  

NVCD  được  định  nghĩa  trong  nghiên  cứu 

này  là những  nhân  viên  trực  tiếp  thực  hiện  các 

công việc liên quan đến quy trình chế biến thực 

phẩm  cho  trẻ  bao  gồm:  tiếp  phẩm,  cơ  chế,  xắt 

thái,  chế  biến  và  phân  phối  thức  ăn  cho  trẻ. 

NVCD  không  bao  gồm  những  nhân  viên  rửa 

chén, quét dọn trong BATT. 

Phương pháp thu thập 

Cán bộ điều tra sẽ quan sát trực tiếp thao tác 

thực hành của NVCD tại cơ sở vào buổi sáng và 

phỏng  vấn  kiến  thức  trực  tiếp  từng  nhân  viên 

vào buổi chiều. 

Sử  dụng  bộ  câu  hỏi  soạn  sẵn.  Thu  thập  dữ 

kiện sẽ được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 

và phân tích bằng phần mềm Stata 10.0.  

Thế  nào  là  “Năm  chìa  khóa  cho  an  toàn  thực 

phẩm” 

WHO đưa ra thông điệp về “Năm chìa khóa 

cho an toàn thực phẩm”nhằm giúp phòng tránh 

NĐTP và BTQTP một cách chủ động, với những 

hướng dẫn đơn giản, dễ thực hiện mà hiệu quả 

đã được kiểm chứng hơn 10 năm qua trên khắp 

thế giới, bao gồm các nội dung sau(7): 

Chìa khóa 1: Giữ vệ sinh sạch. 

Chìa khóa 2: Tách riêng thực phẩm sống và 

chín. 

Chìa khóa 3: Nấu chín kỹ. 

Chìa  khóa  4: Giữ  thực  phẩm  ở  nhiệt  độ  an 

toàn. 

Chìa  khóa  5: Dùng  nước  sạch  và  các  thực 

phẩm tươi, sạch. 

KẾT QUẢ 

Đặc tính mẫu nghiên cứu: 

Cỡ mẫu nghiên cứu là toàn bộ NVCD tại 26 

trường mầm non có bếp ăn bán trú trên địa bàn 

quận 11, TP.HCM. Trong đợt khảo sát vào tháng 

6‐7/2013,  có  94/97  nhân  viên  tham  gia  trả  lời 

phỏng  vấn  trực  tiếp  (chiếm  97%).  Có  03  nhân 

viên  không  có  mặt  trong  2  lần  hẹn  phỏng  vấn  nên loại ra khỏi nghiên cứu.  

Bảng 1: Mô tả đặc điểm dân số xã hội học của 

NVCD (n=94) 

Đặc tính mẫu nghiên cứu Tần số Tỷ lệ (%)

Tuổi

Giới tính

Dân tộc

Trình độ học vấn

Thời gian làm việc tại cơ sở

Khám sức khỏe (thẻ xanh ATTP)

Có khám sức khỏe

Tập huấn kiến thức VSATTP

Tập huấn kiến thức ATTP gần nhất

Đa  số  đối  tượng  tham  gia  nghiên  cứu  >  20  tuổi,  nhóm  có  độ  tuổi  từ  36‐50  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất là 68%. Hầu hết là NVCD nữ (99%), dân tộc  Kinh  chiếm  85%,  còn  lại  là  dân  tộc  Hoa.  Tất  cả  NVCD đều có trình độ học vấn từ lớp 1 trở lên,  trong đó tỷ lệ trình độ học vấn từ lớp 6‐12 chiếm  82%. Nhóm đối tượng có thời gian làm việc > 5  năm chiếm tỷ lệ cao nhất là 55%, nhóm có thời  gian  làm  việc  <  1  năm  chỉ  chiếm  13%.  Hầu  hết  NVCD  đều  khám  sức  khỏe  và  tập  huấn  ATTP  đầy  đủ,  trong  đó  98%  có  khám  sức  khỏe,  99% 

Trang 4

khám  theo  định  kỳ  6  tháng/lần,  98%  được  tập 

huấn  kiến  thức  ATTP,  63%  tập  huấn  cách  đây 

dưới 1 năm. 

Bảng 2: Kiến thức chung đúng về nội dung ʺNăm 

chìa khóa cho an toàn thực phẩm” (n=94) 

Nội dung Tần số Tỷ lệ %

Kiến thức đúng về CK 2: Tách riêng thực

Kiến thức đúng về CK 3: Nấu chín kỹ: 65 69

Kiến thức đúng về CK 4: Giữ thực phẩm ở

nhiệt độ an toàn

56 59,6

Kiến thức đúng về CK 5: Dùng nước sạch

và thực phẩm tươi sạch

37 39,4 Kiến thức chung đúng về “Năm chìa khóa

Theo  định  nghĩa  biến  số,  số  người  được 

phỏng  vấn  có  kiến  thức chung đúng  khi trả  lời 

đúng  ≥  19/24  câu  hỏi  về  nội  dung  “Năm  chìa 

khóa cho an toàn thực phẩm”.  

Kết  quả  phân  tích  cho  thấy  NVCD  có  kiến 

thức  đúng  về  chìa  khóa  1  và  2  là  cao,  còn  chìa 

khóa 3, 4, 5 rất thấp, trong đó thấp nhất là chìa 

khóa 5 chỉ có tỷ lệ đúng 39,4%. Kết quả kiến thức 

chung đúng đạt tỷ lệ 53%. 

Bảng 3: Mô tả thực hành của NVCD về nội dung 

“Năm chìa khóa cho an toàn thực phẩm”(n=94) 

Tần số Tỷ lệ (%)

Khu vực bếp -giữ sạch, không có động

Rửa rau quả tươi an toàn (ngâm kỹ, rửa

Thực phẩm chín được bày trên bàn

Sử dụng kẹp gắp hay bao tay khi phân

Dao thớt sống, chín riêng biệt, tốt nhất là

Có phân biệt thực phẩm sống, chín trong

Có phân biệt thực phẩm sống, chín trong

Sổ kiểm Thực 3 bước ghi chép đầy đủ

Bàn tay người chế biến sạch, móng tay

NVCD không bị nấm móng, viêm da

Tần số Tỷ lệ (%)

Nhân viên không đeo nhẫn, đồng hồ,

Nhân viên không hút thuốc lá, khạc nhổ

Nhân viên đội mũ, nón khi chế biến,

Nhân viên mặc tạp dề khi chế biến, phân

Nhân viên mang găng tay khi chế biến,

Nhân viên mang khẩu trang khi chế biến,

Thực hành chung đúng về nội dung

Tỷ  lệ  thực  hành  đúng  của  NVCD  đạt  khá  cao, tất cả 17 phần khảo sát đều đạt > 70%. Trong 

đó,  rửa  rau  quả  tươi  an  toàn,  thực  phẩm  chín  được  bày  trên  bàn  hoặc  giá  cao  cách  mặt  đất  ít  nhất 60 cm, nhân viên không hút thuốc lá, khạc  nhổ  trong  khu  vực  nhà  bếp,  phân  biệt  thực  phẩm sống, chín trong quá trình chế biến, có sổ  kiểm Thực 3 bước ghi chép đầy đủ và cập nhật  thường xuyên đều đạt rất cao 98‐100%. 

Tỷ lệ thấp rơi vào phần vệ sinh cá nhân chỉ  đạt  từ  75,5  ‐  86,2%,  trong  đó  thấp  nhất  là  nhân  viên  có  mang  găng  tay  khi  tham  gia  chế  biến,  phân  chia  thực  phẩm  chỉ  đạt  74,5%.  Quan  sát  thực  tế  94  NVCD  cho  kết  quả  88,3%  NVCD  có  thực hành chung đúng về ATTP.  

Bảng 4: Mối liên quan giữa kiến thức chung về 

“Năm chìa khóa cho an toàn thực phẩm” và đặc tính  mẫu (n=94) 

Đặc tính Kiến thức chung PR P

Đạt (%) Không đạt (%) KTC 95%

Thời gian làm

1,7 (1,1 – 2,6)

0,008

Kết quả phân tích cho thấy yếu tố thời gian  làm việc tại cơ sở có liên quan đến kiến thức của  NVCD (p < 0,05), hay nói cách khác tỷ lệ NVCD 

có thời gian làm việc tại cơ sở càng lâu thì kiến  thức  chung  đúng  tốt  hơn  tỷ  lệ  NVCD  có  thời 

Trang 5

này có ý nghĩa thống kê (p = 0,008, PR = 1,7, KTC 

95% của PR (1,1 – 2,6). 

