1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự khác nhau về đặc điểm lâm sàng, tiên lượng sống ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan do vi rút viêm gan B hoặc vi rút viêm gan C được điều trị bằng phương pháp thuyên tắc hóa dầu qua

5 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 387,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ung thư biểu mô tế bào gan là một trong những ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Vài nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau giữa bệnh nhân HCC do vi rút viêm gan B và ung thư biểu mô tế bào gan do vi rút viêm gan C. Mục tiêu nghiên cứu là so sánh sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng, tiên lượng sống ở bệnh nhân HBV‐HCC so với bệnh nhân HCV‐HCC được điều trị bằng phương pháp hóa dầu qua động mạch.

Trang 1

Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN DO VI RÚT VIÊM GAN B  HOẶC VI RÚT VIÊM GAN C ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP 

THUYÊN TẮC HÓA DẦU QUA ĐỘNG MẠCH 

Lê Thành Lý*, Trần Thị Diễm Trang* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) là một trong những ung thư phổ biến nhất trên thế giới. Vài 

nghiên cứu cho thấy có sự khác nhau giữa bệnh nhân HCC do vi rút viêm gan B (HBV‐HCC) và HCC do vi rút  viêm gan C (HCV‐HCC). Mục tiêu của chúng tôi là so sánh sự khác biệt về đặc điểm lâm sàng, tiên lượng sống 

ở bệnh nhân HBV‐HCC so với bệnh nhân HCV‐HCC được điều trị bằng phương pháp hóa dầu qua động mạch. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu được thực hiện trên 67 bệnh nhân HCC tại Bệnh viện Chợ 

Rẫy trong thời gian từ 10/1999 đến 10/2005. Thời gian theo dõi là 3 năm.  

Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân HCV‐HCC cao hơn 8 tuổi so với bệnh nhân HBV‐HCC và tỉ 

lệ  nam/  nữ  ở  nhóm  HBV‐HCC  cao  hơn  nhóm  HCV‐HCC.  Bệnh  nhân  HCV‐HCC  có  triệu  chứng  đau  hạ  sườn phải nhiều hơn bệnh nhân HBV‐HCC và thời gian prothrombin (PT) ở bệnh nhân HBV‐HCC kéo dài  hơn  ở  bệnh  nhân  HCV‐HCC.  Thời  gian  sống  trung  bình  ở  nhóm  HBV‐HCC  là  15,9  ±  11,4  tháng,  nhóm  HCV‐HCC là 19,3 ± 14 tháng và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian sống ở 2 nhóm bệnh  nhân HBV‐HCC và HCV – HCC. 

Kết  luận: Bệnh nhân HBV‐HCC có tuổi trung bình thấp hơn, tỉ lệ nam/ nữ cao hơn, triệu chứng đau hạ 

sườn phải ít hơn và thời gian prothrombin kéo dài hơn so với bệnh nhân HCV‐HCC. Không có sự khác biệt có ý  nghĩa thống kê về thời gian sống ở 2 nhóm bệnh nhân HBV‐HCC và HCV‐HCC được điều trị bằng phương  pháp hóa dầu qua động mạch. 

Từ khóa: Thuyên tắc hóa dầu qua động mạch, ung thư biểu mô tế bào gan. 

ABSTRACT 

YIELDING DIFFERENCE CLINICAL FEATURES AND SURVIVAL OF HEPATITIS B ‐ AND C‐ RELATED HEPATOCELLULAR CARCINOMAS TREATED BY TRANSARTERIAL OILY 

CHEMOEMBOLIZATION 

Le Thanh Ly, Tran Thi Diem Trang * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 23 ‐ 27 

Background:  Hepatocellular  carcinoma  (HCC)  is  one  of  the  most  common  malignancies  in  the  world. 

Several studies have examined the differences among HBV ‐ related HCC (HBV‐HCC) and HCV‐related HCC  (HCV  ‐  HCC).  The  purpose  of  this  study  was  to  compare  the  clinical  features  and  survival  in  patients  with  hepatitis  B  virus‐related  hepatocellular  carcinoma  (HBV‐HCC)  and  hepatitis  C  virus‐related  hepatocellular  carcinoma (HCV‐HCC). 

Methods:  A  perspective  study  was  carried  out  on  67  patients  with  HCC  in  Cho  Ray  Hospital  between 

October 1999 and October, 2005. The follow‐up time was 3 years  

Results: The mean age of HCV‐HCC patients was 8 years older than that of the HBV‐HCC patients. The 

* Khoa Nội Tiêu Hóa, Bệnh viện Chợ Rẫy, Tp Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: TS. Lê Thành Lý  ĐT: 0913857594   Email: lybvcr@gmail.com 

Trang 2

male/female ratio in HBV ‐ HCC was higher than that found in the HCV ‐ HCC group. The HCV‐HCC patients  who had pain in right costal margin was higher than the HBV‐HCC. The prolongation of prothrombin time was  higher in the HBV‐HCC compared with those in the HCV‐HCC patients. The median survival was 15.9 ± 11.4  months in HBV‐HCC, while it was 19.3 ± 14 months in HCV ‐ HCC. There were not statistically significant  difference in the survival between two groups. 

Conclusion:  Compared  with  HCV‐HCC  patients,  HBV‐HCC  patients  were  younger,  had  a  higher 

male/female  ratio,  lower  pain  in  right  costal  margin,  higher  prolongation  of  prothrombin  time.  There  are  not  statistically significant difference in the survival between two groups. 

Keywords: Transarterial oily chemoembolization, Hepatocellular carcinoma. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ung  thư  biểu  mô  tế  bào  gan  (HCC)  là  một 

trong những ung thư phổ biến trên thế giới. Đây 

là loại ung thư thường gặp đứng hàng thứ năm 

và cũng là loại ung thư gây tử vong đứng hàng 

thứ tư trên thế giới(1,11). Tỉ lệ mắc HCC hàng năm 

trên toàn thế giới  vào  khoảng  1  triệu  người.  Số 

chết  hàng  năm  thay  đổi  từ  250.000  đến  1  triệu 

người(2,7,10). 

Tại  Việt  Nam,  theo  thống  kê  của  Bộ  Y  Tế 

năm  2000  về  tình  hình  bệnh  ung  thư  trong  cả 

nước thì ung thư biểu mô tế bào gan đứng hàng 

thứ  ba  ở  nam  giới  và  đứng  hàng  thứ  sáu  ở  nữ 

giới. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ ung 

thư biểu mô tế bào gan đứng hàng đầu trong các 

loại ung thư ở nam giới(5). 

Ung thư biểu mô tế bào gan xảy ra khắp nơi 

trên thế giới song hành với tình trạng viêm gan 

do vi rút chủ yếu là viêm gan vi rút B, viêm gan 

vi  rút  C.  Ở  các  nước  đang  phát  triển  như  Việt 

Nam, tần suất ung thư biểu mô tế bào gan tăng 

liên quan đến tăng tần suất nhiễm viêm gan  vi 

rút  B,  viêm  gan  vi‐rút  C(9).  Một  số  nghiên  cứu 

trên thế giới nhận thấy rằng có sự khác biệt đáng 

kể  về  đặc  điểm  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng  cũng 

như về tiên lượng sống giữa bệnh nhân ung thư 

biểu mô tế bào gan do viêm gan vi rút B (HBV ‐ 

HCC)  và  ung  thư  biểu  mô  tế  bào  gan  do  viêm 

gan virút C (HCV‐HCC)(3,12). 

Thuyên  tắc  hóa  dầu  qua  động  mạch 

(Transcatheter  arterial  chemoembolization  ‐

TOCE) là một trong những phương pháp điều 

trị ung thư biểu mô tế bào gan (hepatocellular 

carcinoma:  HCC)  được  sử  dụng  trên  thế  giới 

từ thập niên 80, bởi vì TOCE có hiệu quả diệt  khối  u  và  an  toàn  trên  bệnh  nhân  HCC.  Tuy  nhiên,  lợi  ích  cùa  TOCE  trong  điều  trị  HCC  còn nhiều bàn cãi. 

Hiện nay, tại Việt Nam, với tần suất ung thư  biểu  mô  tế  bào  do  viêm  gan  virút  B  hoặc  do  viêm  gan  virút  C  ngày  càng  gia  tăng  nhanh  chóng.  Điều  này  cần  có  sự  hiểu  biết  rõ  về  đặc  điểm  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng  cũng  như  tiên  lượng  sống  ở  bệnh  nhân  HBV‐HCC  và  HCV  ‐  HCC. Tuy nhiên, tại Việt Nam, chưa  có  nghiên  cứu nào khảo sát về vấn đề này. Vì vậy, chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu  này  với  mục  đích  so  sánh sự khác nhau giữa bệnh nhân HBV ‐ HCC 

và HCV ‐ HCC được điều trị bằng phương pháp  thuyên  tắc  hóa  động  mạch  qua  catheter  từ  đó  xác lập được tiên lượng sống còn của bệnh nhân. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng 

Tiêu chuẩn chọn 

Bệnh nhân được chẩn đoán HCC tại BV Chợ  Rẫy trong thời gian từ 10/1999 đến 10/2005 đồng 

ý tham gia vào nghiên cứu. 

Tiêu chuẩn loại 

Bệnh nhân < 18 tuổi. 

Bệnh nhân ung thư gan thứ phát. 

Bệnh  nhân  có  tiền  căn  bệnh  tim  phổi  nặng  hay  các  bệnh  nội  khoa  khác  có  thể  ảnh  hưởng  đến tiên lượng tử vong. 

Bệnh nhân có suy thận  do  nguyên  nhân  tại  thận. 

Trang 3

Nghiên cứu tiền cứu, mô tả, cắt ngang. 

Phương pháp thu thập số liệu 

Chúng  tôi  ghi  nhận  hồ  sơ  bệnh  án,  phỏng 

vấn trực tiếp và theo dõi bệnh nhân. Tình trạng 

nhiễm  HBV  và  HCV  được  xác  định  bằng  xét 

nghiệm HbsAg (+) và anti HCV (+). 

HCC được chẩn đoán dựa vào 1 trong 3 tiêu 

chẩn sau: 

Giải phẫu bệnh. 

CT Scan điển hình và tăng AFP> 400 ng/ml. 

Bệnh  nhân  có  tiền  căn  phẫu  thuật  HCC 

trước và bị tái phát. 

Phương  pháp  TOCE  được  thực  hiện  bằng 

cách  đưa  một  ống  thông  chọn  lọc  qua  động 

mạch  đùi  phải,  rồi  vào  động  mạch  gan  phải 

hoặc  động  mạch  gan  trái  hoặc  các  nhánh  của 

động mạch gan. Tùy theo kết quả quan sát trên 

màn hình từ đó ta có thể khảo sát chọn lọc tiếp 

tục vào động mạch nào nuôi khối u. Tiến hành 

bơm hỗn hợp lipiodol và các thuốc chống ung 

thư  vào  động  mạch  nuôi  khối  u:  thường 

lipiodol 10ml (3 – 20ml), mitomycin 10mg (5 – 

40mg)  và  doxorubicin  30mg  hay  50mg  (10  – 

100mg) tùy theo kích thước khối u. Sau đó làm 

tắc  bằng  những  mảnh  sponge  với  kích  thước 

khoảng 0,5 – 1mm. 

Hiệu  quả  diệt  khối  u  của  phương  pháp 

TOCE được đánh giá và theo dõi mỗi 1 tháng, 

TOCE  được  thực  hiện  thêm  nữa  khi  tổn 

thương  chưa  ngấm  thuốc  hoặc  tái  phát  các 

sang  thương  đã  được  điều  trị  hoặc  xuất  hiện 

các sang thương mới. 

Phương pháp phân tích số liệu 

Chúng  tôi  xử  lý  số  liệu  bằng  Excel  2007  và 

Stata 10.0. 

Thời  gian  sống  là  thời  gian  từ  ngày  làm 

TOCE đầu tiên cho đến ngày bệnh nhân tử vong 

hoặc ngày cuối cùng bệnh nhân được theo dõi. 

So sánh tỉ lệ phần trăm bằng phép kiểm χ2. 

Các  đường  biểu  diễn  thời  gian  sống  còn  được xác định bằng phương pháp Kaplan‐Meier 

và so sánh bằng test log‐rank. 

Các  phép  so  sánh,  hệ  số  tương  quan  có  ý  nghĩa thống kê khi p ≤ 0,05. 

KẾT QUẢ 

Trong  thời  gian  nghiên  cứu,  tại  Bệnh  viện  Chợ Rẫy, chúng tôi ghi nhận 67 bệnh nhân thỏa  tiêu  chuẩn  chọn  vào  mẫu  nghiên  cứu,  trong  số 

đó  có  37  bệnh  nhân  HBV‐  HCC  (55,2%)  và  30  bệnh nhân HCV‐HCC (44,8%). 

Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng bệnh nhân HCC 

HBV- HCC HCV- HCC p

Giới (Nam/Nữ) 36/1 2,3/1 0,002 Đau hạ sườn

phải

81% 100% 0,01

Nhận  xét:  Tuổi  trung  bình  của  bệnh  nhân 

HCV  ‐  HCC  cao  hơn  8  tuổi  so  với  bệnh  nhân  HBV‐HCC, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.  Trong  khi  đó,  tỉ  lệ  nam/nữ  ở  bệnh  nhân  HBV‐ HCC  cao  hơn  hẳn  bệnh  nhân  HCV‐HCC  (p<0,005).  Về  các  triệu  chứng  lâm  sàng,  bệnh  nhân  HCV‐HCC  có  triệu  chứng  đau  hạ  sườn  phải  nhiều  hơn  bệnh  nhân  HBV‐HCC  (p=0,01).  Riêng triệu chứng chán ăn, sụt cân và bệnh nhân 

tự  sờ  thấy  khối  u  thì  ở  nhóm  bệnh  nhân  HBV‐ HCC lại chiếm tỉ lệ cao hơn. Tuy nhiên sự khác  biệt này không có ý nghĩa thống kê. 

Bảng 2: Đặc điểm cận lâm sàng bệnh nhân HCC 

HBV- HCC HCV- HCC p

AST (UI/L) 117,7±122,6 108±79,5 0,96 Bilirubin toàn phần

Creatinin (mg/dl) 0,9±0,6 0,8±0,3 0,15

Trang 4

HBV- HCC HCV- HCC p

Huyết khối tĩnh mạch

Nhận xét: Trong các đặc điểm cận lâm sàng, 

thời  gian  đông  máu  ngoại  sinh  (TQ)  ở  bệnh 

nhân HBV‐HCC kéo dài hơn ở bệnh nhân HCV‐

HCC  (p=0,03).  Các  đặc  điểm  cận  lâm  sàng  còn 

lại  cho  thấy  không  có  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa 

thống kê giữa 2 nhóm. 

Đặc điểm về thời gian sống và tử vong 

 Thời  gian  sống  trung  bình  ở  bệnh  nhân 

HCC  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là 

17,4±12,6  tháng,  trong  đó  nhóm  HBV‐HCC  là 

15,9  ±11,4  tháng,  nhóm  HCV‐HCC  là  19,3  ±  14 

tháng. Sau khi kết thúc nghiên cứu, tỉ lệ tử vong 

là ở cả 2 nhóm là 71,6%. 

Bảng 3: Thời gian sống ở bệnh nhân HCC 

Thời gian sống HBV- HCC HCV- HCC

Nhận  xét:  Thời  gian  sống  1  năm  ở  nhóm 

bệnh nhân HBV‐HCC chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm 

HCV‐HCC. Ngược lại, thời gian sống sau 2 năm 

và  5  năm  ở  nhóm  bệnh  nhân  HCV‐HCC  lại 

chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm HBV‐HCC. 

Chúng tôi dùng phân tích sống còn Logrank 

để  so  sánh  thời  gian  sống  trung  bình  giữa  2 

nhóm HBV‐HCC và HCV‐HCC 

 

Biểu đồ 1: Đường cong sống còn ở 2 nhóm HBV‐

HCC và HCV‐HCC 

Giá trị p của kiểm định logrank =0,296. Điều  này có nghĩa không có sự khác biệt về thời gian  sống  còn  ở  2  nhóm  bệnh  nhân  HBV‐HCC  và  HCV‐HCC. 

BÀN LUẬN 

Trong  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  đánh  giá 

sự  khác  nhau  về  đặc  điểm  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng và tiên lượng sống trên  bệnh  nhân  HBV  ‐  HCC và HCV ‐ HCC điều trị bằng phương pháp  TOCE. Nghiên cứu này được thực hiện theo các  bước tiến hành đồng nhất của quá trình điều trị,  theo dõi và chăm sóc bệnh nhân trong suốt thời  gian nghiên cứu. 

Về  đặc  điểm  lâm  sàng,  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  tuổi  trung  bình  của  bệnh  nhân HCV‐HCC cao hơn bệnh nhân HBV‐HCC 

và  tỉ  lệ  nam/  nữ  ở  nhóm  HBV‐HCC  cao  hơn  nhóm HCV‐HCC. Kết quả của chúng tôi tương 

tự với các nghiên cứu tại các nước Châu Á khác 

là  Nhật  và  Đài  Loan(3,8).  Ngoài  ra,  bệnh  nhân  HCV  ‐  HCC  có  triệu  chứng  đau  hạ  sườn  phải  nhiều  hơn  bệnh  nhân  HBV‐HCC,  còn  các  triệu  chứng khác thì tương tự nhau ở 2 nhóm. 

Khi khảo sát về các đặc điểm cận lâm sàng,  chúng  tôi  ghi  nhận  thời  gian  đông  máu  ngoại  sinh (TQ) ở bệnh nhân HBV‐HCC kéo dài hơn ở  bệnh  nhân  HCV‐HCC.  Các  đặc  điểm  cận  lâm  sàng còn lại cho thấy không có sự khác biệt có ý  nghĩa thống kê giữa 2 nhóm.  

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  thời  gian  sống trung bình là là 17,4 ± 12,6 tháng. Kết quả  của  chúng  tôi  tương  tự  với  một  nghiên  cứu  tại  Đài  Loan(3).  Tuy  nhiên,  kết  quả  của  chúng  tôi  thấp hơn so với các  nghiên  cứu  khác  thực  hiện  tại Châu Âu. Tại Ý, thời gian sống trung bình là 

32 tháng(4).   Thời  gian  sống  trung  bình  ở  nhóm  HBV‐ HCC  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  15,9  ±  11,4 tháng, nhóm HCV‐HCC là 19,3 ± 14 tháng.  Thời gian sống 1 năm ở nhóm bệnh nhân HBV ‐  HCC  chiếm  tỉ  lệ  cao  hơn  nhóm  HCV‐HCC. 

Trang 5

nhóm  bệnh  nhân  HCV‐HCC  lại  chiếm  tỉ  lệ  cao 

hơn nhóm HBV‐HCC. Khi chúng tôi dùng phân 

tích sống còn Logrank để so sánh thời gian sống 

trung bình giữa 2 nhóm HBV ‐ HCC và HCV ‐ 

HCC  thì  nhận  thấy  không  có  sự  khác  biệt  có  ý 

nghĩa thống kê về thời gian sống ở 2 nhóm bệnh 

nhân HBV‐HCC và HCV‐HCC. Trong 1 nghiên 

cứu  thực  hiện  tại  Đài  Loan  thì  ở  bệnh  nhân 

HCV‐HCC  có  tiên  lượng  sống  tốt  hơn  so  với 

bệnh  nhân  HBV  ‐  HCC  ở  các  bệnh  nhân  được 

điều trị bằng phương pháp không phẫu thuật (3). 

Sự khác biệt này so với nghiên cứu của chúng tôi 

có  thể  do  đặc  điểm  mẫu  nghiên  cứu,  thời  gian 

nghiên cứu khác nhau. 

KẾT LUẬN 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  tuổi 

trung  bình  của  bệnh  nhân  HCV‐HCC  cao  hơn 

bệnh nhân HBV ‐ HCC và tỉ lệ nam/ nữ ở nhóm 

HBV‐HCC cao hơn nhóm HCV‐HCC. 

Bệnh nhân HCV‐HCC có triệu chứng đau hạ 

sườn  phải  nhiều  hơn  bệnh  nhân  HBV‐HCC  và 

thời  gian  đông  máu  ngoại  sinh  (TQ)  ở  bệnh 

nhân  HBV  ‐  HCC  kéo  dài  hơn  ở  bệnh  nhân 

HCV‐HCC.  Thời  gian  sống  trung  bình  ở  nhóm 

HBV  ‐  HCC  là  15,9  ±  11,4  tháng,  nhóm  HCV‐

HCC là 19,3 ± 14 tháng và không có sự khác biệt 

có ý nghĩa thống kê về thời gian sống ở 2 nhóm 

bệnh nhân HBV‐HCC và HCV‐HCC. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bosch  F.  X,  Ribes  J,  Diaz  M,  Cleries  R  (2004),  ʺPrimary  liver 

cancer:  worldwide  incidence  and  trendsʺ.  Gastroenterology, 

127(5 Suppl 1), pp.S5‐S16. 

carcinoma  in  the  world:  Epidemiologic  questions.ʺ  Etiology,  Pathology  and  Treatment  of  Hepatocellular  Carcinoma  in  America.  Advances  in  Applied  Technology  Series,  Tabor,  E,  DiBisceglie, AM, Purcell, RH (Eds), Gulf, pp.35. 

B  ‐  and  C‐related  hepatocellular  carcinomas  yield  different  clinical features and prognosisʺ. European Journal of Cancer 

42, pp. 2524 ‐2529. 

survival  in  patients  with  early  intermediate  hepatocellular  carcinoma  undergoing  nonsurgical  therapy:  comparison  of  Okuda,  CLIP,  and  BCLC  staging  systems  in  a  single  Italian  centre”. Gut, 2005. 54, pp. 411‐418. 

trong  chẩn  đoán  ung  thư  gan  nguyên  phát  ʺ.  Tạp  chí  y  học  TP.Hồ Chí Minh, pp.33 ‐ 35. 

GUIDELINE.  Management  of  Hepatocellular  Carcinomaʺ.  Hepatology, 42(5), pp.1209‐1228. 

hepatocellular carcinomaʺ. Neoplasms of the Liver, Okuda, K,  Ishak, KG (Eds), Springer, pp.3. 

clinical  features  in  patients  with  hepatocellular  carcinoma.ʺ 

hepatocellular  carcinoma  and  othether  liver  cancerʺ.  Liver  cancer. Newyork: CHurchill Livingstone, pp.1‐12. 

cancerʺ.  Primary  Liver  Cancer  in  Japan,  Tobe,  T  (Ed),  Springer‐Verlag, pp.3. 

world  cancer  burden.  Globocan  2000ʺ.  Int  J  Cancer,  94,  pp.153‐156. 

comparison of the surgical results in patients with hepatitis B  versus  hepatitis  C‐related  hepatocellular  carcinomaʺ.  Hepatology, 22, pp.20‐24. 

 

Ngày nhận bài báo: 18/04/2013  Ngày phản biện đánh giá bài báo: 10/05/2013  Ngày bài báo được đăng: 27/05/2013  

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 17:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w