1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Siêu âm vú kết hợp nhũ ảnh so với nhũ ảnh đơn thuần trong tầm soát ung thư vú ở phụ nữ có nhu mô vú dày: Một nghiên cứu theo dõi 6 tháng

7 129 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 418,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khả năng chẩn đoán và giá trị chẩn đoán của siêu âm kết hợp nhũ ảnh với nhũ ảnh đơn thuần trong tầm soát ung thư vú ở phụ nữ nhu mô vú dày. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

SIÊU ÂM VÚ KẾT HỢP NHŨ ẢNH SO VỚI NHŨ ẢNH ĐƠN THUẦN TRONG TẦM SOÁT UNG THƯ VÚ Ở PHỤ NỮ CÓ NHU MÔ VÚ DÀY:

MỘT NGHIÊN CỨU THEO DÕI 6 THÁNG

Nguyễn Trần Bảo Chi*, Nguyễn Đỗ Nguyên**, Huỳnh Ngọc Minh*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề Nhũ ảnh kĩ thuật số không loại bỏ được những giới hạn cơ bản là ung thư vú không vôi hóa

thường bị che mờ bởi nhu mô vú dày xung quanh hoặc nằm trên Siêu âm có khả năng thấy được ung thư vú kích thước nhỏ không kèm hạch nách mà không thấy được trên nhũ ảnh, và cho hình ảnh cải thiện với nhu mô vú dày Tìm hiểu vai trò của siêu âm trợ giúp trong tầm soát ung thư vú để đưa ra một phác đồ phù hợp hơn trên những phụ nữ có nhu mô vú dày là cần thiết

Mục tiêu So sánh khả năng chẩn đoán và giá trị chẩn đoán của siêu âm kết hợp nhũ ảnh với nhũ ảnh đơn

thuần trong tầm soát ung thư vú ở phụ nữ nhu mô vú dày

Phương pháp Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu với 1.283 phụ nữ mô vú dày đi khám tầm soát ung thư vú

tại bệnh viện Hùng Vương Đối tượng được chụp nhũ ảnh và siêu âm vú; kết quả được đọc riêng biệt, phân loại RADS cuối cùng dựa trên kết quả phân độ cao nhất của nhũ ảnh và siêu âm Những đối tượng có kết quả BI-RADS 1, 2, 3 hay được sinh thiết có kết quả không ung thư và không có tăng sản không điển hình được theo dõi trong 6 tháng; và kết luận tiêu chuẩn vàng là không ung thư nếu kết quả hình ảnh không đổi Tiêu chuẩn vàng ung thư được xác định nếu kết quả sinh thiết là ung thư hoặc tăng sản không điển hình

Kết quả Có 19 ca được chẩn đoán ung thư, trong đó 9 ca nghi ngờ trên nhũ ảnh đơn thuần, 15 ca trên siêu

âm đơn thuần, và 19 ca khi kết hợp nhũ ảnh và siêu âm Khả năng chẩn đoán của nhũ ảnh là 7,6/1.000, của siêu

âm là 13,4/1.000, và 16/1.000 khi kết hợp nhũ ảnh và siêu âm Khả năng chẩn đoán, độ nhạy, và độ đặc hiệu của nhũ ảnh kết hợp với siêu âm cao hơn nhũ ảnh đơn thuần có ý nghĩa thống kê Ở những trường hợp có kết quả hình ảnh học nghi ngờ, giá trị tiên đoán dương của khuyến cáo sinh thiết là 32,76%

Kết luận Ở những phụ nữ Việt Nam có nhu mô vú dày, khi tầm soát ung thư vú, đầu tiên nên sử dụng

siêu âm, kế đó là nhũ ảnh, và tốt nhất là kết hợp siêu âm với nhũ ảnh

Từ khoá tầm soát ung thư vú, siêu âm, nhũ ảnh, mô vú dày

ABSTRACT

MAMMOGRAPHY PLUS ULTRASOUND VERSUS MAMMOGRAPHY ALONE IN SCREENING BREAST CANCER AMONG DENSE BREAST WOMEN: A SIX-MONTH FOLLOW UP STUDY

Nguyen Tran Bao Chi, Nguyen Do Nguyen, Huynh Ngoc Minh

* Y hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 – No 3 – 2011: 165 - 171

Background: Dig ital mammography does not eliminate the fundamental limitation that noncalcified breast cancers are obscured by surrounding or overlying dense parenchyma Ultrasound has the potential to depict small node negative breast cancer invisible on mammography, and hence a better performance over dense breast tissue Validating the role of supplemental screening ultrasound to get a more suitable screening strategy for women with dense breast tissue is needed

Phòng khám Nhũ hoa, Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Phụ Sản Hùng Vương TP Hồ Chí Minh

** Bộ môn Nhi, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

Trang 2

Objectives: To compare the diagnostic yield and performance of screening with ultrasound plus

mammography vs mammography alone in women with dense breast tissue

Methods: A prospective cohort was carried out among 1,283 women with dense breast tissue screened for

breast cancers at Hung Vuong Hospital Participants underwent mammography and ultrasound screening examinations; the results were read independently and then combined to get the final conclusion – the highest BI-RADS classification of mammography and ultrasound The participants with classified imaging BI-BI-RADS 1, 2, 3

or pathology results without cancer and atypical hyperplasia were followed up to 6 months and defined as a reference standard of “no cancer” if the imaging characteristics did not change Reference standard defines

“cancer” if pathological examinations result in cancer or atypical hyperplasia

Results: Nineteen participants were diagnosed cancer: 9 suspicious on mammography alone, 15 on

ultrasound alone, and 19 on mammography plus ultrasound The diagnostic yield of mammography was 7.6 per 1,000, and 13.4/1,000 of ultrasound alone, and 16/1,000 when combined ultrasound and mammography Diagnostic yield, sensitivity, and specificity of ultrasound plus mammography were significantly higher than that

of mammography alone The positive predictive value of biopsy recommendation after full diagnostic suspicious imaging was 32.76%

Conclusions: Screening breast cancer for dense breast Vietnamese women should start with breast

ultrasound followed by mammography, and a parallel combination of both is ultimate

Key words: breast cancer screening, ultrasound, mammography, dense breast tissue

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất,

chiếm 27,4% trong tổng số các loại ung thư ở

phụ nữ trên toàn thế giới, và là nguyên nhân

gây tử vong hàng đầu ở nữ giới, chiếm 17,4% tử

vong do ung thư(8) Tại Việt Nam, năm 1998, ở

nữ giới, ung thư vú là loại ung thư có tần suất

cao nhất ở Hà Nội với xuất độ chuẩn hóa theo

tuổi (Age-Standardized Rate) là 20,3/100000 dân,

và cao thứ hai ở thành phố Hồ Chí Minh với

xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 16/100000 dân

sau ung thư cổ tử cung với xuất độ chuẩn hóa

theo tuổi là 28,6/100000 dân(14) Đây thực sự là

một gánh nặng sức khỏe cho phụ nữ ở nước ta

Phát hiện sớm ung thư vú làm giảm tử vong

Theo IARC năm 2002, tỉ lệ tử vong do ung thư

vú ở các phụ nữ có tầm soát nhũ ảnh được ước

đoán giảm 35%(8) Nhũ ảnh có thể mô tả hình

ảnh vôi hóa do ung thư, bao gồm ung thư ống

tuyến vú tại chỗ Tuy nhiên, nhũ ảnh có thể

không thấy được hình ảnh ung thư vú xâm lấn,

đặc biệt khi nhu mô vú dày Gần một nửa phụ

nữ dưới 50 tuổi và khoảng 1/3 phụ nữ trên 50

tuổi có nhu mô vú dày trên 50% thể tích tuyến

vú(17), và trên những đối tượng này độ nhạy của

nhũ ảnh là thấp, chỉ từ 30% đến 48%(11,13) Thêm vào đó, tự bản thân mô vú dày là một yếu tố tăng nguy cơ ung thư vú gấp 4 đến 6 lần(7,13) Đối với mô vú dày, nhũ ảnh kĩ thuật số đã cải thiện

độ nhạy từ 55% đối với phim rửa lên 70% trong một loạt phim lớn sử dụng kĩ thuật số, với tiêu chuẩn vàng là theo dõi lâm sàng(16) Tuy nhiên, nhũ ảnh kĩ thuật số không loại bỏ được những giới hạn cơ bản là ung thư vú không vôi hóa thường bị che mờ bởi nhu mô vú dày xung quanh hoặc nằm trên

Siêu âm có khả năng thấy được ung thư vú kích thước nhỏ không kèm hạch nách mà không thấy được trên nhũ ảnh(5,6,10,12), và đây là phương pháp cho hình ảnh cải thiện với nhu mô vú dày(10) Berg cho rằng siêu âm tầm soát kết hợp nhũ ảnh tăng khả năng phát hiện ung thư vú ở phụ nữ nguy cơ cao(3), theo thang điểm Gail(1) Tuy nhiên giá trị của thang điểm Gail chưa được chứng minh trên phụ nữ Châu Á

Phòng khám nhũ hoa cuả bệnh viện Phụ Sản Hùng Vương tại thành phố Hồ Chí Minh tiếp nhận khoảng 15.000 trường hợp mỗi năm từ khắp các tỉnh thành, trong đó khoảng 20% phụ

nữ trên 40 tuổi có nền mô vú dày đến khám

Trang 3

định kì; và đây là những đối tượng mà vai trò

của nhũ ảnh rất hạn chế Tìm hiểu vai trò của

siêu âm trợ giúp trong tầm soát ung thư vú để

đưa ra một phác đồ phù hợp hơn trên những

đối tượng này cũng như những thông tin chính

xác về từng phương tiện tầm soát cho bệnh

nhân khám tại bệnh viện Hùng Vương nói riêng

và phụ nữ Việt Nam nói chung là cần thiết Tại

Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ

về vấn đề này Nghiên cứu này được tiến hành

với mục đích xác định giá trị của siêu âm vú kết

hợp nhũ ảnh so với nhũ ảnh đơn thuần trong

tầm soát ung thư vú ở phụ nữ có nhu mô vú

dày

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Đây là một thử nghiệm chẩn đoán sử dụng

thiết kế đoàn hệ tiến cứu, được thực hiện tại

bệnh viện Hùng Vương từ tháng 08, 2009 đến

tháng 08, 2010 Theo Berg(1), khả năng chẩn đoán

ung thư vú của siêu âm vú kết hợp nhũ ảnh là

11,8/1000 phụ nữ tầm soát, và với nhũ ảnh đơn

thuần là 7,6/1.000 phụ nữ Tại bệnh viện Hùng

Vương, khả năng phát hiện ung thư trên nhũ

ảnh ở phụ nữ nhu mô vú dày qua lâm sàng

được ước lượng là 10/1.000 Để có 80% cơ hội

phát hiện được khả năng chẩn đoán ung thư vú

của siêu âm kết hợp nhũ ảnh cao hơn nhũ ảnh

đơn thuần là 5/1.000 (với tỉ lệ nhũ ảnh kết hợp

siêu âm là bất thường mà nhũ ảnh đơn thuần

bình thường là 5/1000, và tỉ lệ nhũ ảnh đơn

thuần bất thường mà nhũ ảnh kết hợp siêu âm

bình thường là 0/1.000) ở mức ý nghĩa 5%, cỡ

mẫu cần cho nghiên cứu là 1.233 ca Đối tượng

nghiên cứu là những phụ nữ đến khám tầm

soát, từ 40 tuổi trở lên, hoặc 30-39 tuổi nếu có

yếu tố gia đình ung thư vú; không có triệu

chứng lâm sàng của ung thư vú như u vú làm

thay đổi đường cong vú; tiết dịch núm vú 1 lỗ

như máu, huyết thanh vàng trong, biến đổi da

vú hay núm vú, hạch nách (những dấu hiệu này

được khẳng định bởi nhân viên chụp nhũ ảnh);

mô vú dày không đồng nhất hoặc dày hoàn

toàn trên 1 hay 2 vú; và đồng ý kí bản chấp

thuận tham gia nghiên cứu Tiêu chí loại trừ là

không hợp tác được trong chụp nhũ ảnh hay siêu âm; có thai; cho con bú hay dự định có thai trong 2 năm; đã được chẩn đoán ung thư vú; có mảnh ghép trong vú (túi nước, silicon); đã trải qua thủ thuật ở vú trong vòng 1 năm trước khi tham gia nghiên cứu; hoặc chắc chắn không thể quay lại để theo dõi hay sinh thiết khi cần thiết Đối tượng được xếp thứ tự khám để nhũ ảnh và siêu âm vú không được đọc cùng lúc, và người đọc nhũ ảnh không biết kết quả của siêu

âm và ngược lại Nhũ ảnh được chụp với máy Senographe 800T và siêu âm được thực hiện với máy Toshiba có đầu dò phẳng, tần số 7,5 Mhz, cho hình ảnh độ phân giải cao ở độ sâu từ 2mm đến 45mm, đánh dấu vị trí tổn thương trên 2 vú, vùng khuếch đại và tiêu cự điều chỉnh phù hợp

để thấy được bất thường Có 3 cách lấy mẫu mô

là sinh thiết lõi, mổ sinh thiết dưới định vị X quang nếu là tổn thương vi vôi hóa, sinh thiết lõi kèm mổ sinh thiết nếu kết quả sinh thiết lõi là không ung thư và không có tăng sản không điển hình nhưng phân loại BI-RADS 5 Kết luận cuối cùng là ung thư nếu kết quả là ung thư hoặc tăng sản không điển hình; kết luận không ung thư nếu kết quả không là ung thư và không có tăng sản không điển hình Đối tượng được coi là mất dấu khi không tái khám dù đã được hai lần gọi điện thoại Quá trình thu thập dữ kiện được trình bày trong hình 1

Dữ kiện được nhập 2 lần với phần mềm Epidata và phân tích bằng phần mềm STATA 8.0 Dùng kiểm định chi bình phương McNemar để so sánh độ nhạy và độ đặc hiệu giữa 2 phương tiện nhũ ảnh kết hợp siêu âm

và nhũ ảnh đơn thuần Độ nhạy và độ đặc hiệu của nhũ ảnh kết hợp siêu âm được tính theo công thức sau:

Tổng độ nhạy = Độ nhạy nhũ ảnh + Độ nhạy siêu

âm – (Độ nhạy nhũ ảnh*Độ nhạy siêu âm) Tổng độ đặc hiệu = Độ đặc hiệu nhũ ảnh*Độ đặc hiệu siêu âm

KẾT QUẢ

Kết quả thu thập dữ kiện được trình bày

Trang 4

trong hình 2 Có 1190 ca với kết quả sinh thiết

được đưa vào phân tích Không có sự khác biệt

về đặc điểm nhân khẩu học và hình ảnh học

giữa mẫu nghiên cứu và mẫu phân tích (Bảng 1,

2), và cách thức lấy mẫu mô không ảnh hưởng

đến kết luận cuối cùng (p>0,05) Nghiên cứu đã

phát hiện 19 trường hợp ung thư vú trong tổng

số 1190 phụ nữ, trong đó 15 ca thể hiện là khối u

trên siêu âm và 4 ca là tổn thương vi vôi hóa

trên nhũ ảnh Kích thước trung bình khối u là

15,34 ± 4,01 mm Nhũ ảnh đơn thuần phát hiện 9

ca ung thư vú (47%), siêu âm đơn thuần phát

hiện 15 ca ung thư vú (79%), và khi kết hợp nhũ

ảnh siêu âm phát hiện 19 ca (100%) Khả năng

chẩn đoán ung thư vú của nhũ ảnh đơn thuần là

7,6/1.000 (9/1.190), của siêu âm đơn thuần là

13,4/1.000 (15/1.190), và của nhũ ảnh kết hợp

siêu âm là 16/1.000 (19/1.190) Khả năng chẩn

đoán, độ nhạy, độ đặc hiệu của nhũ ảnh kết hợp

với siêu âm cao hơn nhũ ảnh đơn thuần có ý

nghĩa thống kê (Bảng 3) Giá trị tiên đoán dương

là ung thư vú cho phân loại BI-RADS 4 khi có

khuyến cáo sinh thiết của nhũ ảnh là 37,5%, của

siêu âm là 34,09%, của nhũ ảnh kết hợp với siêu

âm là 32,76%; và ở nhóm phân loại BI-RADS 5

các giá trị tương ứng của nhũ ảnh là 50% (1/2

ca), siêu âm là 83,3% (5/6 ca), và nhũ ảnh kết hợp

siêu âm là 71,42% (5/7 ca)

Bảng 1 Phân bố đặc điểm dân số - xã hội của đối

tượng nghiên cứu, tần số và phần trăm (%)

Đặc điểm Mẫu nghiên

cứu (N=1.283)

Mẫu mất dấu (N=93)

Mẫu phân tích (N=1.190)

(5) 47,28 (5)

Địa chỉ

Tuổi hành kinh lần

đầu (tb (ĐLC))*

(1,72) 14,17 (1,57) Tuổi sanh lần đầu (tb

(ĐLC))*

(3,72) 24,74 (3,93)

Số lần

Đặc điểm Mẫu nghiên

cứu (N=1.283)

Mẫu mất dấu (N=93)

Mẫu phân tích (N=1.190)

Chưa mãn kinh

Quanh thời kì mãn kinh

Tình trạng mãn kinh

Tiền sử dùng nội tiết

năm

Bệnh vú lành tính

Tăng sản thùy hay ống không điển hình

Tiền sử bản thân

Có tiền căn gia đình ung thư vú

1.220 (95) 89 (96) 1.131 (95)

* (tb (ĐLC)): trung bình (độ lệch chuẩn)

Bảng 2 Phân loại ACR BI-RADS của nhũ ảnh,

siêu âm vú và nhũ ảnh kết hợp siêu âm vú

Phương tiện

Phân loại BI-RADS

Mẫu nghiên cứu (N=1.283)

Mẫu mất dấu (N=93)

Mẫu phân tích (N=1.190)

Nhũ ảnh

Siêu âm

Nhũ ảnh kết hợp siêu âm

Trang 5

Bảng 3 Giá trị chẩn đoán ung thư vú của các phương tiện hình ảnh học (KTC: khoảng tin cậy)

Nhũ ảnh kết hợp siêu âm Nhũ ảnh đơn thuần Sự khác biệt (

0 / 00 ) p Siêu âm

Khả năng chẩn đoán (KTC

Diện tích dưới đường cong

Giá trị tiên đoán dương %

Giá trị tiên đoán âm %

BÀN LUẬN

Khả năng chẩn đoán ung thư vú của nhũ

ảnh kết hợp với siêu âm cao hơn nhũ ảnh đơn thuần trên phụ nữ có nhu mô dày có ý nghĩa thống kê với p = 0,002, điều này tương đương

1171

1156 Tổng

1.190 ca (phân tích)

Có tiêu chuẩn vàng

93 ca mất dấu:

- 22 không liên hệ được

- 71 liên hệ được nhưng không tái khám (trong đó

4 ca có tiền căn gia đình)

Nhũ ảnh kết hợp siêu âm

+

-

1

5

15

Tổn

g

0

1132 2

4

- + +

-

Tổng

10

Tổn

g

0

0

10 Nhũ ảnh

Nhũ ảnh kết hợp siêu âm

thư

Sơ đồ 2 Kết quả thu thập dữ kiện

1.283 ca (Thỏa tiêu chí nhận vào)

Nhũ ảnh kết hợp siêu

âm Nhũ

ảnh

- + +

-

Tổng

1259

Tổng

0

123

1

28

Đối tượng thỏa tiêu chí nhận vào (Kết quả NA và SA đọc riêng)

SA BI-RADS 1, 2

NA BI-RADS 1,2

SA BI-RADS 3, 4, 5 hay

NA BI-RADS 3, 4, 5

SA chẩn đoán NA chẩn đoán

5

Theo dõi 6 tháng (SA/NA) Dấu hiệu

nghi ngờ BI-RADS 1,

2

Sinh thiết lõi

Không đổi hay giảm

Ung

thư

(-)

Ung thư (-)

Ung thư (-)

Ung thư (+)

Ung

thư

(+)

Ung thư (-)

ST lõi hay

Mổ ST

ST: sinh thiết)

Theo dõi 6 tháng (BI-RADS 4)

Mổ ST (BI-RADS 5)

Không đổi hay giảm

Ung thư (-)

Ung thư (+) Ung thư (-)

Trang 6

với kết quả nghiên cứu của Berg(1), Buchberger(4)

và Kolb(11); tuy nhiên sự khác biệt này là lớn hơn:

8,4/1.000 Tỉ lệ ung thư vú hiện mắc ở những

bệnh nhân tại bệnh viện Hùng Vương cao hơn

so với tỉ lệ tương ứng trong nghiên cứu của các

tác giả vừa nêu Tỉ lệ ung thư vú xâm lấn trong

nghiên cứu này là 12/19 ca (63,16%) mà phần lớn

chỉ thấy trên siêu âm(2) Trong đa số các nghiên

cứu, chỉ số Kappa trong đọc siêu âm là cao hơn

chỉ số Kappa trong đọc nhũ ảnh(3) Chính vì 3 lí

do trên giải thích sự khác biệt lớn khi kết hợp

nhũ ảnh với siêu âm so với nhũ ảnh đơn thuần

trong nghiên cứu này

Kích thước trung bình ung thư phát hiện

trong nghiên cứu này là 15,34 ± 4,01 mm, lớn

hơn kích thước trung bình các khối u trong các

nghiên cứu trên là từ 9mm–11mm Điều này

cũng lí giải vì sao khả năng chẩn đoán khi kết

hợp nhũ ảnh và siêu âm trong nghiên cứu này

cao hơn các nghiên cứu khác Trong thời gian

theo dõi 6 tháng, không có trường hợp ung thư

nào được phát hiện thêm, điều này cho thấy

phải chăng đối tượng nghiên cứu đi tầm soát

ung thư vú trễ vì tuổi trung bình của những đối

tượng này là 46,26 ± 4,67 Như vậy, cần tuyên

truyền phụ nữ đi khám tầm soát ung thư vú

định kì

Độ nhạy của nhũ ảnh trên nền mô vú dày

trong nghiên cứu này là 43,37%, KTC 95%

(44,53%- 50,21%) gần với giá trị trong nghiên

cứu của Berg(1), nhưng thấp hơn nghiên cứu của

Buchberger(4), và Kolb(11) có độ nhạy rất cao vì

trong 2 nghiên cứu này đối tượng gồm cả

những trường hợp sờ thấy u, nhưng nhìn chung

độ nhạy nhũ ảnh không cao trên nền mô vú

dày, trong khi độ nhạy của nhũ ảnh là 98% trên

nền mô vú thoái hóa mỡ(9) Độ đặc hiệu và giá trị

tiên đoán âm của nhũ ảnh trong nghiên cứu này

tương đương với giá trị trong nghiên cứu của

Berg(1) Giá trị tiên đoán dương 37,5%, KTC 95%

(34,75%–40,25%) trong nghiên cứu này cao hơn

trong nghiên cứu của Berg, là 14,7%, điều này có

thể giải thích do kích thước trung bình khối u và

tỉ lệ ung thư hiện mắc tại bệnh viện Hùng

Vương cao hơn(1) Giá trị tiên đoán dương trong

nghiên cứu này thấp hơn trong nghiên cứu của N.T.N Phượng(15) vì đối tượng trong nghiên cứu của N.T.N Phượng là phụ nữ tiền mãn kinh, gồm cả mô vú dày và mô vú không dày, nên số trường hợp ung thư phát hiện bằng nhũ ảnh cao hơn

Giá trị chẩn đoán của siêu âm trong nghiên cứu này không đồng bộ với các nghiên cứu khác(1,4,6,11) do kích thước trung bình của khối u lớn hơn hay đặc điểm dân số nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung, độ nhạy của siêu

âm đơn thuần trong tầm soát ung thư vú trên phụ nữ mô vú dày cao hơn so với nhũ ảnh đơn thuần Độ nhạy của siêu âm đơn thuần là 78,95% cao hơn độ nhạy của nhũ ảnh đơn thuần

là 47,37% (Bảng 3), tuy không có ý nghĩa thống

kê vì diện tích dưới đường cong của siêu âm là 0,88, KTC 95% (0,788–0,976), của nhũ ảnh là 0,73, KTC 95% (0,615–0,845), nhưng có ý nghĩa về mặt lâm sàng Về quan điểm tầm soát, ứng dụng siêu âm là phương tiện tầm soát trên phụ nữ có cùng đặc điểm dân số trên

Siêu âm có độ nhạy cao trong tầm soát ung thư vú trên phụ nữ mô vú dày, tuy nhiên vẫn bỏ sót tổn thương vi vôi hóa Do đó khi kết hợp 2 phương pháp sẽ làm tăng độ nhạy lên và sự khác biệt này có ý nghĩa cả về thống kê lẫn lâm sàng Nghiên cứu này giống như các nghiên cứu khác là nhũ ảnh và siêu âm thực hiện trên cùng

1 đối tượng, tuy nhiên chỉ có nghiên cứu của Berg(1) và nghiên cứu này là có sự làm mù giữa người đọc siêu âm và nhũ ảnh, kết quả siêu âm nhũ ảnh được phân tích riêng biệt, đây là điểm mạnh của nghiên cứu Nghiên cứu này không phát hiện các ca ung thư qua lần khám thứ 2, nghĩa là các ca cho kết quả hình ảnh học bình thường, có tổn thương lành tính hay có vẻ lành tính (BI-RADS 1, 2, 3), trong khi đó các nghiên cứu khác phát hiện ra các ca ung thư giữa các lần khám(1,11), lí do nghiên cứu này chỉ có thời gian theo dõi 6 tháng trong khi đó các nghiên cứu trên(1,11) có thời gian và các lần theo dõi là 6 tháng, 1 năm, hoặc 2 năm Đây là điểm hạn chế của nghiên cứu, làm cho giá trị chẩn đoán có thể cao hơn giá trị thật Vì vậy, nghiên cứu này cần

Trang 7

tiếp tục theo dõi 2 năm để đạt được giá trị chẩn

đoán của phương tiện hình ảnh chính xác nhất

KẾT LUẬN

Tầm soát ung thư vú tại Việt Nam là không

có tổ chức, đối tượng có nhu cầu phải tự chi trả,

hoặc bảo hiểm y tế chỉ chi trả cho chụp nhũ ảnh

khi có bệnh lý vú Bên cạnh đó, chụp nhũ ảnh

không dễ tiếp cận, khó đào tạo nhân lực; trong

khi siêu âm dễ tiếp cận, chi phí rẻ hơn, dễ đào

tạo nhân lực Người bệnh cảm thấy thoải mái

hơn khi làm siêu âm so với nhũ ảnh Như vậy,

với giá trị chẩn đoán của siêu âm có được trong

nghiên cứu này kèm theo những lí do trên,

chúng ta nên đưa siêu âm làm phương tiện tầm

soát ung thư vú đầu tiên cho phụ nữ có nhu mô

vú dày tại Việt Nam, kế đó là nhũ ảnh, và tốt

nhất là kết hợp siêu âm với nhũ ảnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Berg WA, Blume JD, Cormack JB, Mendelson EB, Lehrer D,

Bohm-Velez M, Pisano ED, Jong RA, Evans WP, Morton MJ,

Mahoney MC, Larsen LH, Barr RG, Farria DM, Marques

HS, Boparai K (2008) "Combined screening with ultrasound

and mammography vs mammography alone in women at

elevated risk of breast cancer" JAMA, 299, (18), pp.2151-63

2 Berg WA, Gilbreath PL (2000) "Multicentric and multifocal

cancer: whole-breast US in preoperative evaluation"

Radiology, 214, (1), pp.59-66

3 Bevers TB (2008) "Ultrasound for the screening of breast

cancer" Curr Oncol Rep, 10, (6), pp.527-8

4 Buchberger W, DeKoekkoek-Doll P, Springer P, Obrist P,

Dunser M (1999) "Incidental findings on sonography of the

breast: clinical significance and diagnostic workup" AJR Am

J Roentgenol, 173, (4), pp.921-7

5 Buchberger W, Niehoff A, Obrist P, DeKoekkoek-Doll P,

Dunser M (2000) "Clinically and mammographically occult

breast lesions: detection and classification with

high-resolution sonography" Semin Ultrasound CT MR, 21, (4),

pp.325-36

6 Crystal P, Strano S D, Shcharynski S, Koretz M J (2003)

"Using sonography to screen women with

mammographically dense breasts" AJR Am J Roentgenol,

181, (1), pp.177-82

7 Harvey JA, Bovbjerg VE (2004) "Quantitative assessment of mammographic breast density: relationship with breast cancer risk" Radiology, 230, (1), pp.29-41

8 International Agency for Research on Cancer, Breast cancer

on the rise, stomach cancer decreasing, http://www.iarc.fr/en/media-centre/pr/2005/pr159.html, 10 June 2009

9 Kerlikowske K, Carney PA, Geller B, Mandelson MT, Taplin

SH, Malvin K, Ernster V, Urban N, Cutter G, Rosenberg R, Ballard-Barbash R (2000) "Performance of screening mammography among women with and without a first-degree relative with breast cancer" Ann Intern Med, 133, (11), pp.855-63

10 Kolb TM, Lichy J, Newhouse JH (1998) "Occult cancer in women with dense breasts: detection with screening US diagnostic yield and tumor characteristics" Radiology, 207, (1), pp.191-9

11 Kolb TM, Lichy J, Newhouse JH (2002) "Comparison of the performance of screening mammography, physical examination, and breast US and evaluation of factors that influence them: an analysis of 27,825 patient evaluations" Radiology, 225, (1), pp.165-75

12 Leconte I, Feger C, Galant C, Berliere M, Berg BV, D'Hoore

W, Maldague B (2003) "Mammography and subsequent whole-breast sonography of nonpalpable breast cancers: the importance of radiologic breast density" AJR Am J Roentgenol, 180, (6), pp.1675-9

13 Mandelson MT, Oestreicher N, Porter PL, White D, Finder

CA, Taplin SH, White E (2000) "Breast density as a predictor

of mammographic detection: comparison of interval- and screen-detected cancers" J Natl Cancer Inst, 92, (13), pp.1081-7

14 Nguyễn Mạnh Quốc, Văn Vũ Vũ, Nguyễn Chấn Hùng (2004) Dịch tễ học ung thư đại cương về phương pháp ghi nhận ung thư quần thể IN Nguyễn Chấn Hùng (Ed.) Ung bướu học nội khoa Nhà xuất bản Y học, tr.15-20

15 Nguyễn Thị Ngọc Phượng (2003) "Kết quả chương trình tầm soát ung thư vú bằng nhũ ảnh cho phụ nữ tiền mãn kinh các quận nội ngoại thành TPHCM từ 14/06/-30/06/03" Tạp chí Y học, tập 7, (4), tr.313-317

16 Pisano E D, Gatsonis C, Hendrick E, Yaffe M, Baum J K, Acharyya S, Conant E F, Fajardo L L, Bassett L, D'Orsi C, Jong R, Rebner M (2005) "Diagnostic performance of digital versus film mammography for breast-cancer screening" N Engl J Med, 353, (17), pp.1773-83

17 Stomper PC, D'Souza DJ, DiNitto PA, Arredondo MA (1996) "Analysis of parenchymal density on mammograms

in 1353 women 25-79 years old" AJR Am J Roentgenol, 167, (5), pp.1261-5

Ngày đăng: 22/01/2020, 18:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w