Bảng 5: Mối liên quan giữa thực hành chung về 

“Năm chìa khóa cho an toàn thực phẩm” và đặc tính 

mẫu (n=94) 

Đặc tính Thực hành chung PR KTC 95% P

Đạt (%) Không đạt (%)

0,74

Kết  quả  cho  thấy  chỉ  có  sự  khác  biệt  giữa 

thực  hành  về  nội  dung  “năm  chìa  khóa  cho  an 

toàn  thực  phẩm”  và  loại  hình  cơ  sở  BATT  của 

trường,  tỷ  lệ  NVCD  các  BATT  của  các  trường 

công lập có thực hành ATTP đúng nhiều hơn tỷ 

lệ  NVCD  các  BATT  của  các  trường  dân  lập,  và 

sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,005, 

PR = 0,74, KTC 95% của PR: 0,59 – 0,92).  

Bảng 6: Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành 

chung đúng về nội dung “Năm chìa khóa cho an toàn 

thực phẩm” 

Kiến thức chung

ATTP

Thực hành chung ATTP KTC(95%) PR P Đúng

(%) Không đúng (%)

Nghiên  cứu  trên  cho  kết  quả  có  mối  liên 

quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức chung 

về  nội  dung  “Năm  chìa  khóa  cho  an  toàn  thực 

phẩm” với thực hành chung ATTP, cụ thể tỷ lệ 

NVCD  có  kiến  thức  chung  đạt  thì  thực  hành 

ATTP  tốt  hơn  tỷ  lệ  NVCD  có  kiến  thức  chung 

không  đạt  (p  <  0,05,  PR=1,2,  KTC  95%  của  PR 

(1,02 – 1,41)   

BÀN LUẬN 

Đặc tính mẫu 

Đối  tương  tham  gia  nghiên  cứu  là  NVCD 

đều > 20 tuổi, nhóm có độ tuổi từ 36‐50 chiếm tỷ 

lệ cao nhất là 68%, cho thấy ở độ tuổi này họ có 

nhiều  kinh  nghiệm  trong  việc  nấu  ăn,  có  tinh 

thần nghiêm túc với nghề và có sức khỏe để đầu 

tư và phục vụ cho công việc. Nữ chiếm 99% phù 

hợp với thực tế, NVCD tại các trường mầm non  thích  hợp  với  phụ  nữ  hơn  nam  giới.  Tất  cả  NVCD đều có trình độ học vấn từ lớp 1 trở lên,  trong đó tỷ lệ trình độ học vấn từ lớp 6‐12 chiếm  82%,  đây  là  dấu  hiệu  khả  quan  cho  thấy  lãnh  đạo địa phương đã đầu tư khá tốt cho việc bảo  đảm ATTP trong trường học.  

Nhóm  đối  tượng  có  thời  gian  làm  việc  >  5  năm  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  là  55%,  trong  khi  đó  nhóm  có  tỷ  lệ  thời  gian  làm  việc  <  1  năm  chỉ  chiếm  13%,  chứng  minh  đây  là  nghề  khá  ổn  định, NVCD gắn bó với công việc. 

Phần  lớn  NVCD  đều  có  khám  sức  khỏe  (98%),  khám  theo  định  kỳ  6  tháng/  lần  (99%). 

Có 98% NVCD được tập huấn kiến thức ATTP,  trong  đó  tỷ  lệ  tập  huấn  cách  đây  dưới  1  năm  chiếm  63%.  Đây  là  một  kết  quả  phù  hợp  với  báo  cáo  của  phòng  giáo  dục,  Trung  tâm  Y  tế 

dự  phòng  quận,  100%  BATT  các  trường  mầm  non  đều  đã  được  cấp  giấy  Chứng  nhận  đủ  điều kiện ATTP. 

Kiến thức về “Năm chìa khóa cho an toàn thực  phẩm” 

Kết quả phân tích có 53% số NVCD có kiến  thức chung đúng về nội dung “Năm chìa khóa  cho  an  toàn  thực  phẩm”,  hay  nói  cách  khác  gần  phân  nửa  số  NVCD  chưa  có  kiến  thức  chung đúng, điều này cho thấy đây vẫn là đối  tượng  cần  đặc  biệt  quan  tâm  hơn  nữa  trong  công  tác  tập  huấn  kiến  thức  vệ  sinh  an  toàn  thực phẩm. Kết quả này cao gấp 1,5 lần so với  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Thùy  Dương,  Lê  Đức  Thọ, Đỗ An Thắng có kết quả kiến thức chung  đúng của người chế biến đạt 33,9%(4). Tỷ lệ này 

có kết quả cao gần gấp 3 lần so với nghiên cứu  của  Nguyễn  Minh  Hùng  năm  2007  (19,4%)(2),  cho  thấy  nhân  viên  làm  việc  tại  BATT  khối  trường học có kiến thức về ATTP tốt hơn nhân  viên các BATT công ty xí nghiệp, khu chế xuất  công nghiệp. Tuy nhiên vì định nghĩa về kiến  thức chung đúng của nghiên cứu này khác với  nghiên cứu của các tác giả khác nên sự so sánh  chỉ mang tính tương đối. 

Trang 6

phẩm” 

Bảng  3  cho  thấy  phần  thực  hành  cần  chú  ý 

nhiều  hơn  rơi  vào  phần  vệ  sinh  cá  nhân  trong 

việc tuân thủ trang phục bảo hộ lao động, nhất 

là  việc  mang  găng  tay  khi  chế  biến,  phân  phối 

thực  phẩm  có  tới  1/4  số  nhân  viên  không  thực 

hành  đúng.  Dù  kết  quả  không  đạt  có  tỷ  lệ  khá 

thấp nhưng nội dung này quan trọng vì tuân thủ 

vệ sinh cá nhân góp phần rất lớn trong việc bảo 

đảm ATTP. 

Kết quả trên phù hợp với kết quả nghiên cứu 

của  Trần  Việt  Nga  tại  Hà  Nội  năm  2007(5)  có 

85,6%  nhân  viên  đạt  yêu  cầu  về  thực  hành 

VSATTP  và  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Thanh 

Khê(3)  có  tỷ  lệ  nhân  viên  thực  hành  đúng  về 

VSATTP là 87,5%. Điều này cho thấy việc hướng 

dẫn,  giám  sát  về  ATTP  trong  trường  mầm  non 

tại hai thành phố lớn là Hà nội và thành phố Hồ 

Chí  Minh  đã  được  thực  hiện  tốt,  nên  dù  kiến 

thức  còn  nhiều  điều  hiểu  sai  nhưng  cơ  bản 

NVCD  tuân  thủ  khá  đầy  đủ  những  yêu  cầu 

ATTP trong chế biến thực phẩm. 

Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành và 

đặc tính mẫu 

Bảng 4 cho thấy kết quả phân tích yếu tố thời 

gian làm việc tại cơ sở có liên quan đến kiến thức 

của NVCD (p < 0,05), hay nói cách khác NVCD 

có thời gian làm việc tại cơ sở càng lâu thì kiến 

thức chung đúng tốt có tỷ lệ gần gấp đôi NVCD 

có  thời  gian  làm  việc  ngắn  hơn  và  sự  khác  biệt 

này  có  ý  nghĩa  thống  kê.  Điều  này  cho  thấy 

NVCD  có  thâm  niên  làm  việc  sẽ  tích  lũy  nhiều 

kinh  nghiệm,  nhiều  lần  tham  gia  tập  huấn  về 

ATTP  và  được  thường  xuyên  nhắc  nhở  sau 

nhiều đợt kiểm tra giám sát nên kiến thức ngày 

càng được cập nhật đúng hơn. 

Qua phân tích bảng 5, nhận thấy có sự chênh 

lệch về thực hành ATTP giữa nhóm NVCD của 2 

khối trường công lập và dân lập. Cụ thể, NVCD 

trường  công  lập  có  tỷ  lệ  thực  hành  tốt  cao  hơn 

NVCD trường dân lập trên địa bàn quận 11. Kết 

quả  này  tương  đương  với  nghiên  cứu  của 

Nguyễn Thùy Dương(4), cho thấy việc tổ chức và  kiến  thức  vệ  sinh  an  toàn  thực  phẩm  ở  khối  trường  công  lập  tốt  hơn  so  với  khối  dân  lập.  Điều này tương đối phù hợp với tình hình hiện  nay  tại  quận  11,  NVCD  làm  việc  ở  các  trường  công lập ổn định hơn khối dân lập thường thay  đổi nhân sự. 

Kết quả ở bảng 6 cho thấy có mối liên quan 

có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và thực hành  ATTP của NVCD. NVCD có kiến thức chung về  ATTP đạt tốt thì có tỷ lệ thực hành tốt hơn gần  gấp  rưỡi  so  với  NVCD  không  đạt  về  kiến  thức  chung  ATTP.  Đây  là  kết  quả  tương  tự  kết  quả  nghiên  cứu  của  Đỗ  Thị  Thu  Trang(1)  cho  thấy  người có kiến thức đúng có thực hành đúng cao  gấp 1,3 lần so với người có kiến thức sai. 

Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế nếu 

có kiến thức đúng sẽ hiểu đúng về ATTP, từ đó  biết  cách  tránh  các  mối  nguy  gây  NĐTP  thông  qua việc thực hành tốt qui trình bảo đảm ATTP. 

Điểm hạn chế 

Bộ  câu  hỏi  của  nghiên  cứu  tuy  được  tham  khảo nhiều nguồn, nhưng vì đây là nghiên cứu  khoa học đầu tiên bản thân tôi thực hiện nên còn  nhiều  hạn  chế,  nội  dung  một  số  câu  hỏi  còn  mang  tính  chung  chung,  nhất  là  phần  định  nghĩa  kiến  thức  chung  chưa  được  chặt  chẽ.  Ngoài ra phần thực hành bên cạnh việc quan sát  thực tế, vẫn có những câu phải dựa vào những  câu  trả  lời  chủ  quan  của  đối  tượng  nên  có  thể  cho kết quả chưa được khách quan.  

Điểm mới và tính ứng dụng của nghiên cứu 

Đề  tài  nghiên  cứu  kiến  thức,  thực  hành  về  ATTP  của  NVCD  các  BATT  trường  mầm  non  tuy đã có khá nhiều tác giả trên cả nước nghiên  cứu, nhưng tại quận 11 TP. HCM, đây là nghiên  cứu mới được triển khai thực hiện. Bên cạnh đó  chúng tôi tham khảo nhiều nghiên cứu liên quan  khác,  hầu  hết  nghiên  cứu  về  phần  kiến  thức,  thực hành chung về ATTP, chưa tìm thấy nghiên  cứu  nào  trong  nước  về  đề  tài  liên  quan  đến 

“Năm  chìa  khóa  cho  an  toàn  thực  phẩm”,  một  thông điệp sức khỏe toàn cầu để đảm bảo quản 

Trang 7

thực phẩm do WHO phát động. 

Từ  nghiên  cứu  này  có  thể  làm  nền  tảng  để 

tiếp tục cho những nghiên cứu sâu hơn, mở rộng 

đối tượng nghiên cứu ở tất cả trường học có tổ 

chức bếp ăn bán trú, kể cả nhóm lớp giữ trẻ về 

việc thực hiện ATTP.  

KẾT LUẬN 

Đa số đối tượng trong mẫu nghiên cứu có độ 

tuổi từ 36‐50 tuổi, dân tộc Kinh, có trình độ học 

vấn từ lớp 6‐12, thời gian làm việc tại cơ sở trên 5 

năm, 98% đối tượng đều được khám sức khỏe và 

tập huấn ATTP. 

Tỷ  lệ  NVCD  có  kiến  thức  chung  đúng  về 

“Năm chìa khóa cho an toàn thực phẩm” chiếm 

53%,  trong  đó  tỷ  lệ  đạt  kiến  thức  đúng  về  chìa 

khóa  1  (giữ  vệ  sinh  sạch)  là  84%,  chìa  khóa  2 

(tách  riêng  thực  phẩm  sống  chín)  là  100%,  chìa 

khóa  3  (nấu  chín  kỹ)  là  69%,  chìa  khóa  4  (giữ 

thực  phẩm  ở  nhiệt  độ  an  toàn)  là  59,6%,  chìa 

khóa 5 (dùng nước sạch và thực phẩm tươi sạch) 

là 39,4%. 

Tỷ lệ NVCD thực hành đúng về “Năm chìa 

khóa cho an toàn thực phẩm” là 88,3%. 

NVCD  có  thời  gian  làm  việc  tại  cơ  sở  càng 

lâu thì  có  tỷ  lệ kiến thức  chung đúng  về  “Năm 

chìa  khóa  cho  an  toàn  thực  phẩm”tốt  hơn  gấp 

1,7 lần so với NVCD có thời gian làm việc tại cơ 

sở  ngắn  hơn.  NVCD  các  BATT  của  các  trường 

công  lập  có  tỷ  lệ  thực  hành  ATTP  đúng  nhiều 

hơn gấp 0,74 lần so với NVCD các BATT của các 

trường  dân  lập.  NVCD  có  kiến  thức  chung  về 

“Năm chìa khóa cho an toàn thực phẩm” đạt tốt 

thì có tỷ lệ thực hành tốt hơn gấp 1,2 lần so với 

NVCD không đạt về kiến thức chung về “Năm 

chìa khóa cho an toàn thực phẩm”. 

KIẾN NGHỊ 

Từ kết quả nghiên cứu trên, để nâng cao kiến 

thức, thực hành về ATTP cho NVCD các BATT 

của  trường  học,  chúng  tôi  xin  được  kiến  nghị 

những vấn đề sau: 

Phòng  Giáo  dục  đào  tạo  tăng  cường  kiểm 

tra,  giám  sát  hoạt  động  BATT  tại  các  trường, 

nhất là khối trường dân lập; Ban Giám hiệu nhà  trường cần có đầu tư hơn nữa về điều kiện cơ sở  bếp  nấu  ăn  tập  thể,  chú  ý  bố  trí  nhà  vệ  sinh,  phòng thay trang phục bảo hộ lao động, nơi rửa  tay đúng qui định, thường xuyên giám sát hoạt  động  các  BATT,  kịp  thời  chấn  chỉnh  những  sai  phạm của NVCD. 

Trung  tâm  Y  tế  dự  phòng  quận  xây  dựng  chương trình tập huấn kiến thức ATTP phù hợp  với  đối  tượng,  nội  dung  tập  huấn  cần  chú  ý  những phần kiến thức khảo sát chưa được hiểu  đúng như việc chăm sóc vết thương bàn tay để  tránh  nhiễm  khuẩn  thức  ăn,  ăn  tiết  canh  sẽ  không ATTP, nhiệt độ đun sôi nước dùng hoặc  súp phải từ 70C trở lên, nhiệt độ bảo quản thực  phẩm đã nấu chín < 5C hoặc > 60C, không nên 

rã đông thực phẩm ở nhiệt độ phòng và không  nên  trữ  thực  phẩm  quá  lâu  trong  tủ  lạnh,  cần  phải thời gian xét nghiệm nguồn nước theo định 

kỳ,  cách  rửa  rau  quả  ATTP  từ  đó  giúp  họ  hiểu  đúng  từ  đó  sẽ  thực  hành  tốt  hơn,  bảo  đảm  ATTP. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Đỗ  Thị  Thu  Trang,  Tô  Gia  Kiên  (2009).  Kiến  thức  và  thực  hành về vệ sinh ATTP của người chế biến thực phẩm tại các  bếp ăn tập thể trường học huyện Hóc Môn năm 2009. Y học  Thành Phố Hồ Chí Minh Năm 2010. 14 (1) 121‐129. 

2 Nguyễn  Minh  Hùng,  Nguyễn  Thị  Huỳnh  Mai,  Lê  Trường  Giang (2010). Tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm bếp ăn tập  thể  trên  địa  bàn  thành  phố  Hồ  Chí  Minh  và  các  giải  pháp  phòng ngừa ngộ độc thực phẩm. Y học TP Hồ Chí Minh.14  (1)88 ‐ 94. 

3 Nguyễn Thanh Khê (2010) Kiến thức và thực hành về các điều  kiện bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm của người chế biến  thực phẩm tại các bếp ăn tập thể các trường mầm non quận 6, 

TP. HCM năm 2010. Luận văn chuyên khoa cấp 1. Đại học Y  Dược Thành phố HCM. Tr. 59‐89. 

4 Nguyễn  Thùy  Dương,  Lê  Đức  Thọ,  Đỗ  An  Thắng  (2012).  Đánh giá KAP về an toàn thực phẩm của người quản lý, chế  biến và tại bếp ăn tập thể các trường mầm non nội thành Hà  Nội năm 2011. Tạp chí Y tế công cộng. 25(5) 43‐49. 

5 Trần  Việt  Nga  (2007).  Thực  trạng  điều  kiện  vệ  sinh  và  kiến  thức thực hành ATVSTP của người chế biến trong các bếp ăn  tập  thể  của  các  trường  mầm  non  quận  Hoàn  Kiếm,  Hà  Nội  năm 2007. Kỷ yếu hội nghị khoa học An toàn thực phẩm lần  thứ 4‐ 2007. Nhà xuất bản Y học. Hà Nội. Tr 337 – 44. 

6 Trung tâm y tế dự phòng Quận 11 (2012) Báo cáo tình hình  thực  hiện  an  toàn  thực  phẩm  năm  2012  của  Khoa  An  toàn  thực phẩm. Trung tâm y tế dự phòng quận 11. Tr. 4‐9. 

Trang 8

7 WHO  (2013).  Prevention  of  foodborne  disease:  Five  keys  to 

Accessed 18 April 2013. 

http://www.who.int/foodsafety/  Accessed 20 May 2013. 

Ngày nhận bài báo:       8/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   15/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 19:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w