1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm ô nhiễm bụi và tình hình bệnh bụi phổi - silic nghề nghiệp của công nhân một số nhà máy sửa chữa, đóng tàu quốc phòng khu vực phía Nam giai đoạn năm 2005-2010

5 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 337,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành sửa chữa và đóng tàu hiện nay đang phát triển rất nhanh. Quy trình công nghệ của các nhà máy sửa chữa và đóng tàu có rất nhiều tác hại nghề nghiệp như vi khí hậu nóng, tiếng ồn, hơi khí độc và đặc biệt là ô nhiễm bụi. Vì vậy đề tai nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định một số yếu tố dịch tễ bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp và tỷ lệ bệnh BP silic nghề nghiệp tại một số nhà máy sửa chữa và đóng tàu quốc phòng khu vực phía nam.

Trang 1

VÀ TÌNH HÌNH BỆNH BỤI PHỔI ‐ SILIC NGHỀ NGHIỆP  

CỦA CÔNG NHÂN MỘT SỐ NHÀ MÁY SỬA CHỮA, ĐÓNG TÀU   QUỐC PHÒNG KHU VỰC PHÍA NAM GIAI ĐOẠN NĂM 2005 ‐ 2010 

Nguyễn Văn Thuyên*, HoàngViệtPhương* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Ngành sửa chữa và đóng tàu hiện nay đang phát triển rất nhanh. Quy trìnhcông nghệ của các 

nhà máy sửa chữa và đóng tàu có rất nhiều tác hại nghề nghiệp như vi khí hậu nóng, tiếng ồn, hơi khí độc và đặc  biệt là ô nhiễm bụi. 

Mụctiêu: Xác định một số yếu tố dịch tễ bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp và tỷ lệ bệnh BP Silic nghề nghiệp 

tại một số nhà máy sửa chữa và đóng tàu quốc phòng khu vực phía nam. 

Phương pháp nghiêncứu: Phương pháp nghiên cứudịch tễ học mô tả cắt ngang, kết hợp với hồi cứu số liệu, 

phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Đề tài được tiến hành tại 5 nhà máy, xí nghiệp quốc phòng phía Nam trong 

5 năm (2005 ‐ 2010) đó là: Liên Hiệp Xí Nghiệp B, X1 hải quân, Đoàn Y Hải quân, X2 Hải quân và Z3 Hải  quân.  

Kết  quả: Nồng độ bụi toàn phần từ 18 ‐ 21mg/m 3,  vượt TCCP từ 9 –10,5 lần và bụi hô hấp từ 10 ‐ 13  mg/m 3 , vượt TCCP từ 10 ‐ 13 lần. Hàm lượng silic tự do trong bụi hô hấp, trung bình từ 25 ‐ 46%. Tỷ lệ rối  loạn hô hấp chung của công nhân là 22,88%, chủ yếu thể hạn chế 15,47%, thể hỗn hợp 5,01% và thể tắc nghẽn  chiếm 2,4%. Tỷ lệ mắc bệnh bụi phổi ‐ silic nghề nghiệp là 21,35%. Trong đó bệnh bụi phổi ‐ silic đơn thuần  chiếm tỷ lệ 17,43%, bệnh bụi phổi silic phối hợp với lao chiếm 3,92%. Tuổi nghề càng cao thì mắc bệnh càng  nhiều. 

Kếtluận: Môi trường lao động tại các nhà máy xí nghiệp sửa chữa và đóng tàu quốc phòng ở khu vực Phía 

nam bị ô nhiễm bụi ở mức độ cao.Cần có biện pháp cải thiện điều kiện làm việc tại các khu vực có nồng độ bụi  vượt quá tiêu chuẩn cho phép. 

Từ khóa:Bụi phổi ‐ silic nghề nghiệp. 

ABSTRACT 

RESEARCH ON THE CHARACTERISTICS OF DUSTPOLLUTION AND SILICOSIS SITUATION 

AMONG WORKERS OF SELECTED MILITARY SHIP ‐ REPAIRING   AND SHIP ‐ BUILDING FACTORIES IN SOUTHERN REGION (2005 ‐ 2010) 

NguyenVanThuyen, Hoang Viet Phuong 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6 ‐ 2014: 577 ‐ 581 

Background:  Theindustry  of  repairing  and  buildingship  is  currently  growing  very  fast.  The  technical 

process  of  these  factories  causes  much  occupational  harm  such  as  hot  microclimate,noise,  toxic  gas  and  in  particular dust pollution. 

Objectives:  Identify  some  epidemiological  factors  of  silicosis  and  the  incidence  of  silicosis  at  some  ship  ‐ 

repairing and ship ‐ building factories in Southern region. 

Trang 2

subjects).  The  study  was  conducted  at  5  factories,  namely  United  Enterprise  B,  X1  Navy,  Naval  Medical  Association, X2 and Z3 Navy.  

Result:Total dust concentrations were from18 ‐ 21mg/m 3 , exceeding acceptable standards 9 ‐ 10.5 times and  reparable dust from 10 ‐ 13mg/m 3 , exceeding acceptable standards 10 ‐ 13 times. Free silica conten to respitory  dust was from 25 ‐ 46%. Percentage of respiratory disorders of workers was 22.88%, in which restriction was  15.47%,  obstruction  was  2.4%  and  the  mixed  syndrome  was  5.01%.  The  prevalence  of  silicosis  was  21.35%  among which single silicosis accounted for 17.43% and silicosis combined with tuberculosis was 3.92%. The rate 

of silicosis was increasing in parallel with years of exposure to dust. 

Conclusion: Working environment at some ship ‐ repairing and ship ‐ building factories in Southern region 

was  highly  polluted  with  dust.  Measures  to  improve  working  conditions  in  the  area  of  dust  concentrations  exceeding permitted standards need to be accounted. 

Keyword: silicosis 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ngành sửa chữa và đóng tàu quân đội trong 

những năm gần đây phát triển mạnh cả về quy 

mô và năng suất lao động, đóng góp quan trọng 

vào  việc  giữ  gìn,  bảo  vệ  biển  đảo  và  phát  triển 

kinh tế của nước ta. 

Trong quá trình làm việc ở các nhà máy sửa 

chữa và đóng tàu, người lao động phải tiếp xúc 

với  nhiều  yếu  tố  độc  hại  trong  môi  trường  lao 

động  như  khí  hậu  nóng  ẩm  cao,  tiếng  ồn  lớn, 

nồng  độ  bụi  vượt  tiêu  chuẩn  cho  phép   Điều 

kiện  lao  động  ô  nhiễm  bụi  không  những  ảnh 

hưởng trực tiếp tới công nhân ở các phân xưởng 

đóng tàu mà còn ảnh hưởng tới người lao động 

ở các khu vực xung quanh. Chúng tôi thực hiện 

đề tài nghiên cứu này với 2 mục tiêu: 

Đánh  giá  tình  hình  ô  nhiễm  bụi  tại  các  nhà 

máy  sửa  chữa,  đóng  tàu  quân  đội  ở  khu  vực 

phía Nam. 

Xác  định  tỉ  lệ  mắc  bệnh  bụi  phổi  silic  nghề 

nghiệp tại các nhà máy trên và kiến nghị một số 

giải pháp khắc phục. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Xác định một số yếu tố dịch tễ bệnh bụi phổi 

silic  nghề  nghiệp  và  tỷ  lệ  bệnh  BP  Silic  nghề 

nghiệp tại một số nhà máy sửa chữa và đóng tàu 

quốc phòng khu vực Phía Nam. 

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Nghiên  cứu  được  tiến  hành  tại:  Liên  hiệp 

xí nghiệp B  (LHXN B),  X1 Hải  quân (X1 HQ),  Đoàn Y Hải quân, X2 Hải quân (X2 HQ) và Z3  Hải quân (Z3 HQ). Thời gian nghiên cứu: 2005  – 2010. 

Đối  tượng  là  sức  khỏe  công  nhân  làm  việc  trực tiếp có tiếp xúc với bụi và một số yếu tố môi  trường lao động ở 5 nhà máy nói trên.  

Phương pháp nghiên cứu 

Dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp với hồi  cứu. 

Các chỉ tiêu nghiên cứu 

Các  yếu  tố  tác  hại  nghề  nghiệp  trong  môi  trường lao động 

Vi  khí  hậu:  nhiệt  độ  không  khí,  độ  ẩm  và  vận tốc chuyển động của không khí, chỉ số tổng  hợp  vi  khí  hậu  (Wet  Bulb  Globe  Temperature  ‐  WBGT). Xác định nồng độ bụi: bụi toàn phần và  bụi hô hấp. Phân tích hàm lượng SiO2 trong bụi. 

Kỹ thuật đo và đánh giá các yếu tố môi trường  lao  động  theo  kỹ  thuật  thường  quy  của  Viện  YHLĐ và VSMT Bộ Y Tế.  

Trang 3

Đánh  giá  tình  hình  mắc  bệnh  bụi  phổi  silíc 

nghề nghiệp 

Khám sức khỏe tổng quát, đo chức năng hô 

hấp, chụp Xquang phổi và các xét nghiệm khác: 

soi cấy đờm tìm BK, xét nghiệm máu… 

Đo  chức  năng  hô  hấp  bằng  máy  Spiro  ‐ 

Analyzer  ST  ‐  95  của  Nhật.  Kỹ  thuật  đo  được 

thực  hiện  theo  yêu  cầu  đề  xuất  của  hội  lồng 

ngực Mỹ (AST: American Thoracic Society). Kết 

quả  đánh  giá  phân  loại  rối  loạn  chức  năng  hô 

hấp theo tiêu chuẩn của viện Y học lao động và 

Vệ sinh môi trường ‐ Bộ Y tế.  

Chụp  phim  Xquang  ngực  theo  đúng  quy  định  của  ILO  để  xác  định  bệnh  bụi  phổi  silic  ở  công nhân có tuổi nghề trên 36 tháng. Phim phổi  được  đọc  tại  hội  đồng  giám  định  y  khoa  bệnh  nghề nghiệp của Bộ Quốc Phòng. 

Điều  tra  phỏng  vấn  công  nhân  về  hiểu  biết  tác  hại  của  bụi,  tình  hình  trang  bị  và  sử  dụng  thiết bị bảo hộ lao động. 

Xử lý số liệu 

Bằng  phương  pháp  thống  kê  y  học  và  sử  dụng các test kiểm định. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Kết quả đo môi trường lao động tại các đơn vị nghiên cứu 

TT Đơn vịnghiên cứu n Nhiệt độ (

0 C)

± SD; Max

Độ ẩm (%)

± SD

Vận tốc gió (m/s) ± SD

Chỉ sốWBGT( 0 C)

± SD

Nhiệt  độ  không  khí  trong  môi  trường  lao 

động ở các đơn vị nghiên cứu trung bình từ 31,9 

± 1,20C tới 33,5 ± 1,20C, giá trị cao nhất đạt 35,50C 

vượt  tiêu  chuẩn  cho  phép  3,50C.  Hầu  hết  các 

mẫu  đo  đều  vượt  tiêu  chuẩn  cho  phép.  Độ  ẩm 

tương đối của không khí và tốc độ chuyển động 

không  khí  đều  nằm  trong  giới  hạn  cho  phép  ở 

tất cả các mẫu đo. Kết quả đánh giá tổng hợp các 

yếu  tố  vi  khí  hậu  theo  chỉ  số  WBGT,  tất  cả  các  mẫu đo đều vượt tiêu chuẩn cho phép. Kết quả  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  phù  hợp  với  nghiên  cứu của Lại Quốc Tuấn, Nguyễn Phúc Thái, Lê  Kiên,  2012(5)  khi  khảo  sát  vi  khí  hậu  ở  một  số  nhà  máy  đóng  tàu  quân  đội  giai  đoạn  2009  – 

2011. 

