1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lao màng não ở người nhiễm hay không nhiễm HIV: Hình ảnh lâm sàng, thay đổi dịch não tủy, đặc tính hình ảnh học

9 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 433,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu phân tích hình ảnh lâm sàng, thay đổi dịch não tủy, đặc tính hình ảnh học của bệnh nhân lao màng não có nhiễm hay không nhiễm HIV. Nghiên cứu thưc hiện trên những bệnh nhân lao màng não, đồng ý làm xét nghiệm HIV, tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ 1 tháng 1 năm 2012 đến 31 tháng 12 năm 2012.

Trang 1

 HÌNH ẢNH LÂM SÀNG, THAY ĐỔI DỊCH NÃO TỦY,  

ĐẶC TÍNH HÌNH ẢNH HỌC 

Lê Tự Phương Thảo*, Nguyễn Thị Hồng Hạnh ** , Nguyễn Huy Dũng *** , Nguyễn Thanh Hiệp **** , 

 Nguyễn Hữu Lân **  

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Lao màng não thường xảy ra ở người suy giảm miễn dịch mắc phải (HIV) hơn ở người không 

nhiễm HIV, nhưng nhiễm HIV có làm thay đổi biểu hiện lao màng não và kết cục của những bệnh nhân này thì  không được rõ. 

Mục tiêu: Phân tích hình ảnh lâm sàng, thay đổi dịch não tủy, đặc tính hình ảnh học của bệnh nhân lao 

màng não có nhiễm hay không nhiễm HIV.  

Phương  pháp  và  đối  tượng  nghiên  cứu: Nghiên cứu mô tả các trường hợp bệnh. Bệnh nhân lao màng 

não, đồng ý làm xét nghiệm HIV, tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ 1 tháng 1 năm 2012 đến 31 tháng 12 năm 

2012. Chẩn đoán lao màng não dựa vào việc cấy dịch não tủy tìm thấy Mycobacterium tuberculosis. 

Kết quả: Trong thời gian nghiên cứu, có 122 bệnh nhân được chẩn đoán lao màng não. Tuổi trung vị của 

bệnh nhân là 35 tuổi. Trong số những bệnh nhân này, có 40,2% (49/122) bệnh nhân HIV dương, 60% (83/122)  bệnh nhân nam. Các triệu chứng phổ biến là đau đầu gặp trong 75,4% (92/122) bệnh nhân; buồn nôn hoặc nôn  gặp trong 51,6% (63/122) bệnh nhân; thay đổi ý thức từ tình trạng lú lẫn đến hôn mê gặp trong 46,7% (57/122)  bệnh nhân; cổ gượng gặp trong 65,6% (80/122) bệnh nhân; dấu hiệu Kernig dương gặp trong 45,1% (55/122)  bệnh nhân. Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng này không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân HIV  dương và HIV âm. 80,3% (98/122) bệnh nhân lao màng não có sốt và 40,1% (50/122) bệnh nhân bị sụt cân. Sốt 

và sụt cân ít gặp ở bệnh nhân HIV âm hơn bệnh nhân HIV dương (theo thứ tự là 74% so với 89,8% và 32,9% so  với 53,1%; p < 0,04). Không khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả xét nghiệm dịch não tủy giữa bệnh nhân  HIV dương và bệnh nhân HIV âm. CT scan sọ não thấy có bất thường não trong 18% (22/122) bệnh nhân. Tử  vong trong thời gian nằm bệnh viện là 15,6% (19/122) bệnh nhân. 

Kết luận: Sốt, sụt cân, đau đầu, chứng kích thích màng não và thay đổi trạng thái tinh thần là những đặc 

điểm lâm sàng của lao màng não. Kết quả xét nghiệm dịch não tủy cho thấy không khác biệt có ý nghĩa thống kê  giữa nhóm bệnh nhân HIV dương và nhóm bệnh nhân HIV âm. Chụp CT scans thấy có hình ảnh bất thường của  não trong một phần năm bệnh nhân lao màng não. 

Từ khóa: Lao màng não, vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người.  

ABSTRACT 

TUBERCULOUS MENINGITIS IN PATIENTS WITH OR WITHOUT HIV: CLINICAL FEATURES, 

CEREBROSPINAL FLUID CHANGES, IMAGING CHARACTERISTICS. 

Le Tu Phuong Thao, Nguyen Thi Hong Han, Nguyen Huy Dung, Nguyen Thanh Hiep,   Nguyen Huu Lan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 230 ‐ 238 

Background:  Tuberculosis  meningitis  (TBM)  occurs  more  commonly  in  human  immunodeficiency  virus 

* Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP. Hồ Chí Minh. ** BV. Phạm Ngọc Thạch, TP. Hồ Chí Minh. 

Tác giả liên lạc: TS.BS. Nguyễn Hữu Lân  Email: nguyenhuulan1965@yahoo.com.vn   ĐT: 0913185885 

Trang 2

(HIV)‐infected individuals than in HIV‐uninfected individuals, but whether HIV infection alters the presentation  and outcome of tuberculosis meningitis is unknown. 

Objectives: To analyze the clinical features, cerebrospinal fluid (CSF) changes, imaging characteristics of 

TBM among patients with and without HIV. 

Materials and Methods: We performed a case series study at Pham Ngoc Thach hospital from 1 st  January 

2012  to  31 st   December  2012  on  TBM  patients  who  agreed  for  HIV  testing.  Diagnosis  of  TBM  based  on  the  presence of Mycobacterium tuberculosis in CSF culture. 

Results: During the study, 122 patients were diagnosed of TBM. Their median age was 35 years. Among 

these patients, 40.2% (49/122) were HIV‐positive and 60% (83/122) were males. The common symptoms were  headache  in  75.4%  (92/122);  nausea  or  vomiting  in  51.6%  (63/122);  altered  consciousness  ranging  from  confusion to a comatose state in 46.7% (57/122); neck stiffness in 65.6% (80/122) and positive Kerning’s sign in  45.1% (55/122) of patient population. These symptoms were not statistically significant between HIV positive  and  HIV  negative  subgroups.  80.3%  (98/122)  of  TBM  patients  had  fever  and  40.1%  (50/122)  suffered  from  weight loss. Fever and weight loss were much less observed in non HIV‐infected than in HIV‐infected patients  (74% vs. 89.8% and 32.9% vs. 53.1% respectively; p < 0.04). CSF examination showed no significant difference  between  HIV‐positive  and  HIV‐  negative  subgroups.  Cranial  CT  scans  showed  imaging  abnormalities  of  the  brain in 18% (22/122) patient population. The in‐hospital mortality was 15.6 % (19/122). 

Conclusions: Fever, weight loss, headache, meningismus and mental status changes are clinical features of 

TBM. CSF examination showed no significant difference between HIV‐positive and HIV‐ negative subgroups. 

CT scans showed imaging abnormalities of the brain in one‐fifth of the TBM patient population. 

Key words: Tuberculosis meningitis (TBM), Human immunodeficiency virus (HIV). 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh lao là một đại dịch toàn cầu, đặc biệt ở 

các nước đang phát triển. Việt Nam đứng thứ 12 

trong  số  22  quốc  gia  có  gánh  nặng  về  lao  cao 

nhất  thế  giới.  Theo  báo  cáo  kiểm  soát  lao  toàn 

cầu  năm  2012  của  tổ  chức  Y  tế  thế  giới,  có  8,7 

triệu người mắc bệnh lao trong năm 2011, trong 

đó  có  13%  đồng  nhiễm  HIV,  có  1,4  triệu  người 

tử vong do lao, trong đó 990.000 người HIV âm 

tử  vong  và  430.000  người  HIV  dương  tử  vong. 

Trong  1,4  triệu  người  tử  vong  do  lao,  50%  là 

viêm  màng  não  lao(11).  Nhiều  nghiên  cứu  đã 

chứng  minh  có  khoảng  5‐15%  các  cá  nhân  tiếp 

xúc với trực khuẩn lao sẽ phát triển thành bệnh 

lao có triệu chứng. Lao hệ thống thần kinh trung 

ương  chiếm  khoảng  1%  tổng  số  bệnh  nhân  lao 

có  triệu  chứng.  Lao  hệ  thống  thần  kinh  trung 

ương có thể là lao màng não, lao kê, lao não, u 

não do  lao  hoặc  viêm  tủy  do  lao.  Ở  bệnh  nhân 

lao màng não, di chứng thần kinh là phổ biến, tỷ 

lệ  tử  vong  thay  đổi  từ  15%  đến  60%(10).  Lao  hệ 

thống thần kinh trung ương là hình thức nghiêm 

trọng  nhất  của  bệnh  lao  ngoài  phổi  và  nó  gắn  liền với tỷ lệ đáng kể bệnh tật, tử vong. Tỷ lệ này  tăng cao đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang  phát triển do thiếu nguồn lực để chẩn đoán sớm 

và  do  công  chúng  có  nhận  thức  kém  về  bệnh  tật(9).  Trong  nhiều  trường  hợp,  chẩn  đoán  và  điều  trị  lao  hệ  thống  thần  kinh  trung  ương  bị  chậm trễ do thiếu hiểu biết về cơ chế bệnh sinh, 

do  không  có  các  xét  nghiệm  chẩn  đoán  nhanh,  nhạy, giá cả phù hợp. Nền tảng của chẩn đoán 

và bắt đầu điều trị thích hợp sớm hoàn toàn dựa  vào lâm sàng nghi ngờ bệnh nhân có khả năng  cao  bị  lao  màng  não  và  bắt  buộc  cho  điều  trị  ngay  để  mong  có  kết  quả  điều  trị  tốt  hơn  cho  bệnh nhân. Do đó, điều quan trọng là xác định,  hiểu  mô  hình  lâm  sàng  và  phổ  bệnh  của  lao  màng não để đi đến một chẩn đoán sớm(4). Hiện  vẫn  còn  ít  các  dữ  liệu  sẵn  có  liên  quan  đến  lao  màng  não  tại  Việt  Nam.  Do  đó,  mục  tiêu  của  nghiên cứu này là để mô tả đặc điểm lâm sàng,  thay đổi dịch não tủy và kết quả chẩn đoán hình  ảnh X quang của bệnh nhân lao màng não nhập 

Trang 3

Hồ Chí Minh. 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 

Chúng  tôi  thực  hiện  nghiên  cứu  mô  tả  các 

trường hợp bệnh nhân nhập viện tại Bệnh viện 

Phạm  Ngọc  Thạch  từ  tháng  01‐2012  đến  tháng 

12‐2012,  có  chẩn  đoán  xác  định  lao  màng  não 

dựa  vào  xét  nghiệm  cấy  dịch  não  tủy  tìm  thấy 

Mycobacterium  tuberculosis  và  đồng  ý  làm  xét 

nghiệm  tầm  soát  HIV.  Tất  cả  bệnh  nhân  đều 

được ghi nhận tiền sử bệnh tật, bệnh lý đi kèm 

tại  thời  điểm  nhập  viện,  triệu  chứng  lâm  sàng, 

chụp  X‐quang  phổi  qui  ước,  xét  nghiệm  đàm 

trực  tiếp  tìm  AFB,  cấy  đàm  tìm  Mycobacterium 

tuberculosis,  xét  nghiệm  glucose  máu  cùng  lúc 

với chọc dò dịch não tủy. Chọc dò dịch não tủy 

nhận định màu sắc và làm xét nghiệm glucose, 

chloride,  protid,  lactate  dehydrogenase  (LDH), 

Adenosine Deaminase (ADA), polymerase chain 

reaction (PCR) lao, soi trực tiếp tìm AFB, cấy tìm 

Mycobacterium  tuberculosis,  soi  tìm  Cryptococcus 

neoformans,  cấy  tìm  Cryptococcus neoformans  nếu 

kết quả soi âm tính, cấy tìm vi khuẩn không lao, 

đếm số lượng và tỷ lệ các thành phần tế bào. Lấy 

máu  làm  xét  nghiệm  huyết  thanh  chẩn  đoán 

HIV, đếm số lượng tế bào lympho T CD4 trong 

nhóm  bệnh  nhân  HIV  dương,  công  thức  máu, 

blood urea nitrogen (BUN), creatinine, bilirubin 

toàn  phần,  trực  tiếp,  gián  tiếp,  serum  glutanric 

oxaloacetic  transaminase  (SGOT),  serum 

glutamic‐pyruvic transaminase (SGPT).  

Các số liệu sau khi thu thập sẽ được mã hóa 

và  nhập  vào  máy  vi  tính,  sử  dụng  phần  mềm 

Stata 10 để xử lý. Thống kê mô tả bao gồm tỷ lệ, 

trung bình, trung vị của các biến số khác nhau. 

Chúng tôi sử dụng phép kiểm χ2 để so sánh tỷ lệ 

khác biệt cho các biến định tính. Sử dụng kiểm 

định  thống  kê  “Shapiro  test”  để  xác  định  giả 

thiết phân phối chuẩn của một biến số. Nếu biến 

số có phân phối chuẩn, sử dụng phép kiểm t với 

2 mẫu độc lập. Nếu biến số không có phân phối 

chuẩn,  sử  dụng  kiểm  định  Mann‐Whitney.  Tất 

cả các phương pháp kiểm định giả thuyết được 

thực hiện bằng cách sử dụng kiểm định hai bên. 

Ngưỡng ý nghĩa là 0,05 (p < 0,05) để chấp nhận  hay bác bỏ giả thuyết thống kê.  

KẾT QUẢ 

Có  122  bệnh  nhân  lao  màng  não  đủ  tiêu  chuẩn thu dung vào nghiên cứu, tuổi trung bình 

37 ± 15 tuổi (từ 2 tuổi đến 94 tuổi, tuổi trung vị 

35 tuổi), bao gồm 39 nữ, 83 nam, 49 bệnh nhân  HIV  dương,  73  bệnh  nhân  HIV  âm.  Tỷ  lệ  HIV  dương  ở  bệnh  nhân  nam  là  50,6%  (42/83  bệnh  nhân), nữ là 17,9% (7/39 bệnh nhân, (p = 0,001).  Tuổi trung bình của nữ là 34 ± 19 tuổi (từ 2 tuổi  đến  94  tuổi,  tuổi  trung  vị  35  tuổi).  Tuổi  trung  bình  của  nam  là  38  ±  13  tuổi  (từ  6  tuổi  đến  82  tuổi,  tuổi  trung  vị  35  tuổi).  Không  có  khác  biệt  theo giới tính về tuổi trung bình của bệnh nhân  nghiên  cứu  (p  >  0,05).  Tuổi  trung  bình  của  49  bệnh  nhân  HIV  dương  là  33  ±  8  tuổi  (từ  6  tuổi  đến  64  tuổi,  tuổi  trung  vị  34  tuổi),  của  73  bệnh  nhân  HIV  âm  là  39  ±  18  tuổi  (từ  2  tuổi  đến  94  tuổi, tuổi trung vị 39 tuổi). Tuổi trung bình của  bệnh  nhân  HIV  dương  thấp  hơn  có  ý  nghĩa  thống kê so với bệnh nhân HIV âm, (p = 0,006). 

Có  32,7%  (16/49)  bệnh  nhân  HIV  dương  có  lao  phổi đi kèm so với 30,1% (22/73) bệnh nhân HIV 

âm có lao phổi đi kèm (p = 0,8). Chẩn đoán lao  phổi  dựa  trên  kết  quả  cấy  đàm  tìm  thấy 

Mycobacterium  tuberculosis.  Tỷ  lệ  bệnh  nhân  soi 

trực  tiếp  tìm  thấy  AFB  trong  đàm  thấp  hơn 

nhiều  so  với  cấy  đàm  tìm  Mycobacterium 

tuberculosis, với tỷ lệ AFB dương tính trong đàm 

là  18,4%  (9/49)  bệnh  nhân  HIV  dương  so  với  19,2%  (14/73)  bệnh  nhân  HIV  âm,  (p  =  1).  Có  34,9% (29/83) bệnh nhân nam có lao phổi đi kèm 

so với 23,1% (9/39) bệnh nhân nữ có lao phổi đi  kèm, (p = 0,2). 13,9% (17/122) bệnh nhân có tiền  căn  lao  phổi  đã  hoàn  thành  điều  trị,  9,8%  (12/122)  bệnh  nhân  đang  điều  trị  lao  phổi  từ  tháng thứ 2 đến tháng thứ 8, 0,8% (1/122) bệnh  nhân  đang  điều  trị  lao  màng  não  tháng  thứ  1,  0,8% (1/122)  bệnh  nhân  đang  điều  trị  lao  màng  não  tháng  thứ  6,  0,8%  (1/122)  bệnh  nhân  đang  điều  trị  lao  hạch  (có  chẩn  đoán  xác  định  mô  học). 

Các  đặc  điểm  hình  thể  học,  dấu  hiệu  sinh 

Trang 4

tồn  của  bệnh  nhân  HIV  dương  và  bệnh  nhân 

HIV  âm  được  trình  bày  trong  bảng  1.  Triệu 

chứng,  dấu  hiệu  lâm  sàng  của  bệnh  nhân  HIV 

dương  và  bệnh  nhân  HIV  âm  được  trình  bày 

trong bảng 2. Xét nghiệm PCR lao dịch não tủy 

chỉ  dương  tính  trong  20/73  (27,4%)  bệnh  nhân 

HIV  âm  so  với  16/49  (32,7%)  bệnh  nhân  HIV 

dương (p > 0,5). Soi trực tiếp tìm AFB trong dịch 

não  tủy  chỉ  dương  tính  trong  3/73  (4,1%)  bệnh 

nhân HIV âm so với 5/49 (10,2%) bệnh nhân HIV 

dương  (p  >  0,2).  Xét  nghiệm  dịch  não  tủy  của 

bệnh  nhân  HIV  dương  và  bệnh  nhân  HIV  âm 

được  trình  bày  trong  bảng  3.  Xét  nghiệm  máu 

của  bệnh  nhân  HIV  dương  và  bệnh  nhân  HIV 

âm  được  trình  bày  trong  bảng  4.  Số  lượng  tế 

bào lympho T CD4 trong nhóm bệnh nhân HIV 

dương là 100 ± 103 tế bào/mm3 với số trung vị là 

70  tế  bào/mm3.  Hình  ảnh  học  tổn  thương  não 

của  bệnh  nhân  HIV  dương  và  bệnh  nhân  HIV 

âm được trình bày trong bảng 5. Tử vong trong 

thời  gian  nằm  điều  trị  tại  bệnh  viện  xảy  ra  ở 

19/122 bệnh nhân bao gồm 13/49 bệnh nhân HIV 

dương so với 6/73 bệnh nhân HIV âm (p = 0,01), 

17/83  bệnh  nhân  nam,  2/39  bệnh  nhân  nữ  (p  < 

0,04). Thời gian trung bình từ lúc nhập viện đến 

khi  tử  vong  của  19  bệnh  nhân  là  15  ±  18  ngày, 

trung  vị  7  ngày;  không  có  khác  biệt  có  ý  nghĩa 

thống kê giữa nhóm bệnh nhân HIV dương (18 

± 22 ngày, trung vị 6 ngày) và nhóm bệnh nhân 

HIV (8 ± 3 ngày, trung vị 8 ngày) (p> 0,05). 

Bảng 1: Đặc điểm hình thể học, dấu hiệu sinh tồn của 

bệnh nhân lao màng não 

Các đặc điểm

hình thể học,

dấu hiệu sinh tồn

HIV dương (n = 49)

HIV âm (n = 73) p

Thân nhiệt (oC) 37,7 ± 0,8 37,6 ± 0,8 > 0,7

Huyết áp tâm thu

Huyết áp tâm trương

Bảng 2: Triệu chứng, dấu hiệu lâm sàng của bệnh 

nhân lao màng não 

Triệu chứng, dấu hiệu lâm sàng

HIV dương (n = 49)

HIV âm (n = 73)

p

Bảng 3: Kết quả xét nghiệm dịch não tủy của bệnh 

nhân lao màng não 

Xét nghiệm HIV dương (n = 49) (n = 73) HIV âm p

Màu sắc

Xét nghiệm sinh hóa

Glucose dịch não tủy/

Xét nghiệm tế bào

Tế bào đa nhân trung tính

Tế bào thoái hóa (%) 15 (n = 25) 20 (n = 34) > 0,4

Bảng 4: Xét nghiệm máu của bệnh nhân lao màng 

não 

Xét nghiệm HIV dương (n = 49) (n = 73) HIV âm p

Trang 5

Xét nghiệm HIV dương (n = 49) (n = 73) HIV âm p

+Bilirubin toàn phần

+Tế bào lympho T CD4

Bảng 5: Hình ảnh học tổn thương phổi và não của 

bệnh nhân lao màng não 

Đặc điểm tổn thương HIV dương (n = 49) (n = 73) HIV âm

Dạng

tổn

thương

phổi

Nốt lan tỏa hai phổi 9 20

Thâm nhiễm phổi phải 3 7

Dạng

tổn

thương

não

BÀN LUẬN 

Lao màng não là bệnh truyền nhiễm thường 

gặp, gây tàn phế, tử vong đặc biệt nghiêm trọng 

ở các  nước  có  thu  nhập  thấp(4).  Theo Leeds  I.L

và  cộng  sự,  trong  số  những  bệnh  nhân  HIV 

dương bị lao ngoài phổi, bệnh nhân có số lượng 

tế  bào lympho  T CD4  nhỏ  hơn  100  tế  bào/mm

thì  dễ  bị  lao  màng  não/não‐màng  não  và/hoặc 

lao lan tỏa(5). Trong nghiên cứu của chúng tôi, số 

lượng  tế  bào lympho  T CD4  trong  nhóm  bệnh 

nhân HIV dương là 100 ± 103 tế bào/mm3 với số  trung vị là 70 tế bào/mm3.  Hầu  hết  các  báo  cáo  lao màng não đều dựa vào đồng thuận quốc tế 

về  chẩn  đoán  lao  màng  não  và  đa  số  áp  đảo  bệnh nhân được chẩn đoán ʺcó thể xảy raʺ hoặc  ʺcó thểʺ bị lao màng não. Tỷ lệ thấp trong trường  hợp chẩn đoán chắc chắn lao màng não cho thấy 

có nhiều khó khăn trong chẩn đoán bệnh lý này 

và cần thiết phải xác định khả năng bệnh nhân 

có  khả  năng  cao  bị  lao  màng  não(4).  Vì  vậy,  chúng tôi nhận thấy việc xác định các đặc điểm  lâm  sàng,  xét  nghiệm  và  kết  quả  hình  ảnh  của  bệnh nhân Việt Nam có chẩn đoán xác định lao  màng  não  (cấy  dịch  não  tủy  phát  hiện 

Mycobacterium tuberculosis),  để  từ  đó  nhận  định 

chính xác hơn bệnh nhân ʺcó thể xảy raʺ hoặc ʺcó  thểʺ bị lao màng não là việc làm rất quan trọng  trong cải thiện chẩn đoán chính xác bệnh lý này.  Trong  nghiên  cứu  lao  màng  não  của  Gunawardhana  S.A.C.U.  và  cộng  sự,  tuổi  trung bình của bệnh nhân lao màng não là 44 ±  13,5 tuổi (từ 12 tuổi  đến  82  tuổi,  tuổi  trung  vị 

là 36 tuổi). Tỷ lệ nam/nữ gần đạt 1,7/1(4). Chỉ có  12%  bệnh  nhân  đã  bị  bệnh  phổi  hoặc  màng  phổi  trước  đó.  Tỷ  lệ  bệnh  nhân  nhiễm  HIV  chiếm  1,1%  mẫu  nghiên  cứu,  do  tỷ  lệ  nhiễm  HIV ở Sri Lanka tương đối thấp(4). Nghiên cứu  của Marais  S.  và  cộng  sự  thực  hiện  trên  mẫu  nghiên  cứu  có  tỷ  lệ  nhiễm  HIV  cao  (91,5%)  được  chẩn  đoán  lao  màng  não  dựa  trên  kết 

quả  cấy  dịch  não  tủy  tìm  thấy  Mycobacterium 

tuberculosis, cho thấy tuổi trung bình của bệnh 

nhân là 35 tuổi, có 34,9% bệnh nhân có tiền căn  điều trị lao, 20,9% bệnh nhân đang điều trị lao  tại  thời  điểm  nhập  viện.  Các  triệu  chứng  lâm  sàng  thường  gặp  là  đau  đầu  (61,9%),  lú  lẫn  (54,8%),  cổ  gượng  (28,6%),  buồn  nôn,  nôn  (35,7%),  co  giật  (16,7%)(7).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  tuổi  trung  bình  của  bệnh  nhân  lao màng não là 37 ± 15 tuổi (từ 2 tuổi đến 94  tuổi,  tuổi  trung  vị  35  tuổi),  tỷ  lệ  nam/nữ  khoảng  2,1/1,  tỷ  lệ  bệnh  nhân  nhiễm  HIV  chiếm  40,2%.  Tỷ  lệ  HIV  dương  ở  bệnh  nhân  nam cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so  với  bệnh  nhân  nữ  (50,6%  so  với  17,9%;  p  = 

Trang 6

0,001).  Tuổi  trung  bình  của  bệnh  nhân  HIV 

dương  thấp  hơn  có  ý  nghĩa  thống  kê  so  với 

bệnh nhân HIV âm (33 ± 8 tuổi so với 39 ± 18 

tuổi; p = 0,006). Điều này có thể do Việt nam là 

vùng  dịch  tễ  mới  của  đại  dịch  HIV  với  tỷ  lệ 

người  nhiễm  HIV  ước  tính  khoảng  0,5%  dân 

số,  tập  trung  chủ  yếu  ở  nam  giới  dưới  35 

tuổi(3). Tỷ lệ bệnh nhân viêm màng não có tiền 

căn điều trị lao trước đó trong nghiên cứu của 

chúng  tôi  cũng  gần  giống  với  báo  cáo  của 

Gunawardhana S.A.C.U. và cộng sự (13,9% so 

với 12%)(4), nhưng thấp hơn so với báo cáo của 

Marais  S.  và  cộng  sự  (13,9%  so  với  34,9%)(7). 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  ghi  nhận  có  32,7% 

bệnh  nhân  HIV  dương  có  lao  phổi  đi  kèm  so 

với  30,1%  bệnh  nhân  HIV  âm  có  lao  phổi  đi 

kèm (p = 0,8). Tuy nhiên, đây là những trường 

hợp  lao  phổi  có  chẩn  đoán  xác  dịnh  bằng  cấy 

đàm  tìm  thấy  Mycobacterium  tuberculosis.  Về 

mặt hình ảnh học X quang lồng ngực có 23,8% 

tổn thương nốt nhỏ, tổn thương kê lan tỏa hai 

phổi  (18,4%  ở  bệnh  nhân  HIV  dương  so  với 

27,4%  bệnh  nhân  HIV  âm),  41%  tổn  thương 

thâm nhiễm nghi lao (44,9% ở bệnh nhân HIV 

dương  so  với  38,4%  bệnh  nhân  HIV  âm). 

Không có khác biệt có ý nghĩa thống kê về loại 

tổn  thương  nghi  lao  phổi  giữa  nhóm  bệnh 

nhân  HIV  dương  và  HIV  âm.  Kết  quả  nghiên 

cứu  của  Luma  H.N.  và  cộng  sự  trên  những 

bệnh nhân lao màng não HIV dương, ghi nhận 

có  44,4%  bệnh  nhân  lao  màng  não  có  tổn 

thương phổi nghi lao(6). Trong nghiên cứu của 

Gunawardhana  S.A.C.U.  và  cộng  sự,  triệu 

chứng  sốt  gặp  ở  71%  bệnh  nhân,  triệu  chứng 

toàn thân gặp ở 68% bệnh nhân, đau đầu gặp 

ở 59% bệnh nhân, suy giảm ý thức gặp ở 40% 

bệnh nhân, hôn mê gặp ở 40% bệnh nhân, liệt 

dây thần kinh sọ não gặp ở 26% bệnh nhân và 

cổ  gượng  gặp  ở  18%  bệnh  nhân(4).  Trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  các  triệu  chứng  và 

dấu  hiệu  lâm  sàng  thường  gặp  theo  thứ  tự 

giảm  dần  là  sốt  (80,3%),  đau  đầu  (75,4%),  cổ 

gượng (65,5%), buồn nôn, nôn (51,6%), rối loạn 

tri  giác  (46,7%),  Kernig  dương  tính  (45,1%), 

dấu  kích  thích  màng  não  (26,2%),  co  giật 

(11,5%), liệt thần kinh sọ (5,7%), liệt nữa người  (5,7%).  Tỷ  lệ  bệnh  nhân  HIV  dương  có  triệu  chứng sốt, sụt cân cao hơn một cách có ý nghĩa  thống kê so với bệnh nhân HIV âm (p < 0,04).  Các triệu chứng khác có tỷ lệ xuất hiện ở bệnh  nhân  HIV  âm  và  HIV  dương  không  khác  biệt 

có ý nghĩa thống kê. Bệnh nhân HIV âm bị lao  màng não có các triệu chứng và dấu hiệu lâm  sàng  thường  gặp  theo  thứ  tự  giảm  dần  là  sốt  (74%),  đau  đầu  (71,2%),  cổ  gượng  (64,4%),  rối  loạn  tri  giác  (50,7%),  buồn  nôn,  nôn  (49,3%),  Kernig  dương  tính  (43,8%),  dấu  kích  thích  màng não (27,4%), co giật (11%), liệt nữa người  (6,8%), liệt thần kinh sọ (5,5%). Bệnh nhân HIV  dương  bị  lao  màng  não  có  các  triệu  chứng  và  dấu  hiệu  lâm  sàng  thường  gặp  theo  thứ  tự  giảm  dần  là  sốt  (89,8%),  đau  đầu  (81,6%),  cổ  gượng (67,3%), buồn nôn, nôn (55,1%), Kernig  dương  tính  (46,9%),  rối  loạn  tri  giác  (46,7%),  dấu  kích  thích  màng  não  (24,5%),  co  giật  (12,2%), liệt thần kinh sọ (6,1%), liệt nữa người  (4,1%). Triệu chứng sốt thường gặp nhiều hơn 

ở bệnh nhân lao màng não HIV dương hơn là  bệnh  nhân  lao  màng  não  HIV  âm  được  ghi  nhận  trong  báo  cáo  nghiên  cứu  của 

Bandyopadhyay  S.K. và cộng sự(1). Bệnh nhân  HIV  âm  thường  bị  sụt  cân  có  thể  do  triệu  chứng  tiến  triển  của  bệnh  AIDS(2).  Trong 

nghiên cứu của Luma H.N. và cộng sự ở bệnh 

nhân HIV dương bị lao màng não, 74,1% bệnh  nhân  bị  đau  đầu,  59,3%  bệnh  nhân  bị  sốt,  57,4%  bệnh  nhân  có  cổ  gượng,  40,7%  bệnh  nhân  có  dấu  hiệu  thần  kinh  khu  trú(6).  Các  triệu  chứng  hô  hấp  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  thể  do  tổn  thương  lao  phổi  đi  kèm,  do  tổn  thương  xơ  phổi  do  lao  cũ,  có  thể 

do  viêm  phổi  ở  một  số  bệnh  nhân  nằm  viện  dài  ngày  trong  tình  trạng  có  rối  loạn  tri  giác  trước  khi  nhập  viện  Phạm  Ngọc  Thạch.  Tại  thời  điểm  nhập  viện,  có  12,3%  bệnh  nhân  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  đang  điều  trị  lao  so  với  21%  bệnh  nhân  trong  nghiên  cứu 

của Marais S.(7). 

Trang 7

não  thì  tương  tự  nhau  trong  nhiều  nghiên  cứu 

với glucose giảm vừa phải, protein tăng từ trung 

bình đến tăng cao, bạch cầu tăng nhẹ với tế bào 

lympho chiếm ưu thế. Trên 50% bệnh nhân lao 

màng  não  có  tế  bào  đơn  nhân  chiếm  ưu  thế 

trong  dịch  não  tủy.  Protein  trong  dịch  não  tủy 

tăng trong tất cả bệnh nhân lao màng não. Bằng 

chứng có vi khuẩn lao trong dịch não tủy thì ít 

gặp trong phần lớn các báo cáo nghiên cứu báo 

cáo loạt ca lâm sàng. Điều này có thể do kỹ thuật 

vi sinh được sử dụng, do số lượng dịch não tủy 

được  lấy,  do  phương  pháp  vận  chuyển  mẫu(4). 

Theo  Marx  G.E.  và  cộng  sự,  dịch  não  tủy  của 

bệnh  nhân  lao  màng  não  có  (1)  tế  bào  lympho 

chiếm ưu thế. Tổng số lượng bạch cầu thường từ 

100 đến 500 tế bào/mL. Trong giai đoạn sớm của 

bệnh, số lượng tế bào thấp hơn và có thể có ưu 

thế  bạch  cầu  đa  nhân  trung  tính;  (2)  lượng 

protein  cao,  thường  từ  100  đến  500  mg/dL;  (3) 

lượng glucose thấp, thường dưới 45mg/dL hoặc 

tỷ lệ glucose dịch não tủy/glucose huyết tương < 

0,5(8). Trong nghiên cứu của chúng tôi, dịch não 

tủy  có  số  lượng  bạch  cầu  77  tế  bào/mm3,  121 

bệnh nhân (99,2% trường hợp) có tế bào lympho 

với  tỷ  lệ  tế  bào  95%,  chỉ  có  4  bệnh  nhân  (3,3% 

trường hợp) có tế bào đa nhân trung tính với tỷ 

lệ  tế  bào  20%,  có  59  bệnh  nhân  (48,4%  trường 

hợp)  có  tế  bào  thoái  hóa  với  tỷ  lệ  tế  bào  15%, 

lượng  protein  là  1,4  g/L,  lượng  glucose  là 

1,65mmol/L,  tỷ  lệ  glucose  dịch  não  tủy/glucose 

huyết  tương  là  0,24,  chloride  là  104  mmol/L, 

LDH là 46,5 U/L, ADA là 6,05 U/L. Trong nghiên 

cứu của Gunawardhana S.A.C.U. và cộng sự, xét 

nghiệm dịch não tủy cho thấy 100% bệnh nhân 

có lượng protein > 50g/dL, 57% bệnh nhân có tỷ 

lệ glucose dịch não tủy/glucose máu < 50%, 74% 

bệnh  nhân  có  tế  bào  lympho  >  50%,  19%  bệnh 

nhân  có  tế  bào  đa  nhân  >  50%(4).  Dịch  não  tủy 

của nhóm bệnh nhân HIV âm trong nghiên cứu  của chúng tôi có lượng protein là 1,3 g/L, lượng  glucose  1,6  mmol/L,  tỷ  lệ  glucose  dịch  não  tủy/glucose  huyết  tương  0,24,  chloride  105  mmol/L,  LDH  50  U/L,  ADA  6,4  U/L,  số  lượng  bạch  cầu  73  tế  bào/mm3,  72  bệnh  nhân  (98,6%  trường hợp) có tế bào lympho với tỷ lệ tế bào 87  97,5%, chỉ có 3 bệnh nhân (4,1% trường hợp) có 

tế bào đa nhân trung tính với tỷ lệ tế bào 20%, có 

34 bệnh nhân (46,6% trường hợp) có tế bào thoái  hóa với tỷ lệ tế bào 20%. Trong nghiên cứu của  Luma  H.N.  và  cộng  sự,  dịch  não  tủy  có  lượng  glucose  <  0,6g/L  chiếm  tỷ  lệ  87%  bệnh  nhân,  protein > 0,5g/L chiếm tỷ lệ 100% bệnh nhân, số  lượng bạch cầu > 5 tế bào/μL chiếm tỷ lệ 94,4%  bệnh nhân, thành phần tế bào đơn nhân chiếm 

ưu thế chiếm tỷ lệ 74% bệnh nhân. Dịch não tủy  của  nhóm  bệnh  nhân  HIV  dương  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  lượng  protein  là  1,6  g/L,  lượng glucose 1,7 mmol/L, tỷ lệ glucose dịch não  tủy/glucose  huyết  tương  0,24,  chloride  103  mmol/L,  LDH  45  U/L,  ADA  6  U/L,  số  lượng  bạch  cầu  85  tế  bào/mm3,  72  bệnh  nhân  (98,6%  trường  hợp)  có  tế  bào  lympho  với  tỷ  lệ  tế  bào  95%,  có  25  bệnh  nhân  (51%  trường  hợp)  có  tế  bào thoái hóa với tỷ lệ tế bào 15%, chỉ có 1 bệnh  nhân (2% trường hợp) có tế bào đa nhân trung  tính  với  tỷ  lệ  tế  bào  20%,  1  bệnh  nhân  (2%  trường hợp) có tế bào đơn nhân với tỷ lệ tế bào  10%. Chúng tôi ghi nhận màu sắc dịch não tủy  gồm có 58,2% trắng trong, 21,3% trắng ngà, 7,4%  vàng  chanh,  5,7%  trắng  hồng,  4,9%  trắng  đục,  2,5%  đỏ.  Không  có  khác  biệt  về  màu  sắc  dịch  não  tủy  giữa  nhóm  bệnh  nhân  HIV  dương  và  bệnh  nhân  HIV  âm  tính  (p  >  0,05).  Những  trường  hợp  bệnh  nhân  có  dịch  não  tủy  trắng  hồng  hay  đỏ,  nhiều  khả  năng  do  xuất  huyết  màng não/não bị viêm nhiễm. 

Trang 8

nghiên  cứu  của  Gunawardhana  S.A.C.U.  và 

cộng  sự  bao  gồm  các  bất  thường  như  não  úng 

thủy (13%), tổn thương thiếu máu cục bộ (17%) 

và  các  bất  thường  khác  (6%)(4).  Các  bất  thường 

về hình ảnh học CT Scan sọ não của nhóm bệnh 

nhân  HIV  âm  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi 

gồm  có  nhồi  máu  não  (6,8%),  dãn  não  thất 

(5,5%),  tổn  thương  chất  trắng  (2,7%),  não  úng 

thủy  (2,7%),  áp  xe  ngoài  màng  cứng  (1,4%),  u 

não (1,4%), dị dạng động‐tĩnh mạch (1,4%), tổn 

thương  viêm  não  (1,4%).  Hình  ảnh  bất  thường 

trên  phim  chụp  CT  Scan  sọ  não  trong  nghiên 

cứu  của  Luma  H.N.  và  cộng  sự  bao  gồm  não 

úng thủy (70,6%), tổn thương màng não (47,1%), 

teo  vỏ  não  (11,8%) (6).  Biểu  hiện  bất  thường  về 

hình  ảnh  học  CT  Scan  sọ  não  của  nhóm  bệnh 

nhân  HIV  dương  trong  nghiên  cứu  của  chúng 

tôi  là  tổn  thương  chất  trắng  (6,1%),  tổn  thương 

viêm não (4,1%). Nghiên cứu của chúng tôi cũng 

ghi  nhận  nhóm  bệnh  nhân  HIV  dương  bị  lao 

màng não có tình trạng thiếu máu hồng cầu nhỏ, 

nhược  sắc,  nhược  bào  và  giảm  số  lượng  bạch 

cầu  ở  mức  có  ý  nghĩa  thống  kê  so  với  nhóm 

bệnh  nhân  HIV  âm.  Đây  có  thể  là  triệu  chứng 

tiến triển của người bệnh AIDS(2).  

Tử vong trong thời gian nằm điều trị tại bệnh 

viện  xảy  ra  ở  15,6%  bệnh  nhân,  nam  nhiều  hơn 

nữ (20,5% so với 5,1%; p < 0,04), bệnh nhân HIV 

dương  nhiều  hơn  bệnh  nhân  HIV  âm  (26,5%  so 

với  8,2%;  p  =  0,01).  Thời  gian  trung  bình  từ  lúc 

nhập viện đến khi tử vong của 19 bệnh nhân là 15 

± 18 ngày, trung vị 7 ngày; không có khác biệt có 

ý  nghĩa  thống  kê  giữa  nhóm  bệnh  nhân  HIV 

dương  (18  ±  22  ngày,  trung  vị  6  ngày)  và  nhóm 

bệnh nhân HIV (8 ± 3 ngày, trung vị 8 ngày) (p > 

0,05). Bệnh nhân HIV dương tử vong trong thời 

gian nằm viện có số lượng tế bào lympho T CD4 

thấp hơn so với bệnh nhân HIV dương còn sống 

sau  xuất  viện  (45  tế  bào/mm3  so  với  81  tế  bào/mm3; p > 0,1). Tỷ lệ tử vong xảy ra trong thời  gian nằm viện trong nghiên cứu của Luma H.N. 

và cộng sự là 79,6%, nam giới chiếm 69,8%. Bệnh  nhân  tử  vong  trong  thời  gian  nằm  viện  có  số  lượng tế bào lympho T CD4 thấp hơn có ý nghĩa  thống kê so với bệnh nhân còn sống sau xuất viện  (16 tế bào/mm3 so với 20 tế bào/mm3; p < 0,001)(6). 

Tỷ  lệ  tử  vong  xảy  ra  trong  thời  gian  nằm  viện  trong nghiên cứu của Gunawardhana S.A.C.U. và  cộng sự là 27%(4).  

Để kết luận, chúng tôi nhận thấy các triệu  chứng  toàn  thân  của  chung  cả  bệnh  lao  và  bệnh AIDS (sốt, sụt cân), tình trạng thiếu máu  nhược  sắc,  nhược  bào,  hồng  cầu  nhỏ,  tình  trạng  giảm  bạch  cầu  trong  máu  ngoại  biên  thường  gặp  ở  bệnh  nhân  lao  màng  não  HIV  dương hơn bệnh nhân lao màng não HIV âm.  Các triệu chứng viêm màng não/não‐màng não  thường gặp ở cả bệnh nhân lao màng não HIV  dương  và  HIV  âm.  Chụp  X  quang  lồng  ngực, 

xét  nghiệm  đàm  tìm  AFB  hoặc  Mycobacterium 

tuberculosis  để  phát  hiện  lao  phổi  kết  hợp  lao 

màng não, phân tích sinh hóa dịch não tủy, xét  nghiệm  PCR  lao  dịch  não  tủy,  tìm  AFB,  Mycobacterium  tuberculosis  trong  dịch  não  tủy là rất cần thiết để chẩn đoán lao màng não 

ở bệnh nhân nhiễm hay không nhiễm HIV. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bandyopadhyay  SK, Bandyopadhyay  R, Dutta  A  (2009).  Profile  of  tuberculous  meningitis  with  or  without  HIV  infection  and  the  predicators  of  adverse  outcome.  West  Indian Med J, 58(6): 589‐592. 

2 Bộ Y tế (2009). Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị HIV/AIDS.  Nhà Xuất Bản Y Học, Hà Nội. 

3 Đỗ  Hoài  Thanh, Đinh  Ngọc  Sỹ, Nguyễn  Duy  Linh  et  al, 

(2010). HIV infection among tuberculosis patients in Vietnam:  prevalence and impact on tuberculosis notification rates. Int J  Tuberc Lung Dis. 14(8): 986‐993. 

4 Gunawardhana SACU, Somaratne SC, Fernando MAH et al.  (2013). Tuberculous meningitis in adults: a prospective study 

at  a  tertiary  referral  centre  in  Sri  Lanka.  Ceylon  Medical  Journal, 58: 21‐25. 

Trang 9

5 Leeds  IL, Magee  MJ, Kurbatova  EV  et  al.  (2012).  Site  of 

extrapulmonary tuberculosis is associated with HIV infection. 

Clin Infect Dis, 55 (1): 75‐81. 

6 Luma  HN, Tchaleu  BC, Ngahane  BH  et  al.  (2013). 

Tuberculous meningitis: presentation, diagnosis and outcome 

in hiv‐infected  patients  at  the  douala  general  hospital, 

cameroon: a cross sectional study. AIDS Res Ther, 10(1): 1‐6. 

7 Marais S, Pepper DJ, Schutz C et al. (2011). Presentation and 

outcome  of tuberculous  meningitis in  a  high HIV prevalence 

setting. PLoS One. 6(5), e20077. 

8 Marx GE, Chan ED (2001). TuberculousMeningitis: Diagnosis 

and  Treatment  Overview.  Tuberc  Res  Treat,  Volume  2011, 

Article ID 798764, doi: 10.1155/2011/798764. 

9 Qureshi HU, Merwat SN, Nawaz SA, et al. (2002). Predictors 

of inpatient mortality in 190 adult patients with  tuberculous 

meningitis. Journal of Pakistan Medical Association, 52:  159‐

163. 

10 Thwaites  GAH,  Fisher  MBI,  Hemingway  CCJ,  et  al.  (2009).  British  Infection  Society  guidelines  for  the  diagnosis  and  treatment  of  tuberculosis  of  the  central  nervous  system  in 

adults and children. Journal of Infection, 59: 167‐187. 

11 World  Health  Organization  (2012),  Media  centre  Tuberculosis, Fact sheet No 104, WHO/HTM/TB. 

  Ngày nhận bài báo      15‐06‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  10‐07‐2013  Ngày bài báo được đăng:     25–09‐2013 

 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w