1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả khoét chóp bằng vòng điện các tổn thương tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ II & III

7 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 229,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả khoét chóp bằng vòng điện điều trị tân sinh trong biểu mô cổ TC từ 01/2001-01/2007 tại bệnh viện Từ Dũ. Nghiên cứu tiến hành trên tất cả phụ nữ có chẩn đoán tân sinh trong biểu mô cổ TC độ 2 và 3 có chỉ định khoét chóp cổ TC, từ 01/2001 đến 01/2007.

Trang 1

HIỆU QUẢ KHOÉT CHÓP BẰNG VÒNG ĐIỆN CÁC TỔN THƯƠNG

TÂN SINH TRONG BIỂU MÔ CỔ TỬ CUNG ĐỘ II & III

Phan Thị Nga*, Lê Hồng Cẩm**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: đánh giá hiệu quả khoét chóp bằng vòng điện điều trị tân sinh trong biểu mô cổ

TC từ 01/2001 – 01/2007 tại bệnh viện Từ Dũ

Phương pháp nghiên cứu: báo cáo hàng loạt ca Tất cả phụ nữ có chẩn đoán tân sinh trong biểu mô cổ

TC độ 2 và 3 có chỉ định khoét chóp cổ TC, từ 01/2001 đến 01/2007

Kết quả: 115 trường hợp khoét chóp vì tân sinh trong biểu mô cổ TC độ 2 và 3 cho thấy tỷ lệ thành

công sau 5 năm là 96,3%, yếu tố bờ phẫu thuật có liên quan đến tái phát với OR = 0,48, p = 0,015

Kết luận: điều trị tân sinh trong biểu mô cổ TC bằng vòng điện cho kết quả tốt, thành công 96%

ABSTRACT

THE EFFECTIVENESS OF TREATMENT BY LOOP ELECTROSURGICAL EXCISION PROCEDURE

FOR CERVICAL INTRAEPITHELIAL NEOPLASM GRADE II & III

Phan Thi Nga, Le Hong Cam * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement of No 1 - 2008: 187 - 191

Objective: to evaluate the effectiveness of LEEP for cervical intraepithelial neoplasm management since

01/2001 to 01/2007 at Tu Du hospital

Method: we conduted the cases report All of women had diagnosed CIN 2 & 3 who were indicated by

loop, from 01/2001 to 01/2007

Result: 115 women with CIN 2 & 3 were treated by LEEP, after following 5 years the sucessful rate is

96.3%, the surgical margin was closely correlated to recurrence of diseases(OR = 0.48, p = 0.015)

Conclusion: LEEP is an effective method in treament of CIN II & III

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tân sinh trong biểu mô cổ TC có thể diễn

tiến thành ung thư cổ TC, tuy nhiên nếu được

chẩn đoán sớm và điều trị thích hợp bệnh sẽ

khỏi hoàn toàn Có nhiều phương pháp điều trị

tân sinh trong biểu mô cổ tử cung: đốt lạnh, cắt

bằng laser, khoét chóp bằng dao điện, khoét

chóp bằng vòng điện Vấn đề lựa chọn cách điều

trị nào còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi,

mức độ tổn thương, mong muốn có con của

bệnh nhân và nguồn lực của từng đơn vị điều

trị Khoét chóp cổ TC bằng vòng điện đã được

bệnh viện Từ Dũ áp dụng từ năm 1995 đến nay

Nhằm đánh giá kết quả của điều trị chúng tôi

tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu sau:

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả của khoét chóp điều trị bằng vòng điện đối với sang thương tân sinh trong biểu mô cổ TC độ 2 và 3 qua theo dõi định

kỳ mỗi 6 tháng trong khoảng thời gian 5 năm tại phòng soi cổ TC ở bệnh viện Từ Dũ từ tháng 01/2001 đến tháng 01/2007

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Báo cáo hàng loạt ca

Phương pháp tiến hành

- Từ sổ danh sách khoét chóp, tìm ra những trường hợp khoét chóp vì tân sinh trong biểu mô

* Bệnh viện Từ Dũ

Trang 2

cổ tử cung độ 2 và 3 từ tháng 01/2001 đến 3

/2002, ghi số hồ sơ, số nhập viện

- Ghi nhận các dữ kiện trước, trong và sau

khi khoét chóp cổ TC như phết tế bào cổ TC, soi

cổ TC, GPB mô sinh thiết hoặc nạo kênh Gửi

thư mời bệnh nhân trở lại phòng soi cổ TC,

phỏng vấn, khám, làm phết tế bào cổ TC, soi cổ

TC

Một số qui ước

-Phết tế bào cổ TC bất thường, kết hợp với

soi cổ tử cung bất thường, sau 6 tháng tính từ

thời điểm khoét chóp, có sinh thiết và GPB có tân

sinh trong biểu mô, được coi là tái phát

- Khỏi bệnh khi không có xuất hiện tái phát

trong thời gian theo dõi 5 năm

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2001 đến

tháng 03/2002, có 123 phụ nữ có tân sinh trong

biểu mô cổ tử cung mức độ 2 và 3 đến khám và

được khoét chóp bằng vòng điện tại bệnh viện

Từ Dũ Chúng tôi đã chọn được 115 trường hợp

đủ tiêu chuẩn, 8 trường hợp loại khỏi nghiên

cứu do không theo dõi đủ hoặc không liên lạc

được do thay đổi địa chỉ hoặc từ chối tham gia

nghiên cứu

Bảng 1 Đặc điểm dịch tễ học của nhóm nghiên cứu

<30 6 (5,2)

Phân l ớ p tu ổ i

>45 26 (22,6)

N ộ i thành 47 (40,8) Ngo ạ i thành 10 (8,6)

Đị a ch ỉ

T ỉ nh 58 (50,4)

C ấ p 1 27 (24,0)

C ấ p 2 35 (31,0)

C ấ p 3 48 (43,0) Trình độ v ă n hóa

Đạ i h ọ c 5 (5,75)

N ộ i tr ợ 41 (35,7) Buôn bán 25 (21,7) Công nhân 23 (20,0) Ngh ề Nghi ệ p

Ch ư a có con 4 (3,5) 1-2 con 73 (63,5) Phân l ớ p s ố con s ố ng

>3 con 38 (33,0)

Nhận xét: Tuổi thường gặp từ 30 - 45, chiếm 72,2%, tuổi trung bình là 40,06 ± 6,8 Số người mắc bệnh sống ở tỉnh và thành phố gần bằng nhau Phần lớn bệnh nhân có trình độ văn hóa trên cấp 2 Nghề nghiệp chiếm đa số

là nội trợ 35,7% (41 ca) Chưa có con hoặc chưa

đủ số con chiếm 67%

Bảng 2 Phân bố đặc điểm các yếu tố trước khoét chóp

Đặ c đ i ể m S ố tr ườ ng h ợ p

N (t ỷ ệ %)

T bào gai không đ i ể n hình có ý ngh ĩ a không xác

đị nh

23 (20)

T n th ươ ng trong bi ể u mô gai m ứ c độ th ấ p 43 (37)

Ph ế t t ế bào

c ổ TC

T n th ươ ng bi ể u mô gai

m ứ c độ cao 35 (30,9)

V ế t tr ắ ng 111 (96,5) Hình ả nh soi

c ổ ử cung có V ế t tr ắ ng + Ch ấ m đ áy 6 (3,5)

Tân sinh trong bi ể u mô c ổ

K ế t qu ả b ấ m sinh thi ế t c ổ

t ử cung Tân sinh trong biểu mô cổ

K ế t qu ả n ạ o kênh (+) 17 (14,7)

Nhận xét: Trước khoét chóp, tế bào học cổ

TC chiếm đa số là tổn thương trong biểu mô gai

cổ TC mức độ thấp, 43 trường hợp (37%), tỷ lệ cao thứ 2 là tổn thương trong biểu mô gai mức

độ cao, 35 trường hợp (30,9%)

Hầu hết các trường hợp soi cổ TC trước khoét chóp đều có dấu hiệu vết trắng sau khi bôi acide acetique, (96,5%)

Trong lô nghiên cứu, chỉ có 17 trường hợp (14,78%) mô nạo kênh có GPBL là tân sinh biểu

mô CTC Trong mẫu nghiên cứu có 36 trường hợp tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ 2, chiếm 32,30%, và 79 trường hợp độ 3, chiếm

67,70%

Bảng 3: Phân bố đặc điểm các yếu tố sau khi khoét chóp

Đặ c đ i ể m S ố tr ườ ng h ợ p N

(t ỷ ệ %)

Gi ả i ph ẫ u

b nh

Trang 3

Đặ c đ i ể m S ố tr ườ ng h ợ p N

(t ỷ ệ %)

Tân sinh trong bi ể u mô

c ổ TC độ 1 20 (17,3) Tân sinh trong bi ể u mô

c ổ TC độ 2 15 (13,0) Tân sinh trong bi ể u mô

c ổ TC độ 3 63 (54,7)

B ph ẫ u thu ậ t

(mm)

Nhận xét: Sau khoét chóp, kết quả giải phẫu

bệnh gồm 14,78% (17) trường hợp viêm, 17,39%

(20) trường hợp tân sinh trong biểu mô cổ TC độ

1, 13.04% (15) trường hợp độ 2, chiếm tỷ lệ cao

nhất là tân sinh trong biểu mô cổ TC độ 3, 78%

(63) trường hợp

Tổng cộng 115 trường hợp khoét chóp, có

mô tả bờ phẫu thuật 93 trường hợp, 12 trường

hợp có GPB là viêm không mô tả bờ phẫu thuật,

trong đó có 6 trường hợp bờ phẫu thuật bằng 0

mm (sát bờ sang thương trong hoặc ngoài)

chiếm tỷ lệ 6,4% Các trường hợp có bờ phẫu

thuật bằng 1-4 mm chiếm tỷ lệ cao nhất 65,5%

(61), và bờ phẫu thuật từ 5 mm trở lên chiếm

27,9% (26) trường hợp

Bảng 4 Theo dõi diễn tiến sau khoét chóp:

Th ờ i gian

theo dõi

(tháng)

Ph ế t t ế

bào c ổ TC

b t

th ườ ng

Soi c ổ ử

cung b ấ

th ườ ng

GPB có tái phát

Đ i ề u tr ị

ti ế p

T ỷ ệ

tái phát (%)

chóp l ầ n 2

1,7

Nhận xét: Thời gian theo dõi thấp nhất là 58

tháng, cao nhất là 75 tháng Sau 6 tháng đầu theo

dõi có 2 trường hợp tái phát tân sinh trong biểu

mô cổ TC độ 3, phải điều trị tiếp bằng phẫu

thuật cắt tử cung, 2 trường hợp tái phát khác

TC độ 2, 1 trường hợp tân sinh trong biểu mô cổ

TC độ 3 ở thời điểm 24 tháng, phải điều trị bằng khoét chóp lần 2 Sau khoét chóp lần 2, theo dõi đến 5 năm, có phết tế bào cổ TC và soi cổ TC bình thường

Bảng 5 Phân bố mối liên quan giữa yếu tố bờ phẫu

thuật với tái phát:

Tái phát

Y ế u t ố liên quan

B ờ ph ẫ u thu ậ

0,015

Nhận xét: Yếu tố bờ phẫu thuật có liên quan tới tái phát với OR = 0,48, p = 0,015

BÀN LUẬN Đặc điểm dịch tễ của nhóm nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi từ 31 - 45 chiếm tỷ lệ 72,2% Kết quả này không khác biệt với ghi nhận của các tác giả khác

Số bệnh nhân sống ở nội thành thành phố

Hồ Chí Minh chiếm 40,8%, 10% sống ở ngoại thành, còn lại 50 % sống ở tỉnh

Dù cư trú ở địa bàn nào, ở tỉnh hoặc ở thành phố, tỷ lệ mắc bệnh tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ 2 và độ 3 trong dân số nghiên cứu này như nhau

Số lần sanh con còn sống trung bình 2,48 ± 1,439 Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu của các tác giả trước(1,6,10,11), phù hợp với chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình ở nước ta

Các dữ kiện trước và sau khoét chóp

Kết quả phết tế bào cổ TC trước khi khoét chóp

Kết quả phết tế bào cổ TC là tổn thương trong biểu mô gai mức độ thấp chiếm 37,39%, tổn thương trong biểu mô gai mức độ cao chiếm 30,9%, nhóm viêm chiếm 12%, và tế bào gai không điển hình có ý nghĩa không xác định chiếm 20%

Trang 4

Trong bảng phân loại tế bào học của

Bethesda, nhóm này thường gây ra tranh cãi và

đề nghị loại bỏ vì chẩn đoán thường bị lạm dụng

và gây khó khăn trong chẩn đoán lâm sàng, gây

gánh nặng cho hệ thống y tế

Tuy nhiên, có ý kiến khác cho rằng phân loại

trung gian của nhóm này rất cần thiết để xếp loại

các trường hợp không điển hình, những trường

hợp này cần phải theo dõi vì 50% trong số đó có

tân sinh trong biểu mô cổ TC mức độ 3 được

phát hiện trong nhóm tế bào gai biến đổi không

điển hình

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm tế bào

gai không điển hình có ý nghĩa không xác định

chiếm 1/5 trường hợp Ngoài ra, những trường

hợp kết quả phết tế bào cổ tử cung là viêm (âm

tính giả), trong khi mô học chẩn đoán là tân sinh

trong biểu mô cổ tử cung chiếm 11%

Điều này chứng tỏ rằng, việc kết hợp phết tế

bào cổ tử cung, soi cổ tử cung và giải phẫu bệnh

là vô cùng cần thiết, tránh được bỏ sót sang

thương tân sinh trong biểu mô cổ tử cung

Kết quả mô học trước và sau khi khoét chóp

Khi sinh thiết cổ tử cung bằng kềm bấm sinh

thiết có 36 (33%) trường hợp tân sinh trong biểu

mô cổ TC độ 2 và 79 (67%) trường hợp độ 3 Sau

khi đã được khoét chóp, giải phẫu bệnh có 14%

trường hợp là viêm, 17% tân sinh trong biểu mô

cổ TC độ 1, 13% tân sinh trong biểu mô cổ TC độ

2, và 54% tân sinh trong biểu mô cổ TC độ 3

Có thể lý giải rằng những trường hợp viêm,

tân sinh trong biểu mô cổ TC độ 1 xuất hiện sau

khoét chóp là do những tổn thương bệnh lý trên

cổ TC rất nhỏ và lúc làm sinh thiết đã lấy hết

phần tổn thương Kết quả này cũng tương tự

như nghiên cứu của tác giả Phạm Việt Thanh(10)

Hình ảnh soi cổ TC trước khoét chóp

Trước khi khoét chóp, tất cả bệnh nhân đều

được soi cổ TC, 96,5% có vết trắng sau khi bôi

acide acetique 3%, 3,5% có kết hợp vết trắng với

chấm đáy Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi đề

nghị có thể kết hợp khám phụ khoa và bôi acid

acetique cổ TC nếu những nơi không có điều

kiện soi cổ TC vì vết trắng cổ TC sau bôi acid acetique cho độ nhạy cao trong chẩn đoán tân sinh biểu mô cổ TC

Hình ảnh soi cổ tử cung trong tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ 2 và 3 có nhiều hình ảnh như vết trắng, chấm đáy, lát đá, khuy áo, mạch máu tăng sinh bất thường Các hình ành này có thể xuất hiện riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau

Xét về bờ phẫu thuật

Yếu tố bờ phẫu thuật rất quan trọng và có ý nghĩa thống kê đối với tái phát bệnh lý, với OR = 0,48, p = 0,015, phù hợp với các tác giả khác như Phạm Việt Thanh(10), Nguyễn Bích Hải(5), Đoàn Châu Quỳnh(1) Có 6 trường hợp bờ phẫu thuật bằng 0, tái phát 3 trường hợp, 1 trường hợp tái phát có bờ phẫu thuật 1-4mm

Từ đó có thể nói rằng nếu bờ phẫu thuật không đủ nên chủ động khoét chóp lần 2 hoặc cắt TC nếu bệnh nhân đủ con, để tránh tái phát Tuy nhiên số trường hợp trong nghiên cứu còn

ít, cần được nghiên cứu thêm, để có thể đưa ra kết luận chính xác hơn

Diễn tiến sau khoét chóp

Bảng 6 Bảng so sánh về diễn tiến sau khoét chóp với

các tác giả khác:

dõi = tháng

T l tái phát

Nguy ễ n Bích H ả i(5) 155 36 3,22

Ph ạ mVi ệ t Thanh(10) 143 24 2,15 Nguy ễ n T Ph ươ ngTh ả (11) 189 24 2,5

Trong nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ tái phát của các tác giả có khác nhau, do mẫu nghiên cứu khác nhau, thời gian theo dõi không giống nhau Tuy nhiên, về thời điểm tái phát, từ sau 6 tháng đến 24 tháng, phù hợp với

Trang 5

nghiên cứu của Phạm Việt Thanh(10), của

Nguyễn Bích Hải(5), Đoàn Châu Quỳnh(1), trong

vòng 2 năm đầu Các trường hợp tái phát đều có

liên quan tới bờ phẫu thuật Yếu tố bờ phẫu thuật

có liên quan với tái phát với OR = 0,48, p = 0,015

Sau thời gian 24 tháng, các bất thường về tế bào

học cổ TC, mô học, soi cổ tử cung không thấy

xuất hiện cho đến 5 năm

KẾT LUẬN

Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2001

đến tháng 03/2002 tại bệnh viện Từ Dũ chúng

tôi đã khoét chóp điều trị cho 115 trường hợp

tân sinh trong biểu mô cổ TC độ II và III, và đã

theo dõi đến tháng 01/2007, chúng tôi có một

số kết luận sau:

-Sử dụng vòng cắt đốt trong điều trị các tổn

thương tân sinh trong biểu mô cổ TC độ 2 và 3 tỷ

lệ thành công 96,3%

-Yếu tố bờ phẫu thuật có liên quan đến tái

phát với p = 0,015, OR = 0,48

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đoàn Châu Quỳnh (2005) Đánh giá hiệu quả khoét chóp các

nghiệp Bác sĩ nội trú Tr 4 – 23

2 Gonzaler CDI., Zahn CM., Retzloff MMG., et al (2001)

Recurrence of dysplasia after loop electrosurgical excision

184 (3): 315-320

3 Maluf PJ, Adad SJ, Fernando E, Murta C (2004), Outcom after

conization for CIN grade III: Relation with surgical margin,

extension to the crypts and mitoses, Tumori, 90: 473 – 477.

4 Murdoch JB, Morgan PR, Lopes A, Monaghan JM (1992)

Histological incomplete excison of CIN after large loop excison

of the trasformation zone (LLETZ) merits careful follow up, not

5 Nguyễn Bích Hải (2001) Khảo sát phương pháp khoét chóp

bằng vòng điện trong chẩn đoán và điều trị CIN tại Bệnh viện

6 Nguyễn Thị Phương Thảo (1996) Đánh giá kết quả điều trị

các tổn thương dị sản cổ tử cung bằng Laser CO 2 thực hiện tại

tr 38 – 39

7 Nguyễn Thị Thu Ba (1993) Đánh giá các trường hợp khoét

chuyên khoa cấp 1 tr 28 – 30

8 Nobutaka, Keiji M, Takafumi O, Yuko S and Ohama K

(2004) HPV DNA status after loop for cervical intraepithelial

medecine 13: 589-593.

9 Onesanya OA, Amerasinghe C, Manning EA (1993) A

conization for managemeng of cervical dysplasia associated with

10 Phạm Việt Thanh (2001) Hiệu quả điều trị tân sinh trong

chuyên khoa cấp 2 tr 4 – 32

11 Prendiville W, Cullimore J, norman S (1989) Large loop

excision of the tranformation zone (LLETZ): a new method of

BGOG; 96: 1054 – 60

12 Reich O, Lahousen M, Pikel H (2002) Cervical intraepithelial

neoplasia III: long term follow – up after cold – knife conization

13 Wright TC.; Gangon S; Richard RM and Ferency A

“Treatment of Cervical Intraepithelial Neoplasia Using The

1992; 79: 173 – 178

Ngày đăng: 22/01/2020, 19:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w