1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chỉ định và kỹ thuật mổ tạo hình bộ phận sinh dục nam ở lưỡng giới kinh nghiệm trên 34 bệnh nhân

5 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 295,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết đề cập về việc mô tả những bệnh nhân bị lưỡng giới thật và giả có chỉ định mổ tái tạo bộ phận sinh dục thành bộ phận sinh dục nam. Kỹ thuật mổ chữa cắt bỏ phần sinh dục của nữ và tạo hình dương vật, niệu đạo.

Trang 1

Ở LƯỠNG GIỚI KINH NGHIỆM TRÊN 34 BỆNH NHÂN 

Trần Ngọc Bích *  

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Chỉ định chọn giới tính nam. Trình bày kỹ thuật mổ chữa. Đánh giá kết quả mổ. 

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả những bệnh nhân bị lưỡng giới thật và giả có chỉ định mổ tái tạo bộ phận  sinh dục thành bộ phận sinh dục nam. Kỹ thuật mổ chữa cắt bỏ phần sinh dục của nữ và tạo hình dương vật,  niệu đạo. 

Kết quả: 34 bệnh nhân bị lưỡng giới đã có chỉ định mổ tạo bộ phận sinh dục theo giới nam, trong đó có 13 

lưỡng giới thật, 20 nam lưỡng giới giả và 1 nữ lưỡng giới giả ở bệnh tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh. Đã 

mổ cắt bộ phận sinh dục nữ ở 31 bệnh nhân và mổ tạo niệu đạo 26 bệnh nhân với kết quả tốt 20 bệnh nhân, 

trung bình 6 bệnh nhân. 

Kết luận: Lưỡng giới là một loại dị tật phức tạp cần chẩn đoán sớm và chỉ định mổ sớm với sự chọn giới 

phù hợp. 

Từ khóa: Luỡng giới. 

ABSTRACT 

INDICATION AND TECHNIQUE OF MALE GENITOPLASTY IN INTERSEX 

Tran Ngoc Bich * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 135 ‐ 139 

Objectives:  Indicate  the  male  genitoplasty.  Present  the  technique  of  male  genitoplasty.  Evaluate  the  operating results. 

Methods:  Methods:  Descriptive  study.  Technique  :  Ablation  of  the  female  genital  organ  and  male  genitoplasty. 

Results: 34 patients suffering from intersex were operated on for male genitoplasty. Among them there were 

one  girls  suffering  from  congenital  adrenal  hyperplasia,  13  patients  suffered  a  true  hermaphrodites  and  20  patients with male pseudohermaphroditism. Ablation of the female organs in 32 patients and urethroplasty in 26 

patients with results of following up: the good result in 20 patients, average in 6 patients. 

Conclusion:  The  intersex  needs  having  early  diagnosis  and  early  treatment  with  the  preferable  sexual 

choice. 

Key words: Intersex. 

ĐẶT VẤN ĐỀ  

Lưỡng giới là loại dị tật bẩm sinh phức tạp, 

khó  chẩn  đoán  và  điều  trị.  Người  bệnh  sống 

trong  tình  trạng  mơ  hồ  giới  tính  hay  giới  tính 

không được phân định của mình. Do vậy dị tật 

này gây ra sang chấn tinh thần, ảnh hưởng xấu 

tới  chất  lượng  cuộc  sống  và  nghề  nghiệp  của 

người bệnh đồng thời cũng gây nên tâm lý nặng 

nề cho cả gia đình bệnh nhân. Vấn đề đặt ra là  cần  có  chẩn  đoán  sớm  và  đúng  để  có  hướng  điều  trị  cụ  thể  về  giới  tính  sẽ  mổ  tạo.  Đã  có  nhiều nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về  tình trạng bệnh lý này và cách điều trị (7,8,1,2,3,4,5,6).  Vấn  đề  đặt  ra  là  với  tình  trạng  lưỡng  giới,  khi  nào có chỉ định mổ tạo thành bộ phận sinh dục  nam và nên chọn loại kỹ thuật mổ chữa nào để 

* Bệnh viện HN Việt Đức 

Trang 2

Mục tiêu nghiên cứu 

Chỉ  định  chọn  giới  tính  nam.  Trình  bày  kỹ 

thuật mổ chữa. Đánh giá kết quả mổ. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Là  những  bệnh  nhân  bị  lưỡng  giới  thật 

(LGT),  nam  lưỡng  giới  giả  (NaLGG)  và  nữ 

lưỡng  giới  giả  (NuLGG)  có  chỉ  định  mổ  tái  tạo 

bộ phận sinh dục thành bộ phận sinh dục nam. 

Trong thời gian từ 1997 tới 3/2012. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu mô tả. 

Nội dung nghiên cứu 

Chỉ định mổ tạo bộ phận sinh dục theo giới 

nam: dựa khả năng có con của giới định chuyển, 

khả năng sinh hoạt tình dục với sự hoà nhập với 

cộng  đồng  của  giới  định  chuyển,  ý  muốn  của 

bệnh nhân và của cha mẹ bệnh nhân. 

Nét chính về kỹ thuật mổ chữa: Cắt bỏ phần 

sinh dục của nữ như: Cắt tử cung, âm đạo, ống 

dẫn  trứng,  loa  vòi,  buồng  trứng  hay  tổ  chức 

buồng  trứng.  Tạo  hình  dương  vật  và  niệu  đạo 

làm dương vật thẳng, đúng vị trí và tạo niệu đạo 

với lỗ đái đưa tới đỉnh qui đầu. 

Đánh giá kết quả 

Chúng tôi đề nghị đánh giá kết quả theo các 

tiêu chuẩn sau. 

Tốt: Dương vật thẳng khi cương, đái ra đỉnh 

qui đầu. Không hẹp, không rò niệu đạo. Có chức 

năng sinh dục và tiểu tiện bình thường 

Trung bình: Dương vật thẳng khi cương, đái 

ra  đỉnh  qui  đầu.  Còn  hẹp  niệu  đạo  hay  có  rò 

niệu  đạo  phải  mổ  lại  nhưng  kỹ  thuật  mổ  đơn 

giản. Vẫn có khả năng sinh hoạt tình dục. 

Xấu:  Không  đạt  được  yêu  cầu  của  mổ  mà 

phải mổ lại, lần mổ lại khó như lần mổ đầu hoặc 

khó hơn: Dương vật còn cong, hẹp niệu đạo hay 

toác niệu đạo, phải tạo hình lại niệu đạo. 

KẾT QUẢ  

Số lượng bệnh nhân: 34. 

Tuổi  :  <  2  tuổi:  7  bệnh  nhân,  3  ‐  5  tuổi:  11  bệnh nhân, 6 ‐ 15 tuổi: 5 bệnh nhân, > 15 tuổi: 11  bệnh nhân (1 bệnh nhân 49 tuổi). 

Tình trạng giới tính trước mổ 

Lưỡng  giới  thật:  13  bệnh  nhân.  Các  bệnh  nhân  này  đều  có  buồng  trứng  hay  mô  buồng 

trứng ở tuyến sinh dục. Nhiễm sắc thể giới tính: 

46  XY  ở  4  bệnh  nhân,  46  XX/  46  XY  ở  2  bệnh  nhân, 46 XX ở 5 bệnh nhân, có 2 bệnh nhân chưa 

làm Nhiễm sắc thể giới tính. Nam lưỡng giới giả  : 20 bệnh nhân. Nhiễm sắc thể giới tính 46 XY ở 

13  bệnh  nhân,  47  XYY  ở  1  bệnh  nhân,  45  X/  46 

XY ở 2 bệnh nhân, XX ở 2 bệnh nhân, có 2 bệnh 

nhân chưa làm NST giới tính. Nữ lưỡng giới giả 

ở bệnh tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh: 1  bệnh  nhân  có  nhiễm  sắc  thể  giới  tính  46  XX.  Bệnh  nhân  này  có  tử  cung,  buống  trứng  bình  thường,  có  xoang  niệu  dục,  phân  loại  theo 

Prader type III. 

Các triệu chứng lâm sàng:  Đến  khám  dị  tật 

lỗ  đái  lệch  thấp  33  bệnh  nhân,  trong  đó  kèm  theo: Thoát vị bẹn: 3 bệnh nhân. Không có tinh  hoàn ở bìu: 19 bệnh nhân. Có lỗ âm đạo: 8 bệnh  nhân. Có thoát vị bẹn ở một bên và ẩn tinh hoàn  bên đối diện: 2 bệnh nhân. U bụng (Ung thư tinh  hoàn)  bên  phải,  tuyến  sinh  dục  trái  ở  trong  ổ  bụng. Một bệnh nhân sau mổ làm thẳng dương  vật và tạo hình niệu đạo, mổ thăm dò tuyến sinh  dục  trái  không  có  ở  ống  bẹn  đã  15  năm,  tới  khám lại và mổ chữa vì có sỏi trong âm đạo do  còn  xoang  niệu  dục.  Vị  trí  lỗ  đái  trước  mổ:  Lỗ  đái ở tầng sinh môn 13 bệnh nhân, ở 1/3 sau bìu 

15 bệnh nhân ở giữa bìu 5 bệnh nhân. Đến khám 

vì gốc dương vật ở vị trí thấp: 1 bệnh nhân. 

Kỹ thuật mổ chữa đã thực hiện 

Yêu  cầu  mổ  chữa  khi  tạo  nam  là  cắt  bỏ  bộ  phận sinh dục nữ, tạo hình lại bộ phận sinh dục  nam  như  làm  thẳng  dương  vật,  chuyển  gốc  dương  vật  về  vị  trí  bình  thường,  tạo  hình  niệu  đạo từ lỗ đái thấp tới đỉnh qui đầu. Tùy mức độ 

dị tật mà mổ 1, 2 hay 3 thì. Các kỹ thuật mổ một  hay nhiều thì: đã mổ 32 bệnh nhân. 

Mổ một thì 5 bệnh nhân: tất cả các yêu cầu trên  được làm trong một lần mổ. 

Trang 3

Thì 1: cắt bộ phận sinh dục nữ, có thể dựng 

thẳng dương vật kèm theo. 

Thì 2: làm thẳng dương vật và tạo hình niệu 

đạo. 

Mổ 3 thì: ở 7 bệnh nhân. 

Thì  1:  sinh  thiết  tuyến  sinh  dục  có  thể  kèm 

theo cắt bộ phận sinh dục nữ. 

Thì  2:  làm  thẳng  và  chuyển  gốc  dương  vật 

về vị trí bình thường có thể kèm theo cắt tuyến 

sinh dục nữ. 

Thì 3: tạo hình niệu đạo. 

Với  Nữ  lưỡng  giới  thật  và  Nữ  lưỡng  giới 

giả ở 14 bệnh nhân 

Cắt  bỏ  phần  sinh  dục  của  nữ  như  cắt  tử 

cung, âm đạo, ống dẫn trứng, loa vòi và buồng 

trứng,  tuyến  sinh  dục  hỗn  hợp  hay  tổ  chức 

buồng trứng ở 13 bệnh nhân. Ở 1 bệnh nhân: cắt 

bỏ U tinh hoàn phải trong ổ bụng và sinh thiết 

tuyến  sinh  dục  trái.  Kết  quả  giải  phẫu  bệnh: 

tuyến sinh dục trái là buồng trứng, còn bên phải 

là  tinh  hoàn  ung  thư  (seminone).  Sau  ra  viện, 

chuyển bệnh nhân điều trị hóa chất. Tạo hình lại 

dương vật và niệu đạo ở 10 bệnh nhân, 4 bệnh 

nhân đang chờ mổ tạo niệu đạo. 

Với Nam lưỡng giới giả ở 19 bệnh nhân 

Cắt bỏ phần sinh dục của nữ như cắt tử cung 

nhỏ, âm đạo, vòi trứng, loa vòi trứng. Tạo hình 

niệu đạo ở 16 bệnh nhân, còn 3 bệnh nhân đang 

chờ mổ. Có 2 bệnh nhân vẫn để lại âm đạo khi 

mổ tạo hình niệu đạo. Một bệnh nhân nam XX 

có gốc dương vật ở vị trí thấp và 2 tinh hoàn nhỏ 

ở trong bìu chưa mổ. Nếu mổ thì chỉ chuyển gốc 

dương vật về vị trí bình thường. 

Các kỹ thuật tạo niệu đạo với các chất liệu 

như sau ở 26 bệnh nhân 

Tạo hình lại niệu đạo bằng vạt da dày tự do: 

3  bệnh  nhân.  Tạo  hình  lại  niệu  đạo  bằng  vạt 

niêm mạc bao qui đầu tự do ở 8 bệnh nhân. Tạo 

hình lại niệu đạo bằng vạt da giữa bìu kết hợp 

vạt niêm mạc bao qui đầu tự do ở 7 bệnh nhân. 

Tạo  hình  lại  niệu  đạo  bằng  vạt  da  giữa  bìu  kết 

hợp vạt niêm mạc bao qui đầu có cuống mạch ở 

7  bệnh  nhân.  Tạo  niệu  đạo  bằng  da  dương  vật 

và bìu, bao qui đầu: 1 bệnh nhân. Mới xác định  giới tính, mổ làm thẳng dương vật, đang chờ mổ  tạo niệu đạo: 7 bệnh nhân. 

Kết quả mổ qua theo dõi 

Kết quả sớm: ngay sau khi ra viện, bộ phận  sinh  dục  đã  có  hình  thái  như  của  nam  nhưng  còn phù nề nhẹ da dương vật. Không có hoại tử  các  phần  đã  mổ  tạo  hình,  không  nhiễm  khuẩn, 

không tử vong. Kết quả qua theo dõi ở 26 bệnh 

nhân.  Thời  gian  theo  dõi:  Theo  dõi  <  6  tháng  3  bệnh  nhân,  theo  dõi  từ  6  tháng  tới  3  năm  14  bệnh nhân, theo dõi 3 năm 9 bệnh nhân. Kết quả  tốt:  10  bệnh  nhân,  kết  quả  trung  bình:  6  bệnh 

nhân. 

BÀN LUẬN 

Về chẩn đoán (8,1,2) 

Các bệnh nhân trên được xác định giới tính  dựa  khám  lâm  sàng,  xét  nghiệm  cận  lâm  sàng,  nhiễm  sắc  thể  giới  tính,  đánh  giá  đại  thể  tuyến  sinh dục khi mổ và sinh thiết tuyến sinh dục.  Yếu  tố  quyết  định  giới  tính  chính  là  tuyến  sinh dục vừa có nang trứng và ống  sinh  tinh  ở  Lưỡng giới thật, chỉ có tổ chức tinh hoàn ở Nam  lưỡng giới giả và chỉ có tổ  chức  buồng  trứng  ở 

Nữ lưỡng giới giả. 

Ở lưỡng giới thật có các khả năng về tuyến  sinh dục như tổ chức ống sinh tinh và các nang  trứng hoặc ở cùng 1 tuyến sinh dục (tuyến sinh  dục hỗn hợp ở 1 hay cả 2 bên) hoặc với 2 tuyến  sinh dục riêng biệt (tinh hoàn ở 1 bên và buồng  trứng  ở  bên  kia)  hoặc  là  một  tinh  hoàn  hoặc  1  buồng  trứng  ở  1  bên  còn  tuyến  sinh  dục  hỗn  hợp  ở  bên  kia.  Tuyến  sinh  dục  có  tổ  chức  tinh  hoàn  kèm  theo  ống  dẫn  tinh  và  mào  tinh.  Vòi  trứng và tử cung 1 sừng có ở bên  buồng  trứng  hoặc  tuyến  hỗn  hợp  buồng  trứng  tinh  hoàn  nhưng có ít tổ chức tinh hoàn. Tổ chức tử cung 

có ở đa số các trường hợp, tuyến tiền liệt thô xơ  hoặc không có.  

Chúng tôi có 13 bệnh nhân bị lưỡng giới thật  qua kết quả xét nghiệm và mổ, sinh thiết như đã  trình bày. 

Về nam lưỡng giới giả chúng tôi loại trừ dị  tật lỗ đái lệch thấp thể bìu và đáy chậu có thể 

Trang 4

phối  hợp  với  tinh  toàn  chưa  xuống  bìu  ở  1 

hoặc  cả  2  bên.  Còn  có  5  nguyên  nhân  tạo  hội 

chứng lưỡng giới giả nam như: Chế tiết không 

đủ testosterone do thiếu men hay do loạn sản 

tinh  hoàn  (dysenésies  testiculaires),  không 

nhạy  cảm  ngoại  vi  với  aldrogènes,  do  thiếu 

men  5  alpha‐Réductase,  do  thiếu  hormon 

kháng Muller do tự phát. 

Chúng  tôi  không  xác  định  chính  xác  được 

nguyên nhân của tất cả các bệnh nhân nêu trên, 

nhưng theo kết quả sinh thiết tuyến sinh dục là 

tinh hoàn và sự tồn tại của bộ phận sinh dục nữ 

như tử cung, âm đạo kèm theo với cơ quan sinh 

dục nam mà xếp loại vào Nam lưỡng giới giả. 

Còn nữ lưỡng giới giả ở một bệnh nhân thì 

được  xác  định  bị  tăng  sản  tuyến  thượng  thận 

bẩm sinh. 

Về chỉ định mổ (8) 

Chọn giới mổ: Là một vấn đề rất quan trọng. 

Chúng tôi chọn giới mổ chữa phụ thuộc vào các 

yếu tố như khả năng có con, khả năng sinh hoạt 

tình dục với sự hoà nhập với cộng đồng của giới 

định chuyển, ý muốn của bệnh nhân và của cha 

mẹ bệnh nhân.  

Cụ  thể:  Nếu  tạo  nữ  mà  có  con  được  thì  sẽ 

mổ tạo nữ, nếu tạo nam mà có khả năng có con 

thì mổ tạo nam, nếu không có con ở cả 2 giới thì 

chọn giới tính mà sẽ mổ tạo được bộ phận sinh 

dục  gần  giống  nhất  với  bộ  phận  sinh  dục  của 

giới  định  chuyển  để  bệnh  nhân  có  cuộc  sống 

tình  dục  bình  thường  được.  Tuy  vậy,  ý  kiến 

chọn  giới  của  chính  bệnh  nhân  ở  tuổi  trưởng 

thành  cũng  được  tôn  trọng.  Trên  từng  bệnh 

nhân  với  bệnh  cụ  thể,  chúng  tôi  giải  thích  và 

thấy  rõ  xu  hướng  muốn  tạo  con  trai  chiếm  ưu 

thế.  Ngay  cả  trường  hợp  nữ  bị  tăng  sản  tuyến 

thượng  thận  bẩm  sinh  thể  nam  hóa  ở  tuổi  26 

cũng chỉ có một nguyện vọng duy nhất là chữa 

thành con trai vì đã có tên con trai và sống với 

giới nam từ nhỏ. 

Về  tuổi  mổ:  Chúng  tôi  thấy  mổ  ở  lứa  tuổi 

nhỏ thì tránh được sang chấn tinh thần cho bệnh 

nhân  và  cho  cả  bố  mẹ  bệnh  nhân,  giúp  bệnh 

nhân  hoà  nhập  cuộc  sống  với  cộng  đồng,  học 

hành  và  hướng  nghiệp  bình  thường.  Lứa  tuổi 

mổ  phù  hợp  từ  1  tới  3  tuổi.  Rất  tiếc  là  số  bệnh  nhân của chúng tôi còn tới khám muộn, trên 2/3 

ở tuổi trên 5 tuổi. Khi để mổ muộn, có thể xảy ra  những  nguy  cơ  cao  với  tuyến  sinh  dục  bất  thường  về  cấu  trúc  và  vị  trí.  Chúng  tôi  có  một  bệnh nhân lưỡng giới thật, tinh hoàn và buồng  trứng trong ổ bụng thì tinh hoàn bị ung thư. Với  tuyến sinh dục loạn sản thì nguy cơ ung thư hóa  cao. Do vậy cần phải mổ chữa ở lứa tuổi nhỏ. 

Về  kỹ  thuật  mổ:  Khi  mổ  tạo  hình  bộ  phận 

sinh  dục  theo  giới  nam  thì  về  nguyên  tắc  phải  cắt  hết  bộ  phận  sinh  dục  của  nữ  trước.  Tuy  nhiên có 2 trường hợp, một bệnh nhân ở tuổi 49 

có âm đạo nhỏ, dài và một bệnh nhân 3 tuổi có  xoang niệu dục và âm đạo nhỏ, chúng tôi lại mổ  một  thì,  làm  thẳng  dương  vật  và  tạo  hình  niệu  đạo ngay nhưng để lại âm đạo nhỏ và có nếp da  bìu  che  khuất.  Khi  mổ  tạo  niệu  đạo  nếu  để  lại 

âm đạo thì phải tách riêng âm đạo ra vì nếu để  lại  xoang  niệu  dục  thì  có  nguy  cơ  cao  tạo  sỏi  trong âm đạo. Hai bệnh nhân này có thể mổ thì  hai để cắt âm đạo nếu có nhu cầu. Về kỹ thuật 

mổ tạo hình dương vật và niệu đạo thì có thể mổ 

1 hay 2 thì tùy theo mức độ phức tạp của dị tật.  Còn chất liệu tạo niệu đạo thì sử dụng da ‐ niêm  mạc  bao  qui  đầu,  da  bìu  tại  chỗ  hay  da  dày  tự 

do. 

KẾT LUẬN 

Trong  15  năm,  34  bệnh  nhân  bị  mơ  hồ  giới  tính được mổ tạo hình bộ phận sinh dục thành  sinh  dục  của  nam,  trong  đó  có  13  lưỡng  giới  thật, 1 nữ lưỡng giới giả, 20 nam lưỡng giới giả.  Lưỡng giới là một loại dị tật phức tạp cần chẩn  đoán sớm và chỉ định mổ sớm với sự chọn giới  phù hợp. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Deborah SL, Imbeaud S, Herman M (1994). Surgical and genetic 

Aspect  of  Persistent  Mỹllerian  Duct  Syndrome.  Journal  of 

Pediatric Surgery, 29:  pp 61 – 65. 

2 Donahoe PK (1987). The diagnosis and treatment of infant with  intersex  abnormalities,  Pediatric  clinics  of  North  America,  34: 

pp 1333 ‐ 1347 

3 Donahoe  PK,  Schnizer  JJ  (1998).  Ambiguos  genitalia  in  the  newborn, Pediatric surgery ‐ Mosby, pp 1797 ‐ 1812.  

Trang 5

4 Kaplan  I  (1967).  A  simple  technic  for  shortening  the  clitoris 

without  amputation,  Obstetrics  and  gynecology,  29:  pp  270  ‐ 

271. 

5 Mollard P, Juskiewenski S, Sarkissian J (1981). Clitoroplasty in 

intersex : a new technic, British Journal of Urology, 53: pp 371 ‐ 

373. 

6 Stefan H (1969). Surgical reconstrution of the external genitalia 

in  female  Pseudohermaphrodites,  British  Journal  of  Urology, 

39: pp 347 ‐ 352. 

7 Trần Ngọc Bích (1999). Tái tạo lại cơ quan sinh dục ngoài của 

nữ bị hội chứng sinh dục thượng thận, Tạp chí Y Học Việt nam, 

4: tr 31‐ 36. 

8 Trần Ngọc Bích (2003). Mơ hồ giới tính (chẩn đoán và điều trị ở 

33 bệnh nhân), Tạp chí Y học thực hành, 3: tr 26 – 29. 

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo  22/07/2013.  Ngày bài báo được đăng:    15–09‐2013  

 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 18:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm