1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả bước đầu phẫu thuật chuyển vị dạ dày lên ngực trong điều trị teo ‐ hẹp thực quản đoạn dài có nội soi hỗ trợ tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

5 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 396,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá kết quả bước đầu ứng dụng phẫu thuật thay thế thực quản bằng phương pháp chuyển vị dạ dày lên ngực nội soi hỗ trợ điều trị teo, hẹp thực quản đoạn dài tại bệnh viện Nhi Đồng 2. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

TRONG ĐIỀU TRỊ TEO ‐ HẸP THỰC QUẢN ĐOẠN DÀI  

CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 

Trần Thanh Trí*, Trần Quốc Việt*, Vương Minh Chiều*, Trần Vĩnh Hậu* 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu:  Đánh  giá  kết  quả  bước  đầu  ứng  dụng  phẫu  thuật  thay  thế  thực  quản  bằng  phương 

pháp chuyển vị dạ dày lên ngực nội soi hỗ trợ điều trị teo, hẹp thực quản đoạn dài tại bệnh viện Nhi  Đồng 2. 

Phương phápnghiên cứu: Mô tả các trường hợp phẫu thuật từ 1/2012 – 6/2013.  

Kết  quả: Có 2 trường hợp bé gái được phẫu thuật. Không trường hợp nào phải chuyễn mổ hở. 

Không ghi nhận biến chứng nặng nề nào trong lúc mổ. Hiện cả 2 trường hợp diễn tiến tốt.   

Kết luận: Đây là một phẫu thuật an toàn, cho kết quả tốt, tính thẫm mỹ cao. 

Từ khóa: Phẫu thuật chuyển vị dạ dày, điều trị teo hẹp thực quản  

ABSTRACT 

LAPAROSCOPICALLY‐ASSISTED GASTRIC PULL‐UP OPERATION FOR LONG GAP ESOPHAGEAL 

ATRESIA AT CHILDRENʹS HOSPITAL 2 

Tran Thanh Tri, Tran Quoc Viet, Vuong Minh Chieu, Tran Vinh Hau 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 17 ‐ 21 

Objectives: The aim of this study was to evaluate the initial results of laparoscopically assisted 

gastric pull up for long gap esophageal atresia at the Childrenʹs Hospital 2. 

Methods: Cases series reports from 1/2012 ‐ 6/2013  

Results: There were 2 girls who underwent this kind of operation. No conversion to open surgery. 

No significant complication was noted during operation. The outcome is good. 

Conclusions: This is a safe operation, good results, and highly aesthetic. 

Key words: Laparoscopically assisted gastric pull‐up, esophageal atresia, long gap  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Phẫu  thuật  thực  quản  được  thực  hiện  ở  trẻ 

em  chủ  yếu  là  điều  trị  bệnh  lý  teo  thực  quản 

bẩm  sinh.  Trong  đó,  những  bệnh  lý  teo  thực 

quản đoạn dài, hoặc hẹp thực quản do hóa chất 

nặng phải cần phẫu thuật thay thế thực quản(9). 

Trong những trường hợp này có thể sử dụng 

hồi  tràng,  đại  tràng,  dạ  dày(9,4).  Phẫu  thuật 

chuyển  vị  dạ  dày  trong  điều  trị  teo  thực  quản 

đoạn dài theo y văn được nhiều tác giả thực hiện 

và tỏ ra ưu điểm hơn so với các vật liệu khác(2,3).  Trước  năm  2003,  phẫu  thuật  này  chỉ  thực  hiện  mổ  mở.  Bệnh  viện  Nhi  Đồng  2  cũng  đã  thực hiện 8 trường hợp mổ hở(7). Tác giả Ure là  người đầu tiên thực hiện phẫu thuật này có nội  soi  hỗ  trợ  dựa  trên  nguyên  lý  phẫu  thuật  của  Spitz(11). 

Tại  Việt  Nam,  tác  giả  Nguyễn  Thanh  Liêm 

đã ứng thành công phẫu thuật này trong điều trị  teo thực quản đoạn dài. Đây là một phẫu thuật 

* Bệnh viện Nhi Đồng 2 

Trang 2

trung  tâm  phẫu  thuật  Nhi  lớn  áp  dụng,  và  số 

lượng  trường  hợp  phẫu  thuật  cũng  không 

nhiều.  Do  đó,  trong  bài  viết  này  chúng  muốn 

đánh giá kết quả bước đầu ứng dụng phẫu thuật 

này tại bệnh viện Nhi Đồng 2. 

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 

Đại cương 

Phân  loại:  Teo  thực  quản  bẩm  sinh  có  tần 

suất khoảng 1/4000 trẻ sinh sống. Teo thực quản 

được  chia  là  5  típ.  Típ  C  là  thường  gặp  nhất 

(85,6%), tiếp theo là típ A (7,8%). Típ A thường 

là teo thực quản đoạn dài. 

 

Chỉ định phẫu thuật thay thế thực quản(9). 

Teo  thực  quản  đoạn  dài,  không  thể  nối  thì 

đầu sau khi đã trì hoãn phẫu thuật; hoặc trong 

trường  hợp  teo  thực  quản  có  biến  chứng  cần 

phẫu thuật lại nhưng không làm lại được miệng 

nối. 

Hẹp thực quản do hóa chất không đáp ứng 

với nong thực quản. 

Ngoài ra còn các bệnh lý khác như: rối loạn 

nhu động thực quản, u thực quản lành tính loan 

tỏa. 

Các  phương  pháp  điều  trị  thay  thế  thực 

quản(9) 

Có 4 phương pháp được sử dụng để điều trị 

thay thế thực quản: 

Chuyển vị đại tràng 

Tạo hình thực quản bằng ống dạ dày 

Chuyển vị hỗng tràng 

Chuyển vị dạ dày. 

Phẫu thuật điều trị thay thế thực quản bằng 

chuyển  vị  dạ  dày  được  nhiều  tác  giả  sử  dụng 

nhất với nhiều lý do(9,6,1,10): 

Nguồn máu nuôi tốt 

Đủ dài để kéo lên tới cổ tạo miệng nối  Phẫu thuật chỉ có 1 miệng nối 

Tỷ lệ xì dò hoặc hẹp miệng nối thấp. 

Kỹ  thuật  tương  đối  đơn  giản  hơn  so  với  những phẫu thuật khác. 

Phẫu thuật chuyển vị dạ dày có nội soi hỗ  trợ trong điều trị thay thế thực quản 

Chuẩn bị trước mổ 

Bệnh nhân sẽ nhịn ăn trong 24 giờ trước mổ, 

và  nuôi  ăn  tĩnh  mạch.  Cần  chuẩn  bị  ruột  trước 

mổ làm sạch đại tràng. 

Kỹ thuật mổ 

Vị trí kíp mổ & Tư thế bệnh nhân 

Bệnh nhân nằm ngữa, chân hơi dạng. Dùng 

2  gối  đệm  để  kê  cổ  và  kê  dưới  ngực.  Đầu  nghiêng trái.  

Phẫu thuật viên đứng phía chân bệnh nhân  nhìn  về  màn  hình  thao  tác  ở  phía  đầu  bệnh 

nhân. Hai người phụ đứng 2 bên  

Vị trí đặt trocart 

Tất cả các bệnh nhân đều có mở dạ dày ra da 

vị  trí  ¼  trên  trái  ổ  bụng  và  sẹo  mổ  cũ  đường  giữa bụng cũ lúc mở dạ dày ra da.  

Dùng 4 trocart: 

Một trocart 5 mm ở rốn.  

Một  trocart  5  mm  sẽ  đặt  ở  vị  trí  sau  khi  đã  đóng lỗ mở dạ dày. 

Một trocart 3 mm ở ¼ bụng trên bên phải.  Một  trocart  3  mm  nữa  cho  người  phụ  giúp  cho phẫu thuật viên chính khi thao tác. 

Bơm  CO2  vào  ổ  phúc  mạc:  duy  trì  áp  lực  dưới 12 mmHg. 

Sau  khi  vào  bụng  trocart  rốn,  dùng  camera  quan  sát  dây  dính  ổ  bụng,  vào  tiếp  các  trocart  còn lại và bóc tách gỡ dính. 

Bóc tách di động dạ dày: Tách mạc nối lớn,  đại tràng, dây chằng dạ dày lách vùng bờ cong  lớn; tách dây chằng gan lách vùng mạc nối nhỏ.  Tạo hình cơ môn vị. 

Trang 3

Bóc  tách  tạo  khoang  trung  thất  sau  qua  lỗ 

thực quản cơ hoành dưới nội soi. 

Kéo dạ dày nối với đoạn thực quản trên ở 1 

đường mổ trên nền cổ bên phải. 

Dùng dao cắt đốt siêu âm để bóc tách. 

Mục tiêu nghiên cứu  

Mục tiêu tổng quát 

Đánh  giá  kết  quả  của  những  trường  hợp 

phẫu thuật nội soi hỗ trợ chuyển vị dạ dày lên 

ngực  thay  thế  thực  quản  tại  bệnh  viện  Nhi 

Đồng 2. 

Mục tiêu chuyên biệt 

Khảo  sát  các  đặc  điểm  lâm  sàng,  cận  lâm 

sàng. 

Khảo  sát  đặc  điểm  phẫu  thuật:  Chẩn  đoán, 

thời gian phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật. 

Ghi nhận quá trình hậu phẫu: Thời gian hậu 

phẫu, thời gian cho ăn lại, biến chứng. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu  

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật nội soi hỗ 

trợ  chuyển  vị  dạ  dày  lên  ngực  thay  thế  thực 

quản. 

Thiết kế nghiên cứu 

Mô tả. 

Thời gian nghiên cứu 

Từ tháng 10/2012 đến tháng 6/2013. 

Cách tiến hành 

Những bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật sẽ 

được  chuẩn  bị,  phẫu  thuật  và  ghi  nhận  theo 

bảng mẫu:  

Tuổi. 

Giới. 

 Cân nặng. 

Chẩn đoán trước mổ. 

Thời gian phẫu thuật. 

Biến chứng trong phẫu thuật. 

Chuyển mổ hở. 

Thời gian cho ăn lại. 

Thời gian nằm viện. 

Biến chứng hậu phẫu. 

Quản lý và xử lý số liệu: Nhập số liệu bằng  phần mềm Excel. 

KẾT QUẢ  

Chúng  tôi  đã  thực  hiện  được  2  trường  hợp  phẫu thuật chuyển vị dạ dày lên ngực có hỗ trợ  nội soi. 

Trường hợp 1 

Bệnh  nhân  Phạm  Thị  Tường  V.  Giới  :nữ,  Sinh ngày: 29/4/2011 

Sau sinh được chẩn đoán teo thực quản type  A;  và  được  phẫu  thuật  mở  dạ  dày  ra  da  lúc  2  ngày tuổi. 

Bé được chụp X quang đầu trên thực quản, 

và  đầu  dưới  qua  ngả  gastrostomy  nhằm  đánh  giá khoảng cách 2 đầu thực quản. 

Thực hiện phẫu thuật ngày 13/2/2012. 

Trong  mổ  không  ghi  nhận  biến  chứng,  không phải chuyển mổ hở. 

Sau mổ, có các vấn đề: 

Toan chuyển hóa. 

Nhiễm khuẩn nặng. 

Xì  rò  miệng  nối  (chụp  phim  thực  quản  cản  quang) và tràn dịch màng phổi P lượng nhiều.  Bệnh  nhân  được  đặt  dẫn  lưu  màng  phổi  P,  điều  trị  bảo  tồn  tích  cực  tại  khoa  hồi  sức.  Tình  trạng nhiễm khuẩn và xì rò hết trên phim chụp  thực  quản  cản  quang  hậu  phẫu  ngày  17.  Đến  ngày 20, bé được bắt đầu vật lý trị liệu, tập cho 

ăn uống lại bằng đường miệng.  

Bệnh nhân xuất viện ngày 29 hậu phẫu.  Hiện  tại  bé  26  tháng  tuổi,  ăn  uống  bằng  đường miệng tốt. Có trào ngược tá tràng dạ dày  mức độ nhẹ. 

Chế độ ăn: Ngày 3 cữ cơm cháo, uống sữa 3  lần mỗi lần 120 – 140 ml.  

Trang 4

Bệnh nhân Nguyễn Hồng A. Giới : nữ, sinh 

ngày 6/6/2012. 

Sau sinh được chẩn đoán teo thực quản type 

A,  bất  sản  hậu  môn  trực  tràng;  và  được  phẫu 

thuật  mở  dạ  dày  ra  da,  làm  hậu  môn  tạm  đại 

tràng sigma. 

Thực hiện phẫu thuật ngày 12/3/2013. 

Biến chứng trong mổ: Rách màng phổi P nên 

bệnh nhân được đặt dẫn lưu màng phổi P.  

Không chuyển mổ hở. 

Hậu  phẫu:  Viêm  phổi  T  đáp  ứng  tốt  với 

kháng sinh và bệnh nhân diễn tiến tốt. X quang 

thực quản cản quang không xì rò. Rút ống dẫn 

lưu màng phổi Hp ngày 7.  

Tập vật lý trị liệu và ăn lại sau 7 ngày. 

Hiện tại: Bé ăn uống bằng đường miệng tốt, 

thỉnh thoảng có ọc sữa. Nhập viện một lần sau 

mổ vì nhiễm khuẩn tiêu hóa. 

Kết quả phẫu thuật của  2  trường  hợp  được 

mô tả trong bảng sau: 

Đặc điểm Trường hợp 1 Trường hợp 2

type A

P

Xì rò miệng nối

26 Viêm phổi

BÀN LUẬN  

Chỉ định phẫu thuật 

Phẫu  thuật  điều  trị  thay  thế  thực  quản  ít 

được thực hiện ở trẻ em. Đa số trường hợp chỉ 

định trong teo thực quản đoạn dài mà không thể 

nối  1  thì  ngay  khi  đã  trì  hoãn  phẫu  thuật 

(thường sau 12 tuần sau sinh) hoặc  tổn  thương 

do hóa chất thất bại với điều trị nong bảo tồn(3). 

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 2 trường hợp là  teo thực quản típ A. 

Hai  trường  hợp  được  chụp  2  đầu  trên  và  dưới thực quản cản quang để đánh giá khoảng  cách  giữa  2  đầu.  Chỉ  định  phẫu  thuật  khi  khoảng cách này trên 4 đốt sống ngực, hoặc trên 

6  cm.  Tuy  nhiên  chỉ  định  cụ  thể  phụ  thuộc  rất  nhiều vào trình độ, kinh nghiệm của phẫu thuật  viện(2).  

Phương pháp phẫu thuật 

Vật  liệu  thay  thế  tùy  thuộc  vào  mỗi  phẫu  thuật viên. Trong đó dạ dày, đại tràng, tạo hình  thực  quản  bằng  ống  dạ  dày  là  3  phương  pháp  được  sử  dụng  nhiều  nhất.  Chuyển  vị  dạ  dày  được  nhiều  tác  giả  sử  dụng  vì  phẫu  thuật  đơn  giản, ít nguy cơ hơn, và cho kết quả tốt(3,9,10).  Bàn cãi tiếp theo là đường mổ trung thất sau  hay  trước  xương  ức.  Một  số  tác  giả  ngại  biến  chứng tổn thương mạch máu lớn, trào ngược tá  tràng  ‐  dạ  dày  khi  dùng  đường  trung  thất  sau.  Tuy  nhiên,  rất  nhiều  tác  giả  sử  dụng  phương  pháp chuyển vị dạ dày qua trung thất sau, và dự  phòng  đường  trước  xương  ức  cho  trường  hợp  thất bại. Đặc biệt, hiện nay với sự phát triển của  nội  soi,  việc  tạo  khoang  trung  thất  sau  khá  an  toàn dưới quan sát camera(3,11,8). 

Với  sự  phát  triển  vượt  bật  của  công  nghệ  (dụng cụ, máy nội soi, dao siêu âm), gây mê hồi  sức và tay nghề phẫu thuật viên ngày càng hoàn  thiện  thì  kết  quả  ngày  càng  tốt  hơn,  khả  quan  hơn, tính thẩm mĩ cao. 

Thời điểm phẫu thuật 

Chúng tôi chọn thời điểm phẫu thuật khi trẻ  được khoảng 10 kg, 10 tháng tuổi. Theo tác giả  Nguyễn Thanh Liêm là khoảng 9 tháng tuổi, còn  Ure là 3 tháng. Chúng tôi chọn 10 tháng tuổi: Vì  phẫu  thuật  này  khá  phức  tạp  và  kéo  dài  nên  ở  lứa  tuổi  này  gây  mê  hồi  sức  cho  phẫu  thuật  thương đối an toàn. Mặt khác, túi cùng trên thực  quản  có  thể  kéo  dài  thêm  theo  tuổi  giúp  phẫu  thuật dễ dàng hơn, miệng nối bớt căng. Có một  hạn chế là phẫu thuật muộn trẻ sẽ viêm phổi hít  kéo dài, ảnh hưởng sự phát triển cũng như chức 

Trang 5

năng  của  phổi.  Chúng  tôi  không  thực  hiện  mở 

túi  cùng  thực  quản  tên  ra  da  cho  tất  cả  các 

trường hợp. 

Tính an toàn phẫu thuật 

Thời  gian  mổ  trung  bình  5  –  6  giờ.  Tác  giả 

Ure và Nguyễn Thanh Liêm là 4,5 giờ.  

Biến chứng trong mổ: Chúng tôi có 1 trường 

hợp rách màng phổi P. 

Hậu phẫu 

Tình  trạng  viêm  phổi,  nhiễm  khuẩn,  toan 

chuyển  hóa  là  những  vấn  đề  lớn  ở  các  bệnh 

nhân phẫu thuật này. Việc hồi sức tích cực trong 

1 đến 2 tuần hậu phẫu là cực kỳ quan trọng, ảnh 

hưởng trực tiếp đến kết quả phẫu thuật. 

Biến chứng xì rò miệng nối có thể xảy ra và 

thường tự lành. 

Tính thẩm mỹ cao với các sẹo mổ rất nhỏ. 

Tiên lượng  

Nhiều  tác  giả  ghi  nhận  biến  chứng  trào 

ngược tá  tràng  dạ  dày,  hẹp  miệng  nối,  rối  loạn 

vận  động  thực  quản (11,9) Hai  trường  hợp  chúng 

tôi  đến  thời  điểm  hiện  tại  diễn  tiến  khá  tốt,  và 

cần được theo dõi về lâu dài hơn nữa. 

KẾT LUẬN 

Phẫu thuật chuyển vị dạ dày điều trị teo và 

hẹp thực quản đoạn dài có nội soi hỗ trợ là một 

lựa chọn trong điều trị nhóm bệnh lý phức  tạp 

này ở trẻ em. 

Kết  quả  bước  đầu  cho  thấy  phẫu  thuật  này 

an  toàn,  khả  thi.  Tuy  nhiên  cần  nhiều  nghiên 

cứu  hơn  nữa  và  đòi  hỏi  quá  trình  theo  dõi  lâu  dài những biến chứng về sau. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

esophagogastrostomy  in  infancy  and  childhood  with  particular  reference  to  the  longterm  results  and  operative  mortality. J Pediatr Surg, 15: pp 303‐304. 

atresia.  Personal  experience  and  review  of  the  literature,  Divisione di Chirurgia Pediatrica, Policlinico Universitario A.  Gemelli, Roma, Ann Ital Chir. 78(5): pp 385‐8. 

replacement in infants and children by colon interposion. Am 

J Surg. 144: pp 29‐31. 

a  technique  for  jejunal  interposition  in  long  gap  esophageal  atresia. J Pediatr Surg. 28: pp 990‐993. 

esophageal injury. J Pediatr Surg. 33: pp 1363‐1365. 

transposition for esophageal atresia. J Pediatr Surg 38: pp 53‐

57 

Corbally (2011). Phẫu thuật tạo hình thực quản bằng chuyển 

vị dạ dày, Tạp Chí Y Học Tp. Hồ chí minh số 3, tập 15, tr 21. 

assisted esophagectomy with esophagogastroplasty for post‐ corrosive  esophageal  stricture  treatment  in  children.  Pediatr  Surg Int 23: pp 545‐549. 

substitution in children. J Pediatr Surg 27: pp 252‐259. 

for  infants  with  long‐gap  esophageal  atresia.  J  Pediatr  Surg  19: pp 49‐50. 

long gap esophageal atresia. J Pediatr Surg 38: pp 1661‐1662.   

Ngày nhận bài        08/07/2013.  Ngày phản biện  nhận xét bài báo  20/07/2013.  Ngày bài báo được đăng:    15–09‐2013 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 19:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w