Bảng 2:Kết quả đo bụi trong môi trường lao động tại các đơn vị nghiên cứu 

TT Đơn vị nghiên cứu n Nồng độ bụi theo ca lao động (mg/m

3 ) Tỷ lệ SiO 2 (%) Bụi toàn phần Bụi hô hấp

25 - 46

Nồng độ bụi toàn phần vượt tiêu chuẩn cho 

phép từ 9 ‐ 10,5 lần, nồng độ bụi hô hấp (đường 

nguy  hiểm  làm  phát  sinh  bệnh  bụi  phổi  silic  nghề nghiệp. Nồng độ bụi trong môi trường lao 

Trang 4

trường  lao  động  tại  các  xí  nghiệp  cơ  khí  quốc 

phòng  nhưng  cao  hơn  kết  quả  nghiên  cứu  của 

Đỗ  Hàm  (nồng  độ  bụi  toàn  phần  là  12  ‐  14 

mg/m³, nồng độ bụi hô hấp là 6,1 ‐ 6,7 mg/m³)(2). 

Hàm lượng SiO2 trong môi trường lao động 

ở các đơn vị nghiên cứu đều cao (25 ‐ 46%), nồng 

độ  bụi  toàn  phần  và  nồng  độ  bụi  hô  hấp  đều 

vượt  tiêu  chuẩn  cho  phép.  Đó  là  các  yếu  tố  ô 

nhiễm, nguy hiểm, ảnh hưởng tới sức khỏe công 

nhân, gây ra các bệnh về đường hô hấp, trong đó 

có bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp. 

Kết  quả  khám  phát  hiện  bệnh  bụi  phổi 

silic nghề nghiệp 

Kết quả khám lâm sàng cơ quan hô hấp 

Kết quả bảng 3 cho thấy các triệu chứng ho 

và  khạc  đờm  xuất  hiện  với  tần  suất  khá  cao 

(37,5%  và  25,6%).  Tỷ  lệ những người mắc  bệnh 

cao  huyết  áp  và  biến  đổi  điện  tim  lần  lượt  là 

20,4% và 19,5%. Các triệu chứng khác ít gặp hơn. 

Bảng 3: Các triệu chứng lâm sàng của cơ quan hô 

hấp (n=459) 

Triệuchứngcơnăng Tỷlệ (%) Triệuchứngthựcthể Tỷlệ (%)

Đau ngực 18,9 Rì rào phế nang giảm 12,5

Ho thường xuyên 25,6 Biến đổi điện tim 19,5 Các  dấu  hiệu  lâm  sàng  như  khó  thở  khi  gắng sức (22,4%). Đó là triệu chứng cơ bản và  tương đối đặc hiệu của bệnh, có thể do xơ hóa  phổi hoặc khí phế thũng. Ở bệnh nhân bị bệnh  BPSilic,  khó  thở  có  thể  do  các  nguyên  nhân  khác như hen, viêm phế quản mãn tính. Triệu  chứng ho và khạc đờm gặp ở 25,6 % và 37,5%. 

Đây thường là triệu chứng của bệnh việm phế  quản  mãn  tính  và  viêm  mũi  họng  mãn  tính. 

Các  mặt  bệnh  này  cũng  thường  phối  hợp  với  bệnh BP Silic(1,7). 

Bảng 4: Kết quả đo chức năng hô hấp ở các đối tượng nghiên cứu 

TT Đơnvịnghiêncứu n H/chạnchếH/ctắcnghẽnH/chỗnhợpTínhchung Tỷlệ(%)

Kết quả bảng 4 cho thấy tỷ lệ rối loạn chức 

năng  hô  hấp  ở  những  đối  tượng  được  khám 

sức  khỏe  trong  các  đơn  vị  nghiên  cứu  từ 

13,16%  đến  39,58%.  Tỷ  lệ  rối  loạn  chức  năng 

hô hấp cao nhất ở đoàn Hải đoàn Y ‐ Hải quân 

(39,58%). Tính chung ở cả 5 đơn vị nghiên cứu, 

tỷ  lệ  rối  loạn  hô  hấp  là  22,88%  trên  tổng  số 

người tham gia khám bệnh.  

Bảng 5: Tỷ lệ rối loạn chức năng hô hấp theo tuổi 

nghề 

TT Tuổi nghề(năm) n Số ngườiRLHH Tỷ lệ (%)

Kết quả bảng 5, tỷ lệ rối loạn chức năng hô  hấp  ở  các  nhóm  tuổi  nghề  từ  13,33%  đến  34,0%.  Tỷ  lệ  rối  loạn  hô  hấp  có  tăng  dần  theo  tuổi nghề. Tỷ lệ rối loạn hô hấp ở 2 nhóm tuổi 

16  ‐  20  năm  tuổi  nghề  và  nhóm  trên  20  năm  tăng cao so với các nhóm tuổi dưới 10 năm và  nhóm 11 ‐ 15 tuổi nghề với khác biệt có ý nghĩa  thống  kê  p<0,01.  Kết  quả  này  cũng  phù  hợp  với nhận xét của Tạ Tuyết Bình và cs (2004)(6) 

ở  công  nhân  khai  thác  và  chế  biến  đá  Bình  Định. Tỷ lệ rối loạn chức năng hô hấp tăng rõ  rệt theo tuổi đời và tuổi nghề. 

Kết  quả  bảng  6  cho  thấy,  tuổi  nghề  càng  cao thỉ tỷ lệ mắc bệnh BPSi càng nhiều. Nhóm  tuổi nghề ≤ 10 năm có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất  (12%),  tỷ  lệ  ở  nhóm  tuổi  nghề  16  ‐  20  năm  là 

Trang 5

25%  và  cao  nhất  là  nhóm  tuổi  nghề  trên  20 

năm  (35%).  Tỷ  lệ  mắc  bệnh  ở  các  nhóm  tuổi 

nghề  khác  nhau  rất  rõ  rệt,  sự  khác  biệt  với 

p<0,01. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về tỷ 

lệ  bệnh  bụi  phổi  silic  nghề  nghiệp  tính  chung 

trong  nhóm  nghiên  cứu  là  21,35%,  tương  tự 

như  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Đắc  Vinh 

(2001)(3)  ở  công  nhân  khai  thác  đá  Bình  Định 

(24,3%),  nhưng  cao  hơn  rất  nhiều  so  với  kết 

quả  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Liễu,  Phạm  Văn 

Tố  (2004)  ở  công  nhân  khai  thác  than  công  ty 

Đông Bắc, Quảng Ninh với tỷ lệ bệnh bụi phổi 

silic (0,8%)(5). 

Bảng 6:Tỷ lệ số công nhân mắc bệnh bụi phổi silic 

theo tuổi nghề 

TT Tuổinghề (năm) n SốmắcBPSi Tỷlệ (%) Chỉsốthốngkê

P<0,01

3 >20 100 35 35,00

Tổng 459 98 21,35

Bảng 7:Tỷ lệ lao phổi kết hợp với bệnh bụi phổi ‐ silic 

(n=459) 

Bệnh Số mắc (n) Tỷ lệ (%)

Bệnh BPSi NN phối hợp với lao phổi 18 3,92

Kết quả bảng 7 cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh bụi 

phổi  silic  so  với  tổng  số  các  trường  hợp  được 

khám bệnh là 21,35%, tỷ lệ mắc lao phổi là 5,23% 

và  3,92%  trường  hợp  mắc  bệnh  bụi  phổi  silic 

phối hợp với lao phổi. Sự liên quan chặt chẽ giữa 

giữa  bệnh  bụi  phổi  silic  và  lao  phổi:  bệnh  bụi 

phổi silic dễ mắc lao phổi hơn vì gây hạn chế hô 

hấp làm vi khuẩn lao dễ phát triển, làm bệnh lao 

phổi nặng lên vì bụi silic kích thích sự phát triển 

của các tổn thương lao. Hơn nữa, bệnh lao lại tạo 

thuận  lợi  cho  phát  triển  của  bệnh  bụi  phổi  silic 

do tăng tổ chức xơ trong nhu mô phổi.  

KẾT LUẬN  

Đa  số  các  yếu  tố  tác  hại  nghề  nghiệp  trong 

vượt  tiêu  chuẩn  cho  phép,  đặc  biệt  là  nồng  độ  bụi toàn phần và bụi hô hấp đều vượt hơn 10 lần  tiêu chuẩn vệ sinh cho phép và hàm lượng SiO2  trong bụi hô hấp ở mức cao (25 ‐ 46%). 

Công  nhân  lao  động  trực  tiếp  tiếp  xúc  với  bụi có tỉ lệ rối loạn chức năng hô hấp là 22,9%, tỉ 

lệ này tăng theo tuổi nghề. Tỉ lệ mắc bệnh BPSilic  nghề nghiệp là 21,4%, tỉ lệ mắc bệnh BPSilic kết  hợp  với  lao  phổi  là  3,9%,  tuổi  nghề  càng  nhiều  thì tỉ lệ mắc bệnh càng lớn. 

Từ  kết  quả  nghiên  cứu  trên,  chúng  tôi  kiến  nghị: cần cải thiện điều kiện làm việc tại các khu  vực  có  nồng  độ  bụi  vượt  quá  tiêu  chuẩn  cho  phép, có biện pháp làm giảm thiểu ô nhiễm bụi,  trang bị cho người lao động những hiểu biết về  tác  hại  của  bụi  tới  sức  khỏe  và  các  biện  pháp  phòng ngừa.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Arcangeli G, Cupelli V. et al (2004). Respiratory ricks in tunnel  construction workers. Int J Immunopothol Pharmarcol. 17 (2). 

91 ‐ 96. 

2 Đỗ  Hàm,  Nguyễn  Ngọc  Anh  (2004).  Bệnh bụi phổi silic trong  công nhân một số ngành nghề ở Thái Nguyên. Báo cáo khoa học 

HNKHYHLĐ toàn quốc lần thứ V. Hà Nội. Tr. 393 – 398. 

3 Lại Quốc Tuấn, Nguyễn Phúc Thái, Lê Kiên (2012). Thực trạng 

ô  nhiễm  tiếng  ồn  và  bệnh  điếc  nghề  nghiệp  do  tiếng  ồn  của  công  nhân ở một số nhà máy đóng tàu quân đội giai đoạn 2009 – 2011. 

Báo  cáo  khoa  học  HNKHYHLĐ  toàn  quốc  lần  thứ  VIII.  Hà  Nội. Tr. 238 – 242. 

4 Nguyễn  Đắc  Vinh  (2001).  Nghiên cứu đặc điểm môi trường lao  động ảnh hưởng tới sự phát sinh bệnh bụi phổi silic nghề nghiệp của  công nhân khai thác đá tại Bình Định. Luận án tiến sĩ y dược. Đại 

học Y HàNội. Tr. 46 ‐ 78. 

5 Nguyễn  Liễu,  Phạm  Văn  Tố  (2004).  Đánh  giá  môi  trường  lao  động và  tình hình bệnh phổi – phế quản  của  công  nhân khai  thác  than  tại  công  ty  Đông  Bắc  –  Quảng  Ninh.  Báo  cáo  khoa  học 

HNKHYHLĐ toàn quốc lần thứ V. Hà Nội. Tr.483 ‐ 488. 

6 Tạ Tuyết Bình, Lê Trung, Phạm Ngọc Quỳ (2004). Nghiên cứu 

về rối loạn thông khí phổi và phân tích khí máu ở công nhân tiếp xúc  nghề nghiệp với bụi silic. Báo cáo khoa học HNKHYHLĐ toàn 

quốc lần thứ V. Hà nội. Tr. 160 ‐ 163. 

7 Wang  ML,  Wu  ZE,  Du  QG,  et  al(2005).  A prospective cohort  study  among  new  Chinese  coal  miners:  the  early  pattern  of  lung  function change. Occup Environ Med. 62(11). 800 ‐ 805. 

 

Ngày nhận bài báo:       20/5/2014 

Ngày đăng: 22/01/2020, 18:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm