1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát vi sinh trên bàn tay trước và sau khi rửa tay của nhân viên y tế Bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2010

7 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 354,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được thực hiện với mục tiêu khảo sát vi sinh trên bàn tay trước và sau khi rửa tay của nhân viên y tế (NVYT) Bệnh viện Nhi Đồng 2 (BVNĐ2) năm 2010. Nghiên cứu tiến hành mô tả và phân tích với mẫu nghiên cứu là 388 NVYT thuộc 37 khoa phòng của BVNĐ2. Số liệu thu thập được xử lý theo phần mềm SPSS 17.0.

Trang 1

KHẢO SÁT VI SINH TRÊN BÀN TAY TRƯỚC VÀ SAU KHI RỬA TAY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 NĂM 2010

Nguyễn Thị An*, Đỗ Vân Anh**, Nguyễn Thị Ánh Hồng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát vi sinh trên bàn tay trước và sau khi rửa tay của nhân viên y tế (NVYT) Bệnh viện Nhi

Đồng 2 (BVNĐ2) năm 2010

Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang, mô tả và phân tích với mẫu nghiên cứu là 388 NVYT thuộc 37 khoa

phòng của BVNĐ2 Số liệu thu thập được xử l ý theo phần mềm SPSS 17.0

Kết quả: Trước khi rửa tay, 61,6% tay NVYT có 1 – 3 loại vi khuẩn (VK) và 6,4% là VK gây bệnh; Sau khi

rửa tay, các tỉ lệ trên lần lượt còn 24,2% và 0,3% Kỹ thuật rửa tay đúng quyết định kết quả bàn tay không còn

VK với các dung dịch đã được lựa chọn sử dụng trong BV

Kết luận: Rửa tay là biện pháp cần thiết để ngăn ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện

Từ khóa: vi khuẩn thường trú, vi khuẩn tạm trú, vi khuẩn gây bệnh, rửa tay, nhiễm khuẩn bệnh viện

ABSTRACT

STUDY OF MICROORGANISMS ON HEALTH-CARE WORKERS’ HANDS BEFORE AND AFTER

HANDWASHING AT CHILDREN HOSPITAL NO2 IN 2010

Nguyen Thi An, Do Van Anh, Nguyen Thi Anh Hong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 166 - 172

Objectives: To identify microorganisms on health-care workers (HCWs)’ hands before and after hand

washing

Method: A cross-sectional, descriptive and analytical study was conducted on 388 HCWs amongst 37

departments of Children Hospital N o 2 Statistical data collection was processed by SPSS 17 0 for windows

Results: Before handwashing, 61.6% HCWs’ hands had from 1 to 3 types of microorganisms and 6.4% of

those were harmful ones; After handwashing, those rates were reduced to 24.2% and 0.3% respectively Correct

handwashing technique using selected preparations for hand hygiene in Children Hospital N o 2 unquestionably delivers the outcome of non-microorganism hands

Conclusion: Handwashing is the necessary measure to prevent healthcare – related infections

Key words: resident flora, transient flora, harmful microorganism, handwashing, healthcare – related

infections

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Tại sao khi nói đến phòng ngừa nhiễm

khuẩn bệnh viện thì rửa tay lại là vấn đề được

ưu tiên hàng đầu?

Như chúng ta đã biết, vi khuẩn không thể

nhìn thấy được bằng mắt thường và mọi hoạt

động điều trị, chăm sóc bệnh nhân của nhân viên y tế (NVYT) chủ yếu qua bàn tay, Mặc dù

đã có nhiều bằng chứng thuyết phục rằng rửa tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện nhưng sự tuân thủ rửa tay của NVYT vẫn còn chưa cao Sự

* Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, BVNĐ2 ** Khoa Vi sinh, BVNĐ2

