1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thiết lập hệ chuyển gen retrovirut tái tổ hợp biểu hiện IL-12 ở mức độ mARN

6 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 566,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết mô tả chi tiết việc hình thành chủng retrovirut mã hóa IL-12 cấu hình IL-12-p40/linker/ IL-12-p35. Protein được biểu hiện từ tế bào (TB) động vật có vú có hoạt tính cao. Tuy nhiên, việc đưa các đoạn gen mã hóa protein đích vào TB động vật rất phức tạp, làm tăng chi phí biểu hiện và tính chế sau này. Để khắc phục điều này, công nghệ chuyển gen dựa trên khung virut tái tổ hợp đã được triển khai. Bằng cách kết hợp chuyển gen retrovirut với các công nghệ tổng hợp nucleotid và tối ưu hóa codon, chúng tôi đã tạo ra dòng TB bài tiết virut mã hóa IL-12 mRNA.

Trang 1

70

THIẾT LẬP HỆ CHUYỂN GEN RETROVIRUT TÁI TỔ HỢP

BIỂU HIỆN IL-12 Ở MỨC ĐỘ mARN

Ngô Tất Trung*; Lê Hữu Song*; Phan Quốc Hoàn*

Hồ Anh Sơn**; Nguyễn Lĩnh Toàn**

TÓM TẮT

Protein được biểu hiện từ tế bào (TB) động vật có vú có hoạt tính cao Tuy nhiên, việc đưa các đoạn gen mã hóa protein đích vào TB động vật rất phức tạp, làm tăng chi phí biểu hiện và tính chế sau này Để khắc phục điều này, công nghệ chuyển gen dựa trên khung virut tái tổ hợp

đã được triển khai Bằng cách kết hợp chuyển gen retrovirut với các công nghệ tổng hợp nucleotid và tối ưu hóa codon, chúng tôi đã tạo ra dòng TB bài tiết virut mã hóa IL-12 mRNA

* Từ khóa: IL-12; Retrovirut; Protein tái tổ hợp

Construction of Recombinant Retrovirus Plasmid Engineering System for Expression of Interleukin-12 mRNA Level

Summary

Recombinant protein expressed from mammalian cell culture is a good activity However, the current procedure of delivery target open reading frame into mammalian host is cumbersome, which makes the chimeric protein expension To overcome the limits of available mammalian expression systems, many recombinant virus based gene deliver technologies have been implemented, in which the retrovirus backbone is one option of choice In this study, by combining recombinant retrovirus plasmid engineering with codon optimization, we have successfully created a cell line with significant secreted level of IL-12 mRNA

* Key words: IL-12; Retrovirus; Recombinant protein

ĐẶT VẤN ĐỀ

Interleukin-12 ban đầu được biết đến

như là một cytokine tiÒn viªm, thường

được tạo ra bởi tÕ bµo Dendritic (DCs) và

thực bµo Cytokine này có vai trò cảm

ứng bài tiết interferon-γ (IFN-γ), nhờ đó

kích thích quá trình biệt hóa hình thành

TB T helper 1 (TH1), đây chính là yếu tố

kết nối các phản ứng miễn dịch bẩm sinh

với miễn dịch thích nghi Sau này, khoa

học đã chứng minh IL-12 đóng

vai trò là tác nhân tăng trưởng cho TB giết tự nhiên (Natural killer cell growth factor) Cytokine này được hợp thành từ hai tiểu phần (subunit) mã hóa bởi hai gen khác nhau Khi các tiểu phần này được dịch mã tạo thành 12 p35 và

IL-12 p40 Hai tiền cytokine này sau khi bài tiết sẽ tiếp tục được sửa đổi sau dịch mã

và lai ghép với nhau, tạo thành phân tử cytokine heterodimer IL-12 p70 với đầy

đủ chức năng sinh học cần thiết cho điều hòa miễn dịch

* Bệnh viện TWQĐ 108

** Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Lĩnh Toàn (toannl@vmmu.edu.vn)

Ngày nhận bài: 23/05/2014; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 10/09/2014

Trang 2

71

Tác dụng kinh điển mà con người vẫn

biết về IL-12 trong điều trị ung thư đó là: i)

kích thích quá trình biệt hóa và định hình

tính đặc hiệu thụ thể (T cell receptor

-TCR) trên bề mặt TB lympho T trợ giúp

(helper T cell) thông qua kích thích quá

trình tăng sinh của TB trình diện kháng

nguyên Dendritic; ii) định hướng độc

tính của TB T gây độc (cytotoxic CD8

T lymphocyte) [1, 2], iii) ức chế quá trình

tạo mạch máu: một trong những thay đổi

căn bản của TB ung thư so với TB thông

thường cùng mô, đó là liên tục tham gia

phân bào, nhu cầu dinh dưỡng cao hơn

mức bình thường Vì thế, chúng tiết ra

các hormon làm tăng quá trình phát triển

của mạch máu tới khối u (angiogensis)

Cho đến nay, người ta biết rằng IL-12 là

một trong những cytokine ức chế quá

trình đó, do đó gián tiếp ức chế phát triển

khối u [2]

Gần đây, một khám phá quan trọng

liên quan đến tính chất sinh học của IL-12

đó là cytokine này có khả năng ức chế

quá trình phát triển của khối u trên mô

hình động vật thực nghiệm thiếu hụt miễn

dịch (nude mice) [3] Trên cơ sở các

nghiên cứu cơ bản, triển khai thử nghiệm

lâm sàng sử dụng protein tái tổ hợp IL-12

Tuy nhiên, độc tính của IL-12 rất mạnh,

thậm chí gây chết người [4], điều này làm

chậm quá trình triển khai ứng dụng IL-12

trong điều trị ung thư Để khắc phục độc

tính do IL-12 gây nên, một số thử nghiệm

kết hợp IL-12 với các cytokine khác như

2, interferon alpha, B7.1, 7, 21,

IL-15 [5], đặc biệt là IL-18 Bằng cách này,

độc tính của IL-12 giảm xuống mức gần

như không có [6], mang lại triển vọng cho

ứng dụng một trong các interleukine có

tính ức chế ung thư mạnh nhất IL-12 vào thử nghiệm lâm sàng tiếp theo Vì vậy, công nghệ sản xuất interleukine tái tổ hợp IL-12 không chỉ đem lại lợi ích cho việc phát triển các liệu pháp điều trị ung thư liên quan đến IL-12, mà còn có thể phối kết hợp sử dụng IL-12 với các interleukine tiềm năng khác như: IL-7, IL-15, IL-18, IL-21…

Do IL-12 được hợp thành từ hai tiểu phần mã hóa và hai gen khác nhau, việc tạo ra p70 với đầy đủ chức năng sinh lý phải được tiến hành trên hệ retrovirut cho phép biểu hiện đồng thời cả 2 tiểu phần p40/p35 Các nghiên cứu thường tạo ra IL-12 tái tổ hợp từ 2 ORF mã hóa tương ứng cho 2 tiểu phần p40, p35 nối với nhau bởi một linker peptide, hoặc tạo ra 2 đơn

vị mARN độc lập nằm xen kẽ một internal ribosome entry site (IRES) Ở phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi sẽ mô tả chi tiết việc hình thành chủng retrovirut mã hóa IL-12 cấu hình IL-12-p40/linker/ IL-12-p35

ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Vật liệu nghiên cứu

Dòng TB đóng gói PT-76, human embryonic kiney - HEK 293T do Nolan lab - Standford University phát triển và được Clone Tech (USA) cung cấp; bộ khung retrovirut plasmid pMXs-IP của Trường Đại học Toshio Kitamura - Tokyo, phần mềm Vector NTI và các vật tư sinh học phân tử khác

2 Phương pháp nghiên cứu

* Hệ retrovirut mã hóa IL-12 cấu hình IL-12-p40/linker/IL-12-p35:

Trang 3

72

Chiến lược thiết kế retrovirut plasmid

mang gen ghép IL-12 như sau: đoạn gen

mã hóa cho các cấu phần p35, p40 của

IL-12 được clon xen kẽ với một đoạn

ADN mã hóa cho một linker theo thiết kế

của Mulligan RC [7], chúng tôi bổ sung

thêm đoạn ADN mã hóa leader peptide

để đảm bảo protein sẽ được tiết ra môi trường, ngoài ra phần C terminal sẽ được

bổ sung đoạn mã hóa cho Tev - cleavage site và 6His tag, nhờ đó protein có thể được làm tinh sạch bằng kỹ thuật chelating

và proteolytic cleavage sử dụng Tev-cleavage proteolytic enzyme

Hình 1: Chiến lược thiết kế retrovirut plasmid mang gen ghép IL-12

* Tối ưu hóa các trình tự codon IL-12:

Dựa trên trình tự human IL-12 subunit

beta (UniProtKB: accession P29460) và

human IL-12 subunit alpha (UniProtKB:

accession P29459), kết hợp đoạn signal

peptid đầu 5’ (MCHQQLVISWFSLVF-

LASPLVA) và đoạn linker kết nối 2 tiểu phần

p40/35 (GGGGSGGGGSGGGGSRNLPV),

ngoài ra đầu 3’ của cấu hình IL-12-p40/

linker/IL-12-p35 được tích hợp đoạn ADN

mã hóa cho Tev-cleavage proteolytic site

(NQNLYFQG) và 6(His) tag 9 (HHHHHH),

từ đó hình thành nên chuỗi polypeptid

p40-linker-p35-His:

Trình tự polypeptid này được mã hóa bởi một ORF có kích thước 1.680 bp, có

vị trí cắt của enzyme EcoRI đầu 5’, trong khi đó đầu 3’ của cassette có thể bị cắt bởi XhoI

* Quy trình tạo chủng retrovirut mã hóa IL-12 cấu hình IL-12-p40/linker/IL-12-p35:

Retrovirut plasmid mang cấu hình IL-12- p40/linker/IL-12-p35 ®-îc t¨ng sinh b»ng

vi khuÈn E coli - DH5 alpha, thu ho¹ch

th«ng qua quy trình maxi-prep để có được các lô plasmid với nồng độ ≥ 200 ng/ul,

OD nằm trong khoảng 1,7 - 2,0

Trang 4

73

Chuyển retro-plasmid mang cấu hình

IL-12-p40/linker/IL-12-p35 vào TB human

embryonic kidney - HEK 293T bằng quy

trình kết tủa canxi hoặc sử dụng phương

pháp cationic - liposome mediated gen

transfer

500 ml dịch nổi từ TB 108Retro@

linkerIL-12 và TB đối chứng H293T được

thu nhận riêng rẽ cho mục đích tách ARN

tổng số Lượng ARN này sau đó sẽ được

dùng làm khuôn cho phản ứng tổng hợp

cADN

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Kiểm chứng thiết kế retrovirut

plasmid mang gen ghép IL-12

Thiết kế retrovirut plasmid mang gen

ghép IL-12 có đặc điểm là phần 5’ của

expression cassette có vị trí cắt của

enzyme E coRI, trong khi đó đầu 3’ của

cassette có thể bị cắt bởi XhoI và nếu kết

hợp cắt bằng cả 2 enzyme XhoI/EcoRI ta

sẽ được một insert 1.680 bp

Điều này được kiểm chứng bằng phản

ứng cắt enzyme cho kết quả như hình 1

Hình 1: Kiểm chứng thiết kế retrovirut

plasmid mang gen ghép IL-12 được cắt

bằng enzyme giới hạn

Đoạn insert được cắt bởi 2 enzyme XhoI/EcoRI cho kích thước điện di phù hợp với mong đợi 1.680 bp

2 Kiểm chứng sự có mặt của virut

mã hóa IL-12 trong dịch nổi TB đóng gói

Hình 2: Kết quả PCR điện di kiểm chứng

sự có mặt của ORF mã hóa IL-12-p40/linker/ IL-12-p35 từ dịch nổi TB.108Retro

@linkerIL-12

Để chắc chắn hơn, chúng tôi tiến hành

thu nhận dịch nổi TB 108Retro@linkerIL-12,

thực hiện phản ứng phiên mã ngược là khuôn cho phản ứng PCR với cặp mồi đặc hiệu cho IL-12

Giải trình tự đoạn 320 bp nhân lên từ cADN dịch nổi TB 108Retro@linkerIL-12

và thu được một đoạn đọc 189bp có phổ

sắc ký như hình 3 Sử dụng trình tự này

để blast (blast nucleotide against polypeptide - Translated BLAST), thu được kết quả độ tương đồng 100%

Trang 5

74

Hình 3: Kết quả translated BLAST với inquiry là trình tự băng PCR điện di từ c AND dịch nổi

TB 108Retro@linkerIL-12

Dòng TB 108Retro@linkerIL-12 do chúng tôi tạo ra thực sự đã bài tiết retrovirut particle mang

cấu hình IL-12-p40/linker/IL-12-p35

BÀN LUẬN

Cho đến nay, nhiều hệ biểu hiện gen đã

được triển khai để tạo protein IL-12 tái tổ

hợp, nhưng được sử dụng nhiều nhất chính

là hệ chuyển gen có nguồn gốc virut bao

gồm cả adenovirut và retrovirut Thông

thường, các plasmid có nguồn gốc

adenovirut không có khả năng tích hợp vào

hệ gen của TB vật chủ Nó chỉ tồn tại tự do

trong nhân và nồng độ sẽ giảm dần sau mỗi

chu kỳ phân bào Hơn nữa, do kích thước

các adenovirut vector thường rất lớn, sẽ khó

khi tích hợp ngẫu nhiên vào nhiễm sắc thể

của TB chủ Vì vậy, khó tạo được các dòng

TB ổn định cho biểu hiện một protein đích

thông qua các hệ chuyển gen

adenovirut và khó có thể sử dụng liệu pháp

gen cơ bản dựa trên hệ adenovirut cho sửa

đổi các đoạn gen lỗi Một yếu điểm khác nữa của adenovirut vector đó là nó thường gây các phản ứng miễn dịch rất mạnh, vì thế

dễ bị thải loại bởi hệ miễn dịch vật chủ Việc khó tích hợp ngẫu nhiên các phân tử adenovirut vào hệ gen của vật chủ, cũng đồng nghĩa với việc làm giảm các nguy cơ gây chuyển đoạn nhiễm sắc thể hay các biến đổi di truyền học của TB chủ, vì thế TB này sẽ ít bị chuyển dạng sang thể TB ác tính khi dung nạp virut Về lý thuyết, đây cũng là

lý do adenovirut được coi là phương tiện chuyển gen ít gây ung thư hơn so với retrovirut nếu sử dụng cho liệu pháp gen

So với adenovirut, khả năng tích hợp retrovirut vào hệ gen vật chủ tốt hơn rất nhiều, làm cho quá trình biểu hiện protein đích trở nên dễ dàng, mặt khác nó lại có thể

Trang 6

75

làm rối loạn khu vực nhiễm sắc thể được tích

hợp Trong trường hợp retrovirut tích hợp vào

các khu vực mã hóa cho gen chÑn ung th-

hoặc gen ung thư, làm thay đổi tính chất tự

nhiên của đối tượng này, khơi mào cho sự

chuyển dạng ác tính của TB vật chủ và vì

thế, trên lý thuyết, sẽ gây lo ngại về sự hình

thành các thể bệnh ung thư khi sử dụng

retrovirut cho các ứng dụng liệu pháp gen

Tuy nhiên, quan sát thử nghiệm lâm sàng

mới nhất vừa được công bố trên tạp chí

Science cho thấy không có trường hợp nào

được ghi nhận mắc bệnh sau khi sử dụng

liệu pháp gen có nguồn retrovirut [8] Đây

cũng là báo cáo thống kê đầu tiên ghi nhận

tính an toàn của retrovirut cho mục đích

chuyển gen Trong khi đó, các ứng dụng

khác như tạo protein tái tổ hợp ở TB nuôi

cấy, retrovirut có ưu thế hơn tất cả các hệ

biểu hiện gen và chuyển gen mà con người

ta đã biết trước đây với những lý do sau:

Thông thường, đoạn gen đích (ví dụ IL-12

ORF) sẽ được cài vào giữa 5’ long terminal

repeat (LTR) và 3’ long terminal repeat

(LTR) của một retrovirut plasmid, LTR khi đó

vừa đóng vai trò là một promoter điều hòa

biểu hiện của gen đích vừa là một insulator

bảo vệ gen đích không bị ảnh hưởng bởi bộ

máy phiên mã các gen kề bên Ngoài ra, quá

trình tích hợp của retrovirut plasmid vào hệ

gen của TB chủ sẽ không còn ngẫu nhiên,

nó diễn ra theo kiểu tái tổ hợp đồng dạng với

đích đến là các đảo retrotransposon của

nhiễm sắc thể Bằng cách này loại bỏ được

nguy cơ đoạn gen đích di chuyển đến các

khu vực nối tiếp hoặc khu vực sợi chromatin

dị hợp ngẫu nhiên (facultative heterochromatin) Vì vậy, gen bị bất hoạt biểu hiện Chính vì những tính ưu việt đó, chúng tôi đã tiến hành thiết lập hệ retrovirut biểu hiện IL-12 tái tổ hợp này tại Việt Nam

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu chúng tôi đã thiết lập thành công hệ retrovirut biểu hiện IL-12 mức

độ mARN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trinchieri G Interleukin-12 and the

regulation of innate resistance and adaptive

immunity Nat Rev Immunol 2003, 3 (2),

pp.133-146

2 Del Vecchio M et al Interleukin-12:

biological properties and clinical application Clin

Cancer Res 2007, 13 (16), pp.4677-4685

3 Eisenring M et al IL-12 initiates tumor

rejection via lymphoid tissue-inducer cells bearing the natural cytotoxicity receptor NKp46 Nat Immunol 2010, 11 (11), pp.1030-1038

4 Cohen J IL-12 deaths: explanation and a

puzzle Science 1995, 270 (5238), p.908

5 Weiss JM et al Immunotherapy of cancer by

IL-12-based cytokine combinations Expert Opin

Biol Ther 2007, 7 (11), pp.1705-1721

6 Rodriguez-Galan MC et al Coexpression of

IL-18 strongly attenuates IL-12-induced systemic toxicity through a rapid induction of IL-10 without

affecting its antitumor capacity J Immunol 2009,

183 (1), pp.740-748

7 Lieschke GJ et al Bioactive murine and

human interleukin-12 fusion proteins which retain antitumor activity in vivo Nat Biotechnol 1997, 15 (1), pp.35-40

8 Scholler J et al Decade-long safety and

function of retroviral-modified chimeric antigen

receptor T cells Sci Transl Med 2012, 4 (132),

pp.132-153

Ngày đăng: 22/01/2020, 17:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w