1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ung thư gan nguyên phát: Đặc điểm giải phẫu bệnh - lâm sàng

6 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 269,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát 114 trường hợp ung thư tế bào gan được phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy, được chẩn đoán tại Khoa Giải phẫu bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 8/2002 đến tháng 5/2004, tác giả nhận thấy:Nam mắc bệnh gấp 03 lần nữ. Tuổi trung bình: 52,5. Có 73,7% trường hợp định lượng AFP trong huyết thanh tăng. 71,9% là viêm gan B và 10,5% là viêm gan C. 42,1% có kết hợp với tổn thương xơ gan và 7% kết hợp với gan thoái hóa mỡ.. Loại mô học chiếm nhiều nhất là dạng bè (58,8%).

Trang 1

Nguyễn Quang Tuấn * , Nguyễn Sào Trung * , Nguyễn Văn Thắng * , Trần Minh Thông

TÓM TẮT

Khảo sát 114 trường hợp ung thư tế bào gan được phẫu thuật tại Bệnh viện Chợ Rẫy, được chẩn đoán tại Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 8/2002 đến tháng 5/2004, tác giả nhận thấy:Nam mắc bệnh gấp 03 lần nữ Tuổi trung bình: 52,5 Có 73,7% trường hợp định lượng AFP trong huyết thanh tăng 71,9% là viêm gan B và 10,5% là viêm gan C 42,1% có kết hợp với tổn thương xơ gan và 7% kết hợp với gan thoái hóa mỡ Loại mô học chiếm nhiều nhất là dạng bè (58,8%)

SUMMARY

PRIMARY CANCER OF THE LIVER: PATHOLOGICAL – CLINICAL FEATURES

Nguyen Quang Tuan, Nguyen Sao Trung,, Nguyen Van Thang, Tran Minh Thong

*Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 170 – 175

The author studied 114 cases of the liver cancer, operated in Cho Ray Hospital, diagnosed by Department Pathology of the Medicine at Ho Chi Minh City, and noticed that: Male/female ratio is: 3/1 The average mean is 52,5, AFP positive was: 73,7%, HBV and HCV positive was: 71,9% and 10,5%, 42,1%

of cases present with cirrhosis and 7% with steatosis Hepatocellular carcinoma, trabecular type: 58,8%

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư gan nguyên phát (UTGNP) là loại ung

thư tương đối phổ biến, gây tử vong nhiều và xuất độ

bệnh cũng thay đổi tùy thuộc vào từng vùng địa dư

Theo Nguyễn Đại Bình ở Bộ môn Ung thư trường

Đại học Y Hà Nội: ung thư gan đứng hàng thứ 3 ở

giới nam và hàng thứ 4 ở giới nữ trong 10 loại ung

thư thường gặp nhất(1)

Theo ghi nhận ung thư quần thể của Nguyễn

Chấn Hùng và cộng sự tại Thành phố Hồ Chí Minh,

năm 1997: ung thư gan đứng hàng thứ nhất ở nam

(xuất độ 38,2 trường hợp trên 100.000 dân mỗi năm)

và đứng hàng thứ 6 ở giới nữ (xuất độ 8,3 trường hợp

trên 100.000 dân mỗi năm) trong 10 loại ung thư

thường gặp nhất(3,4)

Theo Parkin và cộng sự (1988): ung thư gan

đứng hàng thứ 8 trên thế giới và hàng thứ 7 ở các

nước đang phát triển

Ung thư gan nguyên phát hầu hết đều là ung thư biểu mô (chiếm 98%) bao gồm hai loại chính: carcinom tế bào gan (HCC: Hepatocellular Carcinoma), carcinom tế bào ống mật (CC: Cholangiocarcinoma) Loại thứ ba hiếm gặp hơn, có hình thái vi thể: kết hợp của hai loại trên, được gọi là carcinom tế bào gan – ống mật (Hepa - Cholangiocarcinoma) Trong ba loại carcinom kể trên thì carcinom tế bào gan chiếm tỷ lệ cao nhất (90%) với loại mô học điển hình là dạng bè(6,7,19,20) Do vậy, các tác giả có khuynh hướng thường dùng carcinom tế bào gan (HCC) để chỉ cho các ung thư gan nguyên phát Bệnh liên quan mật thiết với xơ gan, viêm gan siêu vi B (HBV: Hepatitis B virus), viêm gan siêu vi C (HCV: Hepatitis C virus), rượu, độc tố

Theo Y văn trong nước đã có một số công trình nghiên cứu về tình hình điều trị, chẩn đoán của ung

*Bộ môn Giải phẫu bệnh – Đại học Y Dược TPHCM,

†Khoa Giải phẫu bệnh – Bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

thư gan nguyên phát ; nhưng chưa có công trình nào

khảo sát về các đặc điểm GPB – Lâm sàng (LS) của

ung thư gan nguyên phát Trong phạm vi nghiên cứu

này chúng tôi chỉ đề cập đến carcinom tế bào gan

nhằm các mục tiêu xác định:

Đặc tính LS, CLS và GPB

Tương quan giữa GPB với LS và CLS

Tương quan giữa GPB vi thể với đại thể

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Vật liệu

114 trường hợp được phẫu thuật và chẩn đoán

giải phẫu bệnh là ung thư tế bào gan tại Khoa ngoại

tiêu hóa (lầu 4/B3) – Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng

8/2002 đến tháng 5/2004

Phương pháp

Nghiên cứu mô tả cắt ngang: dựa trên hồ sơ bệnh

án, phiếu trả lời kết quả giải phẫu bệnh và tiêu bản

của khoa GPB Bệnh viện Chợ Rẫy

Thu thập các dữ liệu lâm sàng và cận lâm sàng

như: tuổi, giới, alpha-fetoprotein, tình trạng viêm gan

siêu vi

Đọc lại các tiêu bản lưu trữ tại khoa GPB Bệnh

viện Chợ Rẫy ghi nhận các đặc tính vi thể bao gồm:

loại mô học, đặc tính tế bào, độ mô học và các bệnh

lý kết hợp

Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 12.0 for

Windows

KẾT QUẢ

Tuổi và giới

Bảng 1

Số trường hợp Tuổi

Nam Nữ Tổng cộng

21-30t 2 3 5

31-40t 11 2 13

41-50t 17 7 24

51-60t 27 11 38

61-70t 21 4 25

Tổng 86 28 114

Tỷ lệ nam/nữ là 3/1 Tuổi nhỏ nhất: 17t, tuổi lớn nhất: 77t Tuổi trung bình: 52,5 ± 12,5

Tình trạng viêm gan siêu vi

Biểu đồ Phân bố tình trạng viêm gan siêu vi

Định lượng Alpha-fetoprotein (AFP)

Bảng 2

Số ca Tỷ lệ

AFP tăng cao trên 1000ng/ml chiếm tỷ lệ 29,8% ;

AFP (+) trong huyết thanh: 73,7%

Kích thước u

Bảng 3

Kích thước Số ca Tỷ lệ

Kích thước từ 2 – 5cm chiếm tỷ lệ cao nhất: 51,8%

Hình thái tổn thương

Bảng 4

Tổn thương Số ca Tỷ lệ

Trang 3

Bảng 5

Loại mô học Số ca Tỷ lệ

Loại mô học dạng bè chiếm tỷ lệ cao: 58,8% ;

dạng phiến sợi chiếm tỷ lệ thấp nhất: 3,5%

Đặc điểm tế bào

Bảng 6

Đặc tính tế bào Số ca Tỷ lệ

Tế bào điển hình chiếm tỷ lệ: 73,7% ; ít nhất là tế

bào dạng phồng bào: 3,5%

Bệnh lý kết hợp

Bảng 7

Bệnh lý kết hợp Số ca Tỷ lệ

Bệnh lý kết hợp nhiều nhất là xơ gan: 42,1% ;

gan thóai hóa mỡ chiếm ít nhất: 7%

Tương quan giữa loại mô học và tuổi

Bảng 8

Loại mô học Tuổi trung bình

Dạng bè 51,9 ± 12,8

Giả tuyến 55,8 ± 12,7

Dạng đặc 53,2 ± 11,5

Phiến sợi 41,3 ± 16,9

Xơ cứng 54,5 ± 6,3

Định lượng AFP Loại

mô học Bình thường

10 – 200ng/ml

200 – 1000ng/ml

>

1000ng/ml

Tỷ lệ

Dạng

Giả tuyến 52,6% 21,1% 10,5% 15,8% 100% Dạng

đặc 22,2% 38,9% 11,1% 27,8% 100% Phiến

Xơ cứng 16,7% 50% 16,7% 16,7% 100% AFP tăng trên 1000ng/ml gặp chủ yếu trong ung thư tế bào gan dạng phiến sợi (50%)

AFP tăng từ 10 – 200ng/ml gặp trong ung thư tế bào gan dạng xơ cứng (50%)

Tương quan loại mô học và kích thước

Bảng 10

Kích thước u Loại mô

học <

2cm

2-5cm 5-10cm

>

10cm

Kích thước TB (cm)

Kích thước trung bình nhỏ nhất là dạng xơ cứng, lớn nhất là dạng phiến sợi

Tương quan giữa loại mô học và bệnh lý kết hợp

Bảng 11

Loại mô học Bệnh lý kết

hợp Bè Giả tuyến Đặc Phiến

sợi Xơ cứng

Xơ gan 47,7% 26,3% 38,9% 75% 16,7% VGM 28,4% 57,9% 33,3% 25% 83,3%

Xơ gan +

Gan thóai

Trang 4

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 BÀN LUẬN

Tuổi và giới

Theo tác giả N.S Trung(7): tỷ lệ nam/nữ là 5/1 ;

tuổi mắc bệnh trung bình của ung thư tế bào gan là

50 tuổi Y văn nước ngoài: Saul S.H(20), Rosai(10),

DeVita(15), Nichanaki(18) ghi nhận tần suất bệnh thay

đổi rất nhiều tùy theo từng nghiên cứu nhưng cũng

nằm trong giới hạn từ 3/1 đến 9/1 Về tuổi mắc bệnh

cũng nằm trong nhóm tuổi từ 50 đến 60 tuổi ; ngoài

ra một số còn ghi nhận ở những lứa tuổi trẻ (< 30

tuổi)(10,11,13,16,17,18,20)

Như vậy số liệu của chúng tôi nam/nữ = 3/1, phù

hợp với các tác giả trong nước và Y văn nước ngoài

Tình trạng viêm gan siêu vi

Theo tác giả Nguyễn Sào Trung(7) tỷ lệ viêm gan

B là 72,5%

Y văn nước ngoài: Craig J.R(12), DeMay(14),

Rosai(21) tỷ lệ viêm gan B thay đổi từ 50 -72% tùy

theo từng nghiên cứu Như vậy tỷ lệ viêm gan siêu vi

B ở khảo sát này 71,5%, phù hợp với Y văn trong và

ngoài nước

Với viêm gan siêu vi C, theo khảo sát của các tác

giả nước ngoài tỷ lệ này cao (76,2%) ở Nhật Bản

Trong khảo sát của chúng tôi, tỷ lệ viêm gan siêu vi C

là 10,2% ; tuy số liệu thấp hơn rất nhiều so với các tác

giả nhưng điều này cũng nêu lên được một thực

trạng về loại bệnh lý viêm gan siêu vi C đang có nguy

cơ gia tăng trong cộng đồng

Định lượng AFP

Theo DeMay(14), trong ung thư tế bào gan định

lượng AFP ở giới hạn bình thường chiếm tỷ lệ từ 5 –

20% ; như vậy số liệu của chúng tôi tôi tuy có cao hơn

(28,1%) nhưng chấp nhận được do xét nghiệm này có

độ nhạy và độ đặc hiệu phụ thuộc vào nhiều yếu tố

như: phương pháp, bản chất khối u Một nghiên

cứu khác trong 6 năm của các bệnh viện ở Los

Angeles (1976 – 1982)(12): AFP huyết thanh tăng cao

trên 1000ng/ml là 63%, AFP từ 25 – 1000ng/ml là

82% Khảo sát của chúng tôi tỷ lệ này chỉ đạt: 29,8%

và 43,9% Điều này có thể lý giải một phần là do

những yếu tố như đã nói ở trên, bên cạnh đó cỡ mẫu khảo sát của chúng tôi nhỏ, thời gian ngắn vì vậy chưa phản ảnh đúng tỷ lệ của AFP

Tuy nhiên nếu chỉ tính tỷ lệ AFP huyết thanh dương tính (73,7%) nghiên cứu này hoàn toàn phù hợp với các tác giả trong và ngoài nước: tỷ lệ này thay đổi từ 40 – 90%(8,16)

Kích thước u

Theo các tác giả trong nước và Y văn nước ngoài kích thước trung bình của u thay đổi tùy theo từng nhóm nghiên cứu nhưng cơ bản là trong giới hạn từ

5 đến 7 cm(12,16,20) Như vậy số liệu của khảo sát này cũng hoàn toàn phù hợp với các Y văn

Hình thái tổn thương

Có ba dạng đại thể chính mà các tác giả trong và ngoài nước đã đề cập bao gồm: tổn thương dạng một khối lớn (một ổ), tổn thương dạng nhiều ổ rải rác và tổn thương lan toả

Ghi nhận trong nghiên cứu này tỷ lệ dạng một khối lớn chiếm nhiều nhất 73,7%, sau đó là tổn thương dạng nhiều ổ (21,9%), tổn thương lan tỏa chiếm tỷ lệ ít nhất là 4,4%

Theo ghi nhận của Văn Tần và Hoàng Danh Thái(5): tổn thương dạng một ổ là 67%, nhiều ổ là 15,1% và lan tỏa là 17,9%

Theo các Y văn nước ngoài, các tác giả không ghi nhận số liệu cụ thể của từng dạng đại thể nhưng đều có nhận xét chung là hình thái tổn thương dạng một

ổ chiếm đa phần, ít nhất là tổn thương lan tỏa toàn bộ gan(9,12,16)

Khảo sát của chúng tôi cũng tương đối phù hợp với tác giả Văn Tần về tổn thương dạng một ổ và nhiều ổ ; riêng tổn thương lan tỏa số liệu của chúng tôi có thấp hơn Với các Y văn nước ngoài số liệu của khảo sát này cũng tương đối phù hợp với các nhận xét của các tác giả

Loại mô học

Như vậy với ung thư tế bào gan dạng bè, dạng đặc và phiến sợi số liệu của chúng tôi tương đương với các Y văn nước ngoài nhưng thấp hơn số liệu của

Trang 5

tất cả các loại ung thư gan nguyên phát Riêng với

ung thư tế bào gan dạng giả tuyến và dạng xơ cứng,

số liệu của chúng tôi có cao hơn các tác giả Điều này

lý giải do loại bệnh lý này phụ thuộc vào yếu tố nguy

cơ, tác nhân gây bệnh, địa dư ; hơn nữa cách chọn

bệnh phẩm và số lượng bệnh phẩm khi sinh thiết

cũng rất quan trọng trong việc phân loại các dạng mô

học của ung thư tế bào gan

Bảng 12 So sánh loại mô học với các tác giả trong và

ngoài nước

Tác giả Loại mô

học N S

Trung (7) Craig J.R (12) Saul

S.H (20 ) NC này

Bè 78,6% > 50% Phần lớn 58,8%

Đặc điểm tế bào

Theo Saul S.H(20): ghi nhận loại tế bào điển hình

chiếm phần lớn (73,7%), tế bào sáng chiếm khoảng

5-12%, tế bào khổng lồ ít hơn 1%, hình thoi 1-9%,

dạng phồng bào không có ghi nhận

Như vậy số liệu của chúng tôi cũng tương đối phù

hợp với tác giả Saul, riêng loại tế bào khổng lồ số liệu

chúng tôi có cao hơn

Bệnh lý kết hợp

Bảng 13 So sánh bệnh lý kết hợp với các tác giả

Bệnh lý kết hợp Tác giả

Xơ gan VGM VGM Xơ + Gan thóai hóa mỡ

N.S Trung (7) 71,4% 9,9% 14,3% 4,4%

Nghiên cứu này 42,1% 36,8% 14,1% 7%

Như vậy số liệu của chúng tôi có phần thấp hơn

các tác giả về bệnh lý xơ gan ; VGM kèm xơ gan thì

phù hợp với tác giả Nguyễn Sào Trung Tuy nhiên

điều này có thể giải thích là do trong nhiều trường

hợp bệnh phẩm sinh thiết chỉ được lấy tại nơi có tổn

Tương quan giữa loại mô học và tuổi

Có sự khác biệt về tuổi giữa các loại mô học của ung thư tế bào gan, tuy nhiên không có ý nghĩa về mặt thống kê với phép kiểm χ2, P > 0,05

Theo Saul S.H(20): ung thư tế bào gan phiến sợi có đỉnh tuổi ở thập niên thứ ba, thay đổi từ 5 đến 85 tuổi, lứa tuổi trên 40 ít hơn 20%

Theo tác giả Craig J.R( )12: ung thư tế bào gan dạng xơ cứng có tuổi trung bình là 62,7 tuổi, lớn hơn các loại carcinom tế bào gan còn lại 7,6 tuổi

Như vậy số liệu của chúng tôi có phần khác biệt, tuy nhiên cũng phù hợp ở một nhận định chung đó là ung thư tế bào gan dạng phiến sợi có tuổi trung bình trẻ hơn và dạng xơ cứng có tuổi trung bình lớn hơn các loại còn lại

Tương quan giữa loại mô học và AFP

Theo Saul S.H(20): ung thư tế bào gan dạng phiến sợi chỉ có khoảng 10 -15% các trường hợp là có lượng AFP tăng cao trên 1000ng/ml ; ngược lại theo Craig J.R(12): lượng AFP hiếm khi nào tăng cao trong ung thư tế bào gan dạng phiến sợi Như vậy nhận định của chúng tôi cũng phù hợp với tác giả Saul S.H nhưng ngược với Craig J.R

Với các loại mô học còn lại, số liệu của chúng tôi chỉ có tính cách tham khảo do chưa thấy các Y văn ghi nhận

Tương quan giữa loại mô học và kích thước u

Theo tác giả Saul S.H(20): ung thư tế bào gan dạng phiến sợi điển hình có kích thước thay đổi từ

3 – 25 cm, trung bình là 13cm Theo tác giả Craig J.R(12) thì kích thước này thay đổi từ 4 -17 cm ; các loại mô học còn lại không thấy ghi nhận kích thước trung bình

Như vậy số liệu của chúng tôi nếu chỉ xét cho loại mô học dạng phiến sợi (6 ± 0,8 cm) nằm trong khoảng kích thước của hai tác giả là 3 – 25

cm và 4 – 17 cm Các dạng mô học khác các tác

Trang 6

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

giả không ghi nhận nên số liệu của chúng tôi chỉ

có tính cách tham khảo

Tương quan giữa loại mô học và bệnh

lý kết hợp

Có sự khác biệt giữa loại mô học và bệnh lý kết

hợp tuy nhiên không có ý nghĩa về mặt thống kê với

phép kiểm χ2,P > 0,05

Các Y văn nước ngoài đã ghi nhận: ung thư tế

bào gan dạng phiến sợi xảy ra hầu hết (90%) trong

những gan không xơ(12,20); ung thư tế bào gan dạng xơ

cứng xảy ra trong khoảng 50% gan xơ 20)

Như vậy, số liệu ghi nhận của chúng tôi hoàn

toàn trái ngược với các ghi nhận của Y văn Sự khác

nhau này có lý do gì không ? chúng tôi chưa xác định

được bởi có rất nhiều yếu tố đưa đến sự khác biệt này

như: địa dư, chủng tộc, sinh bệnh học

KẾT LUẬN

Qua khảo sát 114 trường hợp ung thư tế bào gan

chúng tôi ghi nhận như sau:

Tuổi trung bình là 52,5 tuổi, giới nam mắc bệnh

gấp ba lần nữ

AFP tăng trong 73,7% các trường hợp ; viêm gan

B chiếm 71,9%

Kích thước u trong giới hạn từ 2 – 5cm ; loại mô

học dạng bè chiếm tỷ lệ 58,8%

Bệnh lý kết hợp nhiều nhất là xơ gan (42,1%)

Ung thư tế bào gan dạng phiến sợi có tỷ lệ AFP

tăng cao trên 1000ng/ml và có kích thước u lớn nhất

Ung thư tế bào gan dạng xơ cứng có AFP từ 10 –

200ng/ml và có kích thước u nhỏ nhất.ª

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Đại Bình (1997): Ung thư gan nguyên phát Trong:

Bài giảng ung thư học, của bộ môn Ung thư Đại học Y khoa

Hà Nội, nhà xuất bản Y học, trang 205 – 209

2 Trần Phương Hạnh (1997): Từ điển giải nghĩa bệnh học,

xuất bản lần thứ 2, trường Đại học Y dược TP.HCM

3 Nguyễn Chấn Hùng, Nguyễn Bá Đức (1997),: Xây dựng

chiến lược Quốc gia phòng chống ung thư, Y học TP.HCM,

số đặc biệt chuyên đề ung thư, trang 1 – 10

4 Nguyễn Chấn Hùng, Nguyễn Mạnh Quốc, Phó Đức

Mẫn, Nguyễn Quốc Trực (1998): Kết qủa ghi nhận ung

thư quần thể tại TP Hồ Chí Minh năm 1997, Y học

TP.HCM, số đặc biệt chuyên đề ung bướu học, phụ bản

số 3, tập 2, trang 11 – 19

5 Văn Tần, Hoàng Danh Tấn (2000): Đặc điểm chẩn đoán, điều trị và tiên lượng ung thư gan nguyên phát tại Bệnh viện Bình Dân Trong: Hội thảo các biện pháp mới trong chẩn đoán và điều trị u gan, TP Hồ Chí Minh tháng 9/2000

6 Nguyễn Văn Thông (2003): Ung thư gan Trong: Nguyễn Đình Hối và Nguyễn Mậu Anh, Bệnh học ngoại khoa tiêu hóa, Nhà xuất bản Y học – Chi nhánh TP HCM, trang 167 – 170

7 Nguyễn Sào Trung, Hứa Thị Ngọc Hà, Lê Văn Xuân, Nguyễn Đình Tuấn, La Chí Hải, Trần Minh Thông, Trần Mậu Kim (1998): Ung thư gan nguyên phát và viêm gan siêu vi B khảo sát bệnh học và hóa mô miễn dịch, Y học TP.HCM, số đặc biệt chuyên đề Ung bướu học, phụ bản số 3, tập 2, trang 37 – 41

8 Ackerman L.V., Rosai J., (1974): Liver In: Surgical Pathology, 5th edition, The C.V Mosby Company, p 534 -

537

9 Ashley D J.B., (1978): Epithelial Tumours of the Liver In: Evan’s Histological Appearances of Tumours, 3rd edition, Churchill Livingstone, p 593 – 598

10 Barwick K.W., Rosai J., (1988): Liver In: Rosai J., Ackerman’s surgical pathology, Volume 1, 7th edition, Mosby Company, p 675 – 722

11 Craig J.R., (1990): Tumors of the liver In: Kissan J.M, editors, Anderson Pathology, 9th edition, p 1294 – 1295,

CV Mosby Co

12 Craig J.R., Peters R.L., Edmondson H.A., (1989): Tumor of the liver and intrahepatic bile ducts, AFIP, 2nd series, fascicle 26, p 123 – 216

13 Crawford J.M., (1994): The liver and biliary tract In: Robbins pathologic basic of diseases, 5th edition, W.B Saunders Co, p 831 – 896

14 Demay R.M., (1996): Liver In: The Art and Science of Cytopathology, Volume II, 1sd edition, ASCP Press, Chapter 23, p: 1026 – 1036

15 Fong Y., Kemeny N., Lawrence T.S., (2001): Cancer of the Liver and Biliary Tree, In: DeVita V.T., Hellman S., Rosenberg S.A (eds), Cancer Principles and Practice of Oncology, 6th Edition, Lippincott Williams & Wilkins, p

1162 – 1187

16 Ishak K.G., Markin R., (1996): Liver In: Damjanov I., Linder J (eds), Anderson’s pathology, volume 2, 10th edition, Mosby company, p 1779 – 1840

17 Mondrag n S.R., Ochoa C.F.J., Ruiz M.J.M., ET AL (1997): Carcinoma hepatocelular, Rev Gastroenterol Mx 1997 ; 62(1 ): 34-40

18 Nichanaki G.S., Prabhu S.R., (1985): Primary hepatocellular carcinoma (a review of 74 cases), J Postgrad Med 1985 ; 31: 34-8

19 O’Brien M.J, Gottlieb L.S., (1979): The Liver and Biliary tract In: Robbins S.L and Cotran R.S., editors, Pathologic Basis of Disease, 2nd edition, W.B Saunders Company, p

1065 – 1068

20 Saul S.H., (1999): Masses of the liver In: Sternberg S.S., Diagnostic surgical pathology, 3rd edition, volume 2, p 1553 – 1620

21 Shiu W., Tang Z.Y., (1994): Liver cancer In: Love R R and al., editors, Manual of Clinical Oncology, 6th edition, Springer-Verlagp, 303 – 309

Ngày đăng: 22/01/2020, 19:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w