1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Áp dụng kỹ thuật trưởng thành noãn cho các trường hợp kích thích buồng trứng có nguy cơ cao quá kích buồng trứng

5 42 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 264,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả kỹ thuật trưởng thành noãn trong những chu kỳ kích thích buồng trứng thụ tinh ống nghiệm (TTTON) có nguy cơ cao quá kích buồng trứng (QKBT). Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

ÁP DỤNG KỸ THUẬT TRƯỞNG THÀNH NOÃN CHO CÁC TRƯỜNG HỢP KÍCH THÍCH BUỒNG TRỨNG

CÓ NGUY CƠ CAO QUÁ KÍCH BUỒNG TRỨNG

Phùng Huy Tuân * , Vương Thị Ngọc Lan **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả kỹ thuật trưởng thành noãn trong những chu kỳ kích thích buồng trứng thụ

tinh ống nghiệm (TTTON) có nguy cơ cao quá kích buồng trứng (QKBT)

Phương pháp: Báo cáo loạt ca các trường hợp bệnh nhân kích thích buồng trứng TTTON có nguy cơ

cao QKBT được thực hiện IVM tại IVF Vạn Hạnh Bệnh nhân được kích thích buồng trứng (KTBT) bằng phác đồ down-regulation Nguy cơ cao QKBT được chẩn đoán khi bệnh nhân có trên 20 nang từ 10 - < 14mm trên 2 buồng trứng khi siêu âm và nồng độ estradiol > 2000 pg/ml vào ngày 6 của KTBT Bệnh nhân được dừng KTBT và chuyển sang thực hiện IVM Bệnh nhân được tiêm hCG 10.000 IU, sau đó, chọc hút lấy noãn non 36 giờ sau tiêm hCG Trưởng thành noãn được thực hiện trong 24 giờ, thụ tinh bằng kỹ thuật ICSI, chuyển phôi 2 ngày sau ICSI

Kết quả: Có 30 trường hợp nguy cơ cao QKBT được chuyển IVM Tuổi trung bình là 30,38 ± 3,1 Số

lượng noãn chưa trưởng thành thu được là 21,75 ± 9,13 Tỉ lệ trưởng thành noãn sau IVM là 72,3%, số phôi trung bình là 11,63 ± 8,51 Tất cả bệnh nhân đều được chuyển phôi, với tỉ lệ thai lâm sàng là 50% và không ghi nhận trường hợp QKBT nào

Kết luận: Áp dụng IVM cho các trường hợp nguy cơ cao QKBT an toàn và hiệu quả Chuyển IVM có thể là

một giải pháp tránh QKBT cho các trường hợp KTBT bằng phác đồ dài

Từ khóa: Thụ tinh ống nghiệm (TTTON), kỹ thuật trưởng thành noãn trong ống nghiệm (IVM), hội chứng

quá kích buồng trứng (QKBT)

ABSTRACT

RESCUE IN-VITRO MATURATION OF OOCYTES (IVM) IN STIMULATED IVF/ICSI CYCLES AT

HIGH RISK OF OVARIAN HYPERSTIMULATION

Phung Huy Tuan, Vuong Thi Ngoc Lan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 180 - 184

Objective: To assess the efficacy and safety of rescue IVM in stimulated IVF/ICSI cycles at high risk of

developing ovarian hyperstimulation syndrome (OHSS)

Method: This was a case-series study involving the cycles undergoing ovarian stimulation for IVF/ICSI

treatment and having high risk of OHSS at IVF VanHanh Ovarian stimulation was performed with

down-regulation protocol High risk of OHSS was defined as cycles had >/= 20 follicles of 10 - < 14 mm in both ovaries

and estradiol level was over 2000 pg/ml on day 6 of stimulation Cycles had ovarian stimulation stopped and was converted to IVM hCG 10,000 IU was administered Immature oocyte pick-up was performed 36 hours after hCG IVM process lasted for 24 hours, insemination was done by ICSI, embryo transfer was 2 days after ICSI

Results: Thirty cycles at high risk of OHSS were converted to IVM Mean age was 30.38 ± 3.1 Mean

* IVF Vạn Hạnh – BV Vạn Hạnh ** Bộ môn Phụ Sản - Đại học Y Dược TPHCM

Tác giả liên lạc: Bs Phùng Huy Tuân ĐT: 0903.665992 Email: bacsytuan@gmail.com

Trang 2

number of immature oocytes retrieved was 21.75 ± 9.13 The maturation rate was 72.3%, mean number of embryos was 11.63 ± 8.51 All cycles had fresh embryo transfer Clinical pregnancy was achieved in 15 cycles (50%) None of the patients developed any forms of OHSS

Conclusion: Rescue IVM is safe and effective IVM could be an alternative for the prevention of OHSS in

IVF/ICSI cycles stimulated with down-regulation protocol having high risk of OHSS

Key words: invitro fertilization (IVF), invitro maturation of oocytes (IVM), ovarian hyperstimulation

syndrome (OHSS)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng quá kích buồng trứng (QKBT) là

một trong những biến chứng thường gặp của

kích thích buồng trứng (KTBT) Trong các chu

kỳ thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), tỉ lệ

QKBT xảy ra khoảng từ 5 – 10% với QKBT nặng

cần nhập viện từ 2 – 3%(4,6) QKBT là tình trạng 2

buồng trứng đáp ứng quá mức với FSH làm các

nang noãn ở 2 buồng trứng phát triển nhiều, 2

buồng trứng căng to, nồng độ E2 tăng cao và

bệnh cảnh của tràn dịch đa màng Cơ chế bệnh

sinh của QKBT chưa được hiểu rõ, tuy nhiên

nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa

nồng độ hCG và VEGF (vascular endothelial

growth factor) do tế bào hạt tiết ra gây tăng tính

thấm thành mạch và tràn dịch đa màng(10)

Dự phòng QKBT là một vấn đề cần được

quan tâm trong quá trình KTBT Dự phòng chủ

động được ưu tiên hàng đầu với các biện pháp

có thể thực hiện như sử dụng liều đầu FSH phù

hợp để không gây phát triển quá nhiều nang

noãn hay siêu âm và định lượng nội tiết theo dõi

sự phát triển nang noãn cẩn thận từ đó điều

chỉnh liều FSH thích hợp Tuy nhiên, trong một

số trường hợp, đáp ứng buồng trứng không thể

tiên đoán được đưa đến nguy cơ QKBT Một số

biện pháp được đưa ra để dự phòng thụ động

QKBT trong các chu kỳ nguy cơ cao QKBT như

coasting, trữ phôi toàn bộ và chuyển phôi trữ

chu kỳ sau, sử dụng GnRH đồng vận thay cho

hCG để gây sự trưởng thành của noãn trong các

chu kỳ KTBT bằng phác đồ GnRH đối vận, sử

dụng đồng vận dopamin, truyền dung dịch cao

phân tử Các biện pháp dự phòng thụ động

giúp giảm được QKBT nhưng không có một

phương pháp nào là dự phòng tuyệt đối được

QKBT ở những trường hợp nguy cơ cao Không

tiêm hCG và hủy chu kỳ TTTON ở những bệnh nhân nguy cơ cao QKBT có thể tránh được QKBT tuy nhiên biện pháp này thường ít được bệnh nhân chấp nhận do đã tốn chi phí điều trị trước đó

Trưởng thành trứng non (In vitro maturation – IVM) là kỹ thuật nuôi trứng non giai đoạn GV đến giai đoạn trưởng thành MII trong in vitro Noãn sau khi đã trưởng thành sẽ được thụ tinh và nuôi cấy như các trường hợp TTTON bình thường Ưu điểm của kỹ thuật này

là tránh được QKBT do không hoặc chỉ sử dụng

ít thuốc KTBT IVM thường được chỉ định cho những bệnh nhân buồng trứng đa nang với số nang noãn thứ cấp nhỏ nhiều hơn bình thường

sẽ có nguy cơ QKBT khi KTBT làm TTTON(1) Bệnh nhân không KTBT hoặc chỉ KTBT nhẹ, siêu

âm theo dõi và chọc hút trứng khi có khoảng 10 nang < 10mm Dựa trên kỹ thuật và ưu điểm của IVM là chọc hút nang nhỏ, nuôi cấy cho trưởng thành và tránh QKBT, chúng tôi tiến hành chuyển IVM trong những chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm có nguy cơ QKBT cao nhằm dự phòng QKBT

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả chuyển IVM trong những chu kỳ TTTON với nguy cơ QKBT cao

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Báo cáo loạt ca

Phương pháp tiến hành

Chúng tôi tiến hành hồi cứu 30 trường hợp KTBT trong TTTON được chuyển sang IVM do nguy cơ QKBT cao từ 01/2008 đến 12/2009 tại bệnh viện Vạn Hạnh

Trang 3

Tất cả bệnh nhân được chỉ định làm TTTON

và tiến hành KTBT bằng phác đồ dài sử dụng

GnRH agonist từ ngày thứ 21 của chu kỳ trước

trong 14 ngày, sau đó kết hợp với FSH tái tổ

hợp Liều FSH được chỉ định tùy theo tuổi, nồng

độ FSH cơ bản, số nang thứ cấp đầu chu kỳ

(AFC) Trong quá trình theo dõi nang noãn, nếu

bệnh nhân có trên 20 nang từ 10mm đến dưới

14mm trên 2 buồng trứng khi siêu âm và nồng

độ estradiol > 2000 pg/ml vào ngày 6 của kích

thích buồng trứng thì được chẩn đoán là nguy

cơ cao QKBT và được chuyển IVM

Bệnh nhân được tiêm hCG 10.000 đơn vị

(Pregnyl 5000IU, Schering Plough) và được chọc

hút noãn khoảng 36 – 40 giờ sau hCG Noãn

được chọc hút bằng máy, sử dụng kim chuyên

dụng loại hai nòng (Kitazato, Nhật) Noãn được

trưởng thành trong môi trường IVM (Medicult,

Đan Mạch) trong điều kiện 6% CO2, 7% O2, 87%

N2 trong 25-26 giờ Chúng tôi sử dụng môi

trường cấy phức tạp nhiều thành phần, có pha

thêm huyết thanh của chính phụ nữ thực hiện

điều trị và FSH, hCG và hormon tăng trưởng

(GH) cần thiết cho sự phát triển của noãn Sau

đó kiểm tra số noãn trưởng thành vào 25 - 26 giờ

sau Noãn trưởng thành sẽ được tiêm tinh trùng

vào bào tương để thụ tinh Quá trình nuôi cấy

phôi diễn ra như trong các trường hợp TTTON

bình thường, sử dụng hệ thống môi trường của

Medicult Phôi được chuyển vào buồng tử cung

hai ngày sau đó Hỗ trợ làm tổ của phôi được

thực hiện bằng cách cho bệnh nhân sử dụng

phối hợp estradiol 8mg/ngày (Progynova 2mg,

Schering, uống) và progesterone 90mg/ngày

(dạng gel bơm âm đạo, Crinone 9%, Merck

Serono)

Thử thai 14 ngày sau chuyển phôi Nếu kết

quả thử thai dương tính, bệnh nhân sẽ được tiếp

tục sử dụng estradiol và progesterone như trên

đến khi thai được 12 tuần Siêu âm thai sẽ được

tiến hành 3 tuần sau thử thai

Các yếu tố đánh giá kết quả

Số noãn chọc hút trung bình, tỷ lệ noãn

trưởng thành sau nuôi cấy, tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ

phôi tốt, tỷ lệ thai lâm sàng và tỉ lệ QKBT

KẾT QUẢ

Từ 01/2008 đến 12/2009 có 30 trường hợp nguy cơ QKBT cao trong TTTON được chuyển sang IVM Đặc điểm bệnh nhân được mô tả ở

bảng 1

Bảng 1

Kết quả

Chỉ định

Đặc điểm chu kỳ điều trị bảng 2

Bảng 2

Kết quả

Số nang < 14mm khi chuyển

sang IVM

29,5 ± 7,7 Nồng độ E2 khi chuyển sang

IVM

2185 ± 830

Kết quả 30 trường hợp chuyển sang IVM

được mô tả bảng 3

Bảng 3

Kết quả

BÀN LUẬN Tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ QKBT và thời điểm chuyển từ KTBT sang IVM

Đối với các phương pháp dự phòng QKBT thụ động như coasting, trữ phôi toàn bộ, sử dụng GnRH đồng vận thay cho hCG để gây sự

Trang 4

trưởng thành của noãn.v.v., bệnh nhân được

chẩn đoán có nguy cơ cao QKBT trong đa số các

nghiên cứu là khi siêu âm có trên 20 nang >

15mm và nồng độ E2 > 6000 – 10000 pg/ml Từ

đó, chúng tôi đề ra tiêu chuẩn đánh giá nguy cơ

QKBT dựa vào số lượng nang noãn và kích

thước nang noãn trên siêu âm Bệnh nhân có

trên 20 nang từ 10mm đến dưới 14mm trên 2

buồng trứng khi siêu âm thì được chẩn đoán là

sẽ có nguy cơ cao QKBT và được chuyển IVM

Chúng tôi chủ động chuyển IVM khi nang <

14mm do những nang ≥ 14mm được xem là

những nang vượt trội, khi đó nang noãn tự phát

triển mà không cần gonadotrophins(3) và tế bào

hạt đã hình thành nhiều trong nang noãn sẽ

tăng tiết VEGF và dưới tác dụng của hCG sẽ gây

QKBT(10) Do đó, nếu chờ đến khi nang noãn

vượt trội ≥ 14mm mà chuyển sang IVM khi tiêm

hCG 10.000 IU thì không thể tránh được QKBT

Sự khác biệt chính giữa IVM và “chuyển

IVM” là thời điểm lấy noãn Đối với IVF bình

thường, thời điểm cho hCG khi có nang vượt

trội ≥18mm và nồng độ E2 trong máu đã đủ

Ngược lại trong IVM thời điểm chọc hút noãn

khi nang lớn nhất <10mm Nghiên cứu cho

thấy trong IVM chọc hút noãn khi nang lớn

nhất >10mm sẽ giảm đáng kể số noãn thu

được(2) Russell thấy số trứng thu được, tỉ lệ

trưởng thành, tỉ lệ thụ tinh giảm đáng kể ở

những chu kỳ có nang vượt trội >14mm(8)

Thường khi có nang vượt trội >14mm, một số

nang nhỏ hơn sẽ bị thoái hóa đi từ đó sẽ thu

được trứng ít hơn(1) Thời điểm lựa chọn

chuyển IVM của chúng tôi là khi nang lớn

nhất <14mm

Hiệu quả chuyển IVM ở các chu kỳ KTBT

làm IVF/ICSI

Trong 30 trường hợp chuyển IVM, tất cả

bệnh nhân đều được chọc hút noãn Số noãn

trung bình là 21,75 trứng Tỉ lệ noãn trưởng

thành là 72,36% Số phôi chuyển trung bình là

4,38 phôi Chúng tôi có 15 trường hợp có thai

lâm sàng chiếm tỉ lệ 50% Trong 30 trường hợp

trên không có trường hợp nào bị QKBT

Chưa có nhiều nghiên cứu chuyển từ IVF sang IVM trong dự phòng QKBT, chỉ có 1 vài trường hợp báo cáo trên thế giới Veeck và cộng

sự báo cáo 2 trường hợp có thai trong 15 trường hợp chuyển từ chu kỳ kích thích buồng trứng sang IVM nhưng cuối cùng bị sẩy thai(9) Một trường hợp thành công từ nuôi trưởng thành trứng GV ở bệnh nhân tiêm hCG khi nang vượt trội 16mm(7) Jaroudi báo cáo một trường hợp có thai lâm sàng khi chuyển sang IVM để dự phòng QKBT, tuy nhiên trường hợp này đã bi sẩy thai khi thai 24 tuần(5)

Ứng dụng của chuyển IVM trong các trường hợp KTBT làm IVF/ICSI

Nhược điểm của các phương pháp dự phòng QKBT thụ động là tỉ lệ thành công không cao (coasting), kéo dài thời gian điều trị (trữ phôi toàn bộ), phác đồ hỗ trợ hoàng thể chưa ổn định (GnRH đồng vận thay hCG gây trưởng thành noãn), cũng như không tránh được hoàn toàn tình trạng QKBT Từ kết quả nghiên cứu trên cho thấy chuyển IVM ở những chu kỳ KTBT TTTON có nguy cơ QKBT có thể được xem là phương pháp dự phòng QKBT chủ động, giúp bệnh nhân vẫn được chuyển phôi tươi thay vì phải trữ phôi toàn bộ trên những chu kỳ này mà vẫn tránh được hoàn toàn QKBT

và duy trì tỉ lệ thành công cao

KẾT LUẬN

Chuyển IVM trong những trường hợp KTBT

có nguy cơ cao QKBT bước đầu cho kết quả khả quan, tỉ lệ thai lâm sàng 50% và không có trường hợp QKBT nào được ghi nhận IVM có thể là một giải pháp hiệu quả tránh QKBT và tỉ

lệ có thai tốt cho các bệnh nhân kích thích buồng trứng bằng phác đồ dài

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BioMed Online; 8: 148-166

vitro of human oocytes from unstimulated cycles: selection of the optimal day for ovum retrieval based on follicular size Hum Reprod; 14: 1864-1868

follicular aspiration compared with coasting for the prevention

Trang 5

of severe ovarian hyperstimulation syndrome: a prospective

randomized study Hum Reprod; 14: 1421-1425

hyperstimulation syndrome using agonists of gonadotrophin

releasing hormone for in vitro fertilization: a European series

and a proposal for prevention Fertil Steril; 53: 502-509

transfer of embryos which were generated from in vitro

matured oocytes Hum Reprod 1997; 12: 857-859

and the ovarian hyperstimulation syndrome Hum Reprod; 7:

579-600

7 Nagy Z, Cecile J, Liu J et al (1996) Pregnancy and birth after intracytoplasmic sperm injection of in vitro matured germinal vesicle stage oocytes: case report Fertil Steril; 65: 1047-1050

maturation Curr Opin Obstet Gynecol;11: 289-296

morphologically immature oocytes in a program og in vitro fertilization Fertil Steril; 39: 594-602

Y (2002) Human chorionic gonadotropin-induced ovarian hyperstimulation syndrome is associated with up-regulation of vascular endothelial growth factor J Clin Endocrinol Metab; 87: 3300–3308

Ngày đăng: 22/01/2020, 19:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w