1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh hình thái vân môi qua hai phương pháp lấy mẫu

5 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 480,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu với mục tiêu nhằm phân loại và tính tỉ lệ các dạng vân môi từ hai phương pháp lấy mẫu, so sánh sự khác nhau của vân môi thu được từ hai phương pháp lấy mẫu. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

SO SÁNH HÌNH THÁI VÂN MÔI QUA HAI PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU

Võ Huỳnh Trang*, Lê Văn Cường**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Ngày nay vân môi trở thành dữ liệu sinh trắc học quan trọng để xác định cá thể người Tuy

nhiên, để lại hiện trường là dấu vân môi ẩn, khi so với vân môi nhìn trực tiếp trên vùng môi đỏ của người thì khác nhau như thế nào? Vì thế cần có nghiên cứu so sánh dấu vân môi này

Mục tiêu: Phân loại và tính tỉ lệ các dạng vân môi từ hai phương pháp lấy mẫu So sánh sự khác nhau của

vân môi thu được từ hai phương pháp lấy mẫu

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu vân môi của 150 sinh viên bằng hai cách lấy vân

môi: máy chụp hình kỹ thuật số và son môi

Kết quả: 96% ở KV5 và 96,7% ở KV8 có dạng rãnh chính trên dấu vân môi lấy bằng son môi ghi nhận

giống với hình vân môi chụp bằng