Tác giả liên lạc: ĐD Nguyễn Thị An, ĐT: 01204682646 Email: annguyen@yahoo.com.vn

Trang 2

tuân thủ rửa tay của NVYT còn thấp vì nhiều lý

do: trang bị cho việc rửa tay chưa đầy đủ hoặc

chưa hợp lý, số lượng bệnh nhân đông, tính chất

công việc của từng khoa, chưa hiểu được tầm

quan trọng của việc rửa tay, …

Để nâng cao nhận thức và sự tuân thủ rửa

tay của NVYT thì ngoài các biện pháp như trang

bị phương tiện rửa tay đầy đủ và thích hợp, tập

huấn và giám sát thường xuyên việc rửa tay,

việc đưa ra các bằng chứng khoa học chứng

minh hiệu quả của việc rửa tay là rất quan trọng

Việc kiểm tra vi sinh tay nhân viên y tế trước

và sau khi rửa tay đã chứng minh rằng rửa tay

giúp loại bỏ được các loại vi khuẩn gây bệnh,

bảo đảm hiệu quả điều trị và chăm sóc bệnh

nhân đồng thời cũng bảo đảm an toàn cho

NVYT và cộng đồng

Khoa Vi sinh và khoa Kiểm soát nhiễm

khuẩn BVNĐ2, ngoài việc giám sát định kỳ

môi trường tại một số khoa trọng điểm còn

giám sát ngẫu nhiên tay NVYT khi đang thực

hành Tỉ lệ phát hiện VK trên tay NVYT tại các

khoa này là 40%, bao gồm: Staphylococci

coagulase (-), Klebsiella pneumoniae,

Burkholderia cepacia, Bacillus, trực trùng

gram (-) không định danh, …

Rửa tay thường quy là bắt buộc đối với tất cả

các NVYT của mọi khoa phòng nhằm phòng

ngừa NKBV, bảo đảm an toàn cho BN, NVYT và

cả cộng đồng; Vì vậy, việc khảo sát vi sinh tay

NVYT trước và sau rửa tay là tiền đề giúp

NVYT tuân thủ rửa tay Do đó, sự phối hợp của

khoa Vi sinh và khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn

trong việc tầm soát vi khuẩn trên bàn tay của

NVYT trước và sau khi rửa tay là một nghiên

cứu thiết thực

Đề tài này được tiến hành nhằm xác định

hiệu quả của việc rửa tay để từ đó củng cố nhận

thức, thái độ và hành vi của NVYT trong thực

hành rửa tay khi điều trị và chăm sóc bệnh

nhân Để điều trị và chăm sóc bệnh nhân tốt thì

ngoài chuyên môn cao, trang thiết bị y tế hiện

đại, chúng ta cần phải có một bàn tay sạch như

tinh thần của ngày rửa tay toàn cầu 05.5.2009 do

Tổ chức Y tế Thế giới phát động: “Để bảo vệ sự sống, hãy rửa tay!”

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát vi sinh trên bàn tay trước và sau khi rửa tay của NVYT tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2010

Mục tiêu chuyên biệt

Xác định tỷ lệ vi khuẩn trên bàn tay của NVYT trước khi rửa tay

Xác định tỷ lệ vi khuẩn trên bàn tay của NVYT sau khi rửa tay đúng kỹ thuật và không đúng kỹ thuật

Xác định tỷ lệ các loại vi khuẩn trên bàn tay

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang, mô tả và phân tích

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: 08 tháng (từ 01/01/2010 đến 01/9/1010)

Địa điểm: các khoa/ phòng Bệnh viện Nhi Đồng 2

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu: NVYT của BV Nhi Đồng 2 Dân số chọn mẫu: NVYT tại các khoa phòng của BV Nhi Đồng 2

Cỡ mẫu:

n = Z21-α/2 P (1-P)

d2

α = 0,05 (sai lầm loại 1)

Z0,975 = 1,96 (trị số từ phân phối chuẩn)

P = 0,4 (tỉ lệ NVYT các khoa trọng điểm có bàn tay mang VK - kết quả có được khi cấy tay NVYT trong kiểm tra thường quy các khoa trọng điểm trong quý 4 2008 và 3 quý đầu năm 2009)

d = 0,05 (độ chính xác hay sai số cho phép)

Trang 3

Kỹ thuật chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên,

phân tầng

Tiêu chí loại trừ

NVYT không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu

Nhân viên khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn giải

thích cho NVYT được chọn vào mẫu từ phương

pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, phân tầng cách tiến

hành và lấy thỏa thuận, sau đó quan sát việc rửa

tay của NVYT này

Kỹ thuật viên khoa Vi sinh cấy tay nhân viên

trước và sau khi rửa tay

Phương pháp xử lý số liệu

Thống kê mô tả và phân tích số liệu bằng

phần mềm SPSS 17.0 for windows

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Số lượng NVYT tại các khoa/ phòng

Bảng 1: Số lượng NVYT khảo sát theo khoa/phòng

Phòng Hành chính quản trị có số nhân viên được khảo sát cao nhất: 29 NV (7,5%) và Phòng Điều dưỡng có số nhân viên được khảo sát thấp nhất: 01 NV (0,3%)

Chức vụ

Bảng 2: Số lượng NVYT khảo sát theo chức vụ

Tỉ lệ Bác sĩ /ĐD, KTV/Nhân viên khác khảo sát được phân tầng theo chức vụ phản ảnh các thành phần NVYT trong BV

KẾT QUẢ Định danh vi khuẩn trên bàn tay của NVYT trước và sau khi rửa tay

Bảng 3: Định tính & định danh VK trước & sau rửa

tay

Trước rửa tay Sau rửa tay Kết quả

1 loại

VK

186

Định

tính

2 loại

VK

49

Trang 4

Trước rửa tay Sau rửa tay Kết quả

3 loại

VK

4

Klebsiella

pneumoniae

Staphylococcus

aureus

Định

danh

Staphylococci

coagulase (-)

Trước khi rửa tay: 61,6% tay NVYT mang 1 –

3 loại VK và 6,4% tay NVYT có VK gây bệnh

Sau khi rửa tay: còn 24,2% tay NVYT có VK

(VK thường trú: 23,9% và 0,3%: VK gây bệnh)

Tình hình vi khuẩn trên bàn tay của NVYT

trước và sau khi rửa tay, khảo sát theo chức

vụ

Bảng 4: Định tính VK trước & sau rửa tay theo chức

vụ

Chức vụ Âm

tính Dương tính

Âm tính Dương tính

Tổng cộng

Tổng

cộng

149 239 294 94 388

Trước khi rửa tay, tỉ lệ tay BS và NV khác

mang VK cao hơn so với ĐD và KTV; Sự khác

biệt này có ý nghĩa thống kê (χ2 = 33,493, p <

0.001)

Sau khi rửa tay, tỉ lệ BS và ĐD, KTV có VK

trên tay giảm hẳn và như nhau, trong khi các

NV khác còn cao (χ2 = 33,599, p < 0.001)

Tăng cường tập huấn rửa tay thường quy ở

các NV khác

Tỷ lệ vi khuẩn trên bàn tay của NVYT sau khi rửa tay, khảo sát theo kỹ thuật rửa tay

Bảng 5: Định tính VK sau rửa tay theo kỹ thuật

rửa tay

Sau rửa tay

Kỹ thuật

Tổng cộng

Kỹ thuật rửa tay ảnh hưởng đến vi sinh trên tay NVYT: rửa tay đúng quy trình làm giảm thiểu VK trên tay NVYT , bảo đảm cho đôi bàn tay NVYT an toàn đối với BN [χ2=21.457, p < 0.001, OR= 0.266 (0.148 – 0.478)]

Tình hình vi khuẩn trên bàn tay của NVYT sau khi rửa tay, khảo sát theo dung dịch rửa tay

Bảng 6: Định tính VK sau rửa tay theo dung dịch

rửa tay

Sau rửa tay Dung dịch

Tổng cộng

Clinhands 72 19 91

Tổng cộng 294 94 388

Không có sự sai biệt có ý nghĩa thống kê giữa hiệu quả của các loại dung dịch rửa tay khác nhau trong BV (χ2= 5.531, p = 0.137)

BÀN LUẬN

Mẫu nghiên cứu có sự tham gia của 388 NVYT thuộc 37 khoa/phòng của BVNĐ2, trong

đó khoa/phòng có số NV được khảo sát nhiều nhất là phòng Hành chính quản trị (29 NV: 7,5%) và Phòng Điều dưỡng là đơn vị có số nhân viên được khảo sát thấp nhất (01 NV: 0,3%) 82/388 NVYT được khảo sát vi sinh bàn tay là

BS, 195 là ĐD, KTV và 111 là các NV khác; Các đối tượng khảo sát được lấy mẫu phân tầng theo chức vụ và khoa phòng nên phản ảnh được thành phần NVYT trong BV

Trang 5

Kết quả khảo sát trước khi rửa tay cho thấy

chỉ có 38.4% tay NVYT không tìm thấy vi khuẩn

61,6% NVYT còn lại mang từ 1 – 3 loại VK trước

khi rửa tay (47.9% mang 1 loại VK, 12,6% mang

2 loại VK và 1% mang 3 loại VK)

Staphylococcus coagulase (-) và Bacillus

được xem là VK thường trú, lần lượt chiếm 41%

và 29,1% trên tay NVYT trước khi rửa tay, có

nguy cơ gây NKBV cho BN trong những điều

kiện nhất định

Đáng ngại nhất là nhiều loại vi khuẩn gây

bệnh đã định danh được trên tay NVYT trước

khi rửa tay: nhiều nhất là Acinetobacter (13

trường hợp: 3,4%), kế đến là Klebsiella

pneumoniae (6 trường hợp: 1,5%) và

Staphylococcus aureus (3 trường hợp: 0,8%);

Các loại VK gây bệnh khác được tìm thấy ít

hơn: Burkholderia cepacia (1 trường hợp:

0,3%), Enterobacter (1 trường hợp: 0,3%) và

Klebsiella sp (1 trường hợp: 0,3%) Kết quả này

cho thấy bàn tay của NVYT thực sự là mối đe

dọa cho BN và vì vậy, các biện pháp để làm

cho bàn tay NVYT, nơi mà hầu như tất cả các

thủ thuật chăm sóc, chẩn đoán và điều trị BN

qua đó thực hiện, trở nên sạch và vô khuẩn là

vô cùng cần thiết

Trước khi rửa tay, tỉ lệ tay BS và NV khác

mang VK cao hơn so với ĐD và KTV; Sự khác

biệt này có ý nghĩa thống kê với χ2 = 33.493, p <

0.001 Điều này cho thấy BS, người luôn được

xem là “sạch”, chưa hẳn là an toàn cho BN khi

thực hiện thăm khám và điều trị; Tương tự như

vậy, các NV khác trong BV (những người không

làm công tác chuyên môn và trực tiếp chăm sóc

BN ở phòng Tổ chức cán bộ, phòng Kế hoạch

tổng hợp, phòng Hành chính quản trị, khoa

Dinh dưỡng, khoa Phòng khám) cũng được phát

hiện các loại VK gây bệnh như Acinetobacter,

Klebsiella pneumoniae trên tay Vì vậy, việc rửa

tay thường quy là kỹ thuật cần thiết cho mọi

NVYT, để ngoài việc phòng ngừa lây nhiễm

chéo giữa các BN trong BV còn phòng ngừa việc

lây nhiễm các loại VK nguy hiểm cho bản thân

NVYT và cộng đồng

Vệ sinh tay phù hợp là biện pháp hàng đầu, nhằm giảm sự lây truyền tác nhân gây NKBV trong các cơ sở y tế Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh vệ sinh tay đúng cải thiện nguy cơ NKBV và tình trạng lây nhiễm chéo các vi khuẩn đa kháng kháng sinh

Sau khi rửa tay, chỉ còn 24,2% tay NVYT mang vi khuẩn và chủ yếu là VK thường trú Chúng tôi cũng nhận thấy sau khi rửa tay, tỉ lệ

BS và ĐD, KTV có VK trên tay giảm hẳn và như nhau trong khi các NV khác còn cao; Nhận xét này đặt nhu cầu cho việc tăng cường tập huấn rửa tay thường quy ở đối tượng là các NV không làm công tác tiếp xúc trực tiếp với BN Khi quan sát thực hành rửa tay, chúng tôi nhận thấy các loại dung dịch rửa tay đang sử dụng trong

BV (rửa tay nhanh với Softa-man, rửa tay thường quy với Clinhands, rửa tay thủ thuật và phẫu thuật với Microshield 2% và Dermanios) không ảnh hưởng đến kết quả cấy vi sinh (χ2 = 5.531, p= 0.137) nhưng kỹ thuật rửa tay ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả sau cùng; Việc rửa tay đúng quy trình đã làm giảm thiểu VK trên tay NVYT: còn VK trên tay NVYT thực hiện đúng kỹ thuật rửa tay 16/144 trường hợp (11%) so với 78/244 trường hợp (32%) NVYT thực hiện rửa tay không đúng quy trình và đây là kết quả có ý nghĩa thống kê [χ2=21.457, p < 0.001 và OR= 0.266 (0.148 – 0.478)] Điều này, một lần nữa, khẳng định sự cần thiết phải rửa tay của mọi NVYT và kỹ thuật rửa tay cần thực hiện theo đúng quy trình hướng dẫn để bảo đảm cho đôi bàn tay NVYT luôn an toàn đối với BN, bản thân, đồng nghiệp và cộng đồng

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Liêm, Cao Minh Nga từ 10/2006 đến 10/2007 về vi sinh trên tay NVYT BV Thống Nhất TpHCM cho thấy 100% tay NVYT không rửa tay và 60% trường hợp

có rửa tay có VK mọc, trong đó Acinetobacter chiếm > 50%, kế đến là VK đường ruột, Staphylococci, Pseudomonas,…(5) Như vậy, kết quả nghiên cứu của chúng tôi về VK gây bệnh trên tay NVYT khả quan hơn nhiều với đơn vị bạn: 25/388 (6,4%), đây thật sự là một khích lệ lớn đối với công tác KSNK trong toàn BV

Trang 6

Theo khảo sát của chúng tôi, 0,8% NVYT có

S.aureus trên tay trước khi rửa tay trong khi theo

Ayliffe GAJ có 15% điều dưỡng (ĐD) đang làm

việc ở khu vực cách ly mang 1x104 khúm S

aureus trên tay, 29% ĐD chung trong BV có 3800

khúm S aureus trên tay thì tại khoa bệnh lý da,

78% ĐD được phát hiện có vi khuẩn này trên tay

(trung bình: 14,3x106 khúm); Tương tự như vậy

đối với trực khuẩn gram (-): 17- 30% vi khuẩn

này phát hiện được trên tay ĐD(1); Một nghiên

cứu của Daschner cho thấy S aureus được tìm

thấy trên tay của 21% nhân viên khoa Săn sóc

đặc biệt (trong đó 21% tay BS và 5% tay ĐD

mang >1000 khúm)(2) Cấy nhiều lần tay NVYT

cho thấy 100% mang trực khuẩn gram (-) và 64%

mang S aureus ít nhất một lần [8] Có phải

S.aureus thường trú trên tay NVYT chúng ta ít

hơn so với các tài liệu nước ngoài hay kỹ thuật

nuôi cấy VK của chúng ta chưa đủ độ nhạy như

các phòng xét nghiệm nước ngoài? Cần có nhiều

nghiên cứu hơn về vấn đề trên!

Da người bình thường là nơi định cư của VK

thường trú và VK tạm trú VK tạm trú cư ngụ ở

lớp nông nhất của da; Dù chỉ sống trên da trong

một thời gian rất ngắn nhưng chúng có thể khả

năng gây bệnh cao, và việc lây nhiễm là do

NVYT tiếp xúc trực tiếp với BN hay bề mặt môi

trường xung quanh BN VK thường trú là

nguyên nhân chính gây NKBV và làm lan rộng

tình trạng kháng kháng sinh do nhiễm chéo; Dù

vậy, VK tạm trú lại rất dễ bị loại bởi rửa tay

thường quy Trong khi đó, VK thường trú nằm ở

lớp sâu hơn của da, ít có nguy cơ gây bệnh hơn

trừ trường hợp thực hiện các thủ thuật xâm

lấn(7) Staphylococci coagulase (-) là loại VK

thường trú ở da, đường hô hấp và đường niệu

dục, không có khả năng xâm lấn nhưng có thể

gây bệnh trong những trường hợp đặc biệt như

Staphylococcus epidermidis là tác nhân quan

trọng trong nhiễm trùng huyết liên quan đến

catheter, Staphylococcus saprophyticus có thế

gây nhiễm khuẩn đường tiểu(4,6) Bên cạnh đó,

riêng tại BVNĐ2, khi khảo sát vi sinh tay NVYT,

Bacillus cũng được ghi nhận là một tác nhân

hiện diện quan trọng; Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 28,9% Bacillus được tìm thấy trên tay NVYT chưa rửa tay và 17,8% trên tay NVYT đã rửa tay Bacillus là một loại trực khuẩn Gram (+), thuộc nhóm Firmicus, hiếu khí bắt buộc hay có thể yếm khí, có thể tạo bào tử giúp VK tồn tại trong một thời gian dài trong những điều kiện khắc nghiệt; 2 loại Bacillus có thể gây bệnh quan trọng trên người là B anthracis gây bệnh than và

B cereus gây nhiễm khuẩn tiêu hóa tương tự như Staphylococcus(3) Mặc dù chưa ghi nhận bất

kỳ trường hợp NKBV nào liên quan đến Bacillus trong thời gian qua, nhưng với xuất độ hiện diện trên tay NVYT cao như trên, cần có sự tìm hiểu

và giám sát chặt chẽ của khoa Vi sinh và khoa KSNK đối với tác nhân này hơn trong tương lai

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Khảo sát cấy vi khuẩn trên tay 388 NVYT BVNĐ2 thực hiện từ tháng 01 – 5/2010 cho thấy trước khi rửa tay, có 61,6% NVYT mang VK trên tay, trong đó 6,4% là VK gây bệnh; Sau khi rửa tay, các tỉ lệ trên lần lượt còn 24,2% và 0,3% Điều này cho thấy việc rửa tay là thật sự cần thiết và hiệu quả, góp phần quan trọng trong việc phòng ngừa lây nhiễm chéo giữa các BN cũng như phòng ngừa việc lây các tác nhân gây bệnh cho NVYT và cộng đồng Kỹ thuật rửa tay đúng cách quyết định bàn tay sạch với các dung dịch đã được lựa chọn sử dụng trong BV

Công tác KSNK của BVNĐ2 đã có nhiều tiến

bộ trong thời gian qua về mọi mặt, trong đó việc tuân thủ rửa tay của NVYT luôn được nhấn mạnh và đặt lên hàng đầu; Tuy vậy, với kết quả khảo sát vi sinh tay NVYT như trên, cần tăng cường đồng bộ các biện pháp KSNK, trong đó đặc biệt quan tâm, về cơ sở vật chất cũng như tập huấn và giám sát liên tục công tác rửa tay của NVYT, bảo đảm sự tuân thủ rửa tay tuyệt đối của NVYT trong thực hành chuyên môn vì rửa tay vẫn luôn là biện pháp cơ bản, rẻ tiền và hiệu quả nhất trong KSNKBV

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

disinfection: a comparison of various agents in laboratory and

ward studies J Hosp Infect; 11: 226 – 43

antiseptics? J Hosp Infect 1988; 11 (suppl A): 227 – 35

Staphylococci In: Nguyễn Thanh Bảo Vi khuẩn học, pp 90 –

94

tố nguy cơ dẫn đến nhiễm khuẩn bệnh viện tại Bệnh viện

Thống Nhất từ tháng 10/2006 đến tháng 10/2007 Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập 12*Phụ bản số 4*2008 ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM: 20 – 25

thường trú In: Nguyễn Thanh Bảo Vi khuẩn học, pp 183 –

194

pp 31 – 39 International Society for Infectious Diseases, Brookline, MA

Ngày đăng: 22/01/2020, 17:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm