1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát đặc điểm lâm sàng và vai trò của nội soi đại tràng trong điều trị bệnh polyp đại trực tràng ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

4 136 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 365,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành để khảo sát đặc điểm lâm sàng và vai trò của nội soi đại tràng trong điều trị bệnh polyp đại trực tràng ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng 2. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản và Bà Mẹ Trẻ em  398

KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ VAI TRÒ   CỦA NỘI SOI ĐẠI TRÀNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH POLYP  

ĐẠI TRỰC TRÀNG Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 

Phan Thị Ngọc Linh*, Nguyễn Hoài Phong*, Nguyễn Trọng Trí*, Nguyễn Thị Thu Thủy** 

TÓM TẮT 

Mục  tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng và vai trò của nội soi đại tràng trong điều trị bệnh polyp đại trực 

tràng ở trẻ em tại bệnh viện nhi đồng 2  

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu.  

Kết quả: Qua khảo sát 462 trẻ xuất huyết tiêu hóa dưới, có 95 trẻ được nội soi đại trực tràng, và có 77 trẻ 

được chẩn đoán polyp đại trực tràng qua nội soi (81%). Polyp đại trực tràng có lứa tuổi thường gặp là trẻ trên 2  tuổi  (97,4%).  Tỉ  lệ  nam/nữ  là  2,2/1.  Triệu  chứng  lâm  sàng  thường  gặp  là  tiêu  máu  kéo  dài  trên  một  tháng  (85,7%), tiêu máu dính theo phân (89,6%). 8/15 trẻ được khám hậu môn phát hiện polyp. Cận lâm sàng thường  gặp là thiếu máu (76,5%) và hồng cầu nhỏ nhược sắc (61%). Số lượng polyp thường là 1 polyp (75%), chủ yếu ở  trực tràng (79,2%) và đa phần có cuống (97,4%). 100% trẻ được cắt polyp qua nội soi và không có biến chứng. 

Kết luận: Trẻ trên 2 tuổi có thời gian tiêu máu kéo dài nên nghĩ đến nguyên nhân polyp đại trực tràng và 

cho trẻ đi nội soi để chẩn đoán. Khám hậu môn rất quan trọng khi không có nội soi. Nội soi là một phương pháp  điều trị an toàn và hiệu quả. 

Từ khóa: Polyp đại trực tràng, nội soi đại tràng  

ABSTRACT 

A SURVEY ON CLINIAL CHARACTERICTICS AND THE ROLES OF COLONOSCOPY  

IN TREATMENT OF PEDIATRIC COLORECTAL POLYPS  

AT THE CHILDREN HOSPITAL NUMBER 2 

Phan Thi Ngoc Linh, Nguyen Hoai Phong, Nguyen Trong Tri, Nguyen Thi Thu Thuy 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 398 ‐ 401 

Objective:  To  investigate  the  clinical  characterictics  of  colorectal  polyps  in  children  and  the  roles  of 

colonoscopy in treatment of pediatric colorectal polyps at the children’s hospital number 2. 

Methods: A descriptive and retrospective study.  

Result:  There  were  95  children  performed  by  colonoscopy  among  462  children  who  had  lower 

gastrointestinal bleeding. Colorectal polyps were detected in 77 children (81%). In the children with polyps, the  age older than 2 year‐old was the most common (97.4%). Male/female ratio was 2.2/1. The most comon symtom  was rectal bleeding which occurred more than one month(85.7%). 89.6% were blood in the stool, 8/15 had rectal  polyp noted by digital examination. Anemia was present in 76.5% and microcytic hypochromic RBC was seen in  61% of cases. A single polyp was present in 75%. 79.2% were located in the rectum and most were pediculate  (97.4%). No complication was seen after endoscopic polypectomy. 

Conclusion: Colorectal polyps and colonoscopy should be considered among children older than 2 years of 

age  with  lower  gastrointestinal  bleeding  more  than  one  month.  Digital  examination  is  very  important  when  diagnosing without colonoscopy. Colonscopy is safe and effective. 

Key words: Colorectal Polyps, Colonoscopy 

* Đại học Y Dược TP. HCM  ** Bệnh viện Nhi Đồng 2 

Tác giả liên lạc: Nguyễn Hoài Phong   ĐT: 09918340750  Email: drhphong@gmail.com 

Trang 2

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  Nghiên cứu Y học

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Xuất huyết tiêu hóa dưới ở trẻ em có nhiều 

nguyên nhân khác nhau, trong đó polyp đại trực 

tràng là một trong những nguyên nhân thường 

gặp nhất. Polyp đường tiêu hóa là những khối u 

nhô  từ  niêm  mạc  ruột  vào  lòng  ống  tiêu  hóa, 

biểu hiện lâm sàng hay gặp nhất là đi tiêu phân 

máu. Nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy polyp 

có nguy cơ gây ung thư. Mặt khác, polyp có kích 

thước  lớn  thường  là  một  khỏi  điểm  của  lồng 

ruột. Thời gian từ lúc trẻ tiêu máu đến lúc được 

chẩn  đoán  thường  kéo  dài(1,7).  Nếu  được  chẩn 

đoán và điều trị sớm sẽ giảm nhiều nguy cơ cho 

bệnh nhi và chi phí cho gia đình. Nội sọi đại trực 

tràng những năm gần đây là lựa chọn hàng đầu 

đối  với  bệnh  nhân  nghi  ngờ  có  polyp  vì  cho 

phép định vị nơi tổn thương, ít biến chứng và có 

thể  can  thiệp  điều  trị.  Vì  vậy  nhằm  góp  thêm 

thông tin về bệnh lý polyp đại trực tràng và vai 

trò của nội soi đại trực tràng trong bệnh lý này, 

chúng tôi đã tiến hành đề tài này.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát 

Khảo  sát  đặc  điểm  lâm  sàng  và  vai  trò  của 

nội  soi  đại  tràng  trong  điều  trị  bệnh  polyp  đại 

trực tràng ở trẻ em tại bệnh viện nhi đồng 2 

Mục tiêu cụ thể 

Xác định tỉ lệ đặc điểm lâm sàng của trẻ có 

polyp đại trực tràng được chẩn đoán qua nội soi 

đại trực tràng. 

Xác  định  vai  trò  của  nội  soi  đại  trực  tràng 

trong điều trị polyp đại trực tràng. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  

Đối tượng nghiên cứu 

Tất cả trẻ em trẻ em từ 1 tháng đến 15 tuổi bị 

xuất huyết tiêu hóa dưới được xác định nguyên 

nhân  do  polyp  đại  trực  tràng  nhập  Khoa  Tiêu 

hóa  Bệnh  viện  Nhi  đồng  2  từ  ngày  01/01/2011 

đến ngày 31/12/2011. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

Bệnh nhân từ 1 tháng đến 15 tuổi nhập Khoa  Tiêu  hóa  Bệnh  viện  Nhi  Đồng  2  từ  ngày  ngày  01/01/2011 đến ngày 31/12/2011 với triệu chứng 

đi  tiêu  máu  phân  đại  thể  như  máu  đỏ  tươi,  đỏ  bầm, bầm đen, đàm máu, sợi máu và được chẩn  đoán xác định nguyên nhân là do polyp đại trực  tràng qua nội soi. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Tiêu  máu  nhưng  sau  đó  xác  định  được  nguyên  nhân  là  do  xuất  huyết  tiêu  hóa  trên  hoặc các nguyên nhân được xác định không do  polyp. 

Được chẩn đoán polyp đại trực tràng nhưng  trẻ không được nội soi 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu mô tả hồi cứu. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Qua khảo sát có 462 trẻ xuất huyết tiêu hóa  dưới  từ  1  tháng  đến  15  tuổi  nhập  Khoa  Tiêu  hóa Bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2011, có 95 trẻ  được nội soi đại trực tràng, trong đó có 77 trẻ  được  chẩn  đoán  do  nguyên  nhân  polyp  đại  trực tràng (81%).  

Qua nghiên cứu, trong các nguyên nhân gây  xuất huyết tiêu hóa dưới ở trẻ em không do tác  nhân  nhiễm  trùng,  polyp  đại  trực  tràng  là  nguyên nhân hàng đầu thường gặp gây ra xuất  huyết  tiêu  hóa  dưới.  Kết  quả  này  tương  tự  với  tác giả Nguyễn Diệu Vinh(4), El‐Kayat(2). 

Trẻ  xuất  huyết  tiêu  hóa  dưới  do  polyp  đại  trực tràng có các đặc điểm sau:  

Bảng 1: Đặc tính dân số nghiên cứu 

Đặc điểm Số lượng

(n=77)

Tỷ lệ

%

Phạm Đức Lễ% (n=104)

2 tuổi- 5 tuổi 35 45,5 50,9

Địa phương

Trang 3

Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014

Chuyên Đề Sức Khỏe Sinh Sản và Bà Mẹ Trẻ em  400

Qua  nghiên  cứu  cho  thấy  tuổi  mắc  polyp 

chủ  yểu  ở  trẻ  lớn  hơn  2  tuổi  (97,4%).  Tương  tự 

với  kết  quả  của  Phạm  Đức  Lễ,  lứa  tuổi  mắc 

nhiều  nhất  là  trẻ  lớn  trên  2  tuổi.  Theo  Gardia, 

lứa tuổi mắc polyp nhiều nhất là từ 5‐9 tuổi(3,7). 

Nam chiếm tỷ lệ cao hơn nữ, tỷ lệ nam/nữ 

là 2,2/1. 

Tỷ lệ này theo Phillai là 1,2/1. Theo Gardia là 

1,8/1. Theo Phạm Đức Lễ là 1,5/1(3,7,8). 

Trẻ  đến  từ  tỉnh  khác  chiểm  tỉ  lệ  chủ  yếu 

(76,9%),  có  lẽ  ở  các  tỉnh  khác  chưa  có  đầy  đủ 

trang  thiết  bị  để  chẩn  đoán  nên  đã  chuyển 

những trường hợp tiêu máu kéo dài. Đồng thời 

cũng có thể do yếu tố tâm lý của gia đình trẻ, tin 

tưởng vào tuyến trung ương. 

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng 

Đặc điểm

Số lượng (n=77)

Tỷ lệ

%

Phạm Đức

Lễ % (n=104)

Thời

gian tiêu

máu

Tính

chất tiêu

máu

Đỏ tươi dính theo phân 69 89,6

Đỏ tươi nhỏ giọt theo

Có khối cạnh hậu môn khi đi tiêu 16 20,7 10,6

Khám

hậu môn

thấy

polyp

Không khám hậu môn 62 80,5

Khám không thấy polyp 7 9,1

Thời gian tiêu máu trước khi nhập viện trên 

01tháng chiếm tỷ lệ 85,7%. 

Kết quả tương tự với Phạm Đức Lễ, Pilai RB 

khi thời gian tiêu máu kéo dài trên 1 tháng cũng 

chiếm tỉ lệ cao nhất lần lượt là 97% và 83,1(7,8). 

Như vậy thời gian từ khi trẻ đi tiêu máu đến 

khi trẻ được đưa đến bệnh viện để chẩn đoán và 

điều  trị  khá  lâu,  điều  này  có  thể  do  trẻ  em  bị 

xuất huyết tiêu hóa dưới ở các cơ sở y tế tuyến 

dưới chưa có đầy đủ trang thiết bị y tế để chẩn 

đoán  và  điều  trị  như  nội  soi  tiêu  hóa  ở  trẻ  em. 

Mặt  khác,  có  thể  mỗi  lần  đi  tiêu,  trẻ  tiêu  máu 

không nhiều và không có biểu hiện cấp tính nên 

tình trạng tiêu máu của trẻ chưa được gia đình 

quan tâm đúng mức. 

Tính chất đi tiêu máu chủ yếu là đi tiêu máu 

đỏ tươi dính theo phân chiếm tỉ lệ 89,6%. 

Có  8/15  trẻ  được  khám  hậu  môn  phát  hiện  được  polyp.  Theo  Waitayakul  S  thì  khám  hậu  môn  trực  tràng  phát  hiện  được  polyp  chiếm  50,6%(6).  Điều  này  cho  thấy  khám  hậu  môn  là  động  tác  rất  quan  trọng  khi  cơ  sở  không  được  trang bị các phương tiện hỗ trợ chẩn đoán polyp  như nội soi. 

Bảng 3: Đặc điểm nội soi polyp đại trực tràng  

Phạm Đức Lễ

%(n=104)

Nội soi đại trực tràng

Số lượng polyp

Vị trí polyp

Đại tràng và trực tràng 07 9,1

 Trẻ có tình trạng thiếu máu chiếm tỷ lệ cao  (67,5%), và chủ yếu là hồng cầu nhỏ nhược sắc. 

Điều này có thể trẻ mất máu kéo dài 

Số  lượng  01  polyp  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  75,3%,  vị  trí  polyp  ở  trực  tràng  chiếm  tỷ  lệ  79,2%,  đại  tràng  ít  gặp  hơn  và  polyp  có  cuống  chiếm tỷ lệ 97,4%. 

Trong  nghiên  cứu  của  Phạm  Đức  Lễ  vị  trí  polyp ở trực tràng chiếm tỷ lệ 73,1%(7). 

Trong  nghiên  cứu  của  Oduado  ở  779  bệnh  thì bệnh nhân có 1 polyp chiếm tỷ lệ 61,8% và vị  trí polyp ở trực tràng chiếm tỷ lệ 76,2%(5). 

Kết quả này cũng tương tự với Waitayakul S  khi vị trí ở trực tràng chiếm 88,2 %, Pillai RB là  83,1%(8,10). 

Nội soi điều trị 

Trong 77 trẻ nội soi có polyps, 100% trẻ được  cắt polyp qua nội soi, không có biến chứng chảy  máu sau khi cắt, hết triệu chứng xuất huyết tiêu  hóa dưới, và được xuất viện sau 1‐2 ngày. 

Trang 4

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 18 * Phụ bản của Số 1 * 2014  Nghiên cứu Y học

Kết  quả  này  tương  tự  với  nghiên  cứu  của 

Ridder L và các cộng sự khi nội soi 147 trẻ và 100 

% trẻ không có biến chứng sau khi nội soi(9). 

Theo  Jea  Hong  Park,  biến  chứng  sau  cắt 

polyp qua nội soi chiếm 0,008‐0,1% ở người lớn 

và vô cùng hiếm ở trẻ em(6). 

Kết quả nghiên cứu cho thấy nội soi đại trực 

tràng  vừa  là  phương  pháp  chẩn  đoán  vừa  là 

phương  pháp  điều  trị  có  hiệu  quả.  Nội  soi  cho 

phép xác định chính xác vị trí tổn thương, hình 

dạng, số lượng, kích thước tổn thương. Qua nội 

soi có thể nhìn thấy trực tiếp polyp, có thể bấm 

sinh  thiết  và  có  thể  cắt  polyp  để  điều  trị.  Biến 

chứng sau cắt hầu như là không có nên phương 

pháp  này  có  độ  an  toàn  cao.  Điều  đó  cho  thấy 

đối  với  polyp  đại  trực  tràng,  nội  soi  đại  trực 

tràng đóng một vại trò quan trọng khi cho phép 

chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả lại có 

độ an toàn cao. 

Tuy nhiên, nội soi là một phương pháp đòi 

hỏi phải có trình độ và có máy móc do đó phần 

lớn có ở các trung tâm y tế lớn, chưa phổ biến ở 

các tuyến dưới. 

KẾT LUẬN ‐ KIẾN NGHỊ  

Qua  khảo  sát  462  trẻ  xuất  huyết  tiêu  hóa 

dưới  có  77  trẻ  có  nguyên  nhân  là  do  polyp  đại 

trực  tràng,ứa  tuổi  thường  gặp  polyp  đại  trực 

tràng lớn hơn 2 tuổi chiếm 97,4%. Tỷ lệ nam: nữ 

2,2/1,  chủ  yếu  đến  từ  tỉnh  khác  (81,8%).  Thời 

gian  từ  lúc  tiêu  máu  đến  lúc  chẩn  đoán  trên  1 

tháng  chiếm  85,7%.  Chủ  yếu  là  đi  tiêu  máu  đỏ 

tươi  dính  theo  phân  89,6%,  thiếu  máu  67,5%, 

hồng cầu nhỏ nhược sắc 61%. Số lượng polyp 1 

polyp  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  75,3%,  ở  trực  tràng 

chiếm 79,2%, có cuống chiếm 97,4%.Qua nội soi 

đại tràng, 100% trẻ có polyp được  cắt  polyp  và 

không có biến chứng sau khi cắt. 

Trẻ  trên  2  tuổi  có  thời  gian  tiêu  máu  kéo  dài nên nghĩ đến nguyên nhân polyp đại trực  tràng  và  cho  trẻ  đi  nội  soi  đại  trực  tràng  để  chẩn  đoán.  Nội  soi  đại  trực  tràng  cho  thấy  là  một  phương  pháp  hiệu  quả  và  an  toàn  cho  trẻ.Khám  hậu  môn  rất  quan  trọng  khi  không 

có nội soi đại trực tràng.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

thông tin Y học Việt Nam, http://www.cimsi.org.vn 

Fatma  Z,  Tomoum,  Hoda  Y,  El‐Safory,  Hisham  A,  Hamdy,  Ahmed  M  (2006),  “Rectal  bleeding  in  Egyptian  children”,  Annals  of  Tropical  Paediatrics:  International  Child  Health,  26(4), p337‐344. 

of polyps in children”, Journal of Pediatric Gastroenterology  Nutrition, 39(1), p 451. 

và bệnh loét ở trẻ em tại khoa Tiêu hóa Bệnh viện Nhi Đồng 

2, Luận văn Thạc sĩ Y Khoa, Trường Đại học Y Dược thành  phố Hồ Chí Minh. 

M,  Fragoso  T,  et  al  (2004),  “Polyposis  of  the  Colon  in  Childhood”,  Journal  of  Pediatric  Gastroenterology  &  Nutrition, 39, p341. 

treatment  of  pediatric  lower  gastrointestinal  disorders”,  Koreal Journal of Pediatric, 53(9), p824‐829. 

đại  trực  tràng  trẻ  em  tại  Bệnh  viện  Nhi  đồng  I,  Luận  văn  chuyên Khoa 2, Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí  Minh, Thành phố Hồ Chí Minh. 

frequently multiple and recurrent”, Clinical pediatrics, 37 (4),  p253‐7. 

“Rectal  bleeding  in  children:  endoscopic  evaluation  revisited”,  Europe  Journal  of  Gastroenterol  Hepatol,  19(3),  p20‐317. 

characteristics  of  colorectal  polyp  in  Thai  children:  a  retrospective”,  Journal  of  the  medical  association  of  Thai,  87(1), p6‐41. 

  Ngày nhận bài báo      : 30/10/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo  : 05/11/2013  Ngày bài báo được đăng    : 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 19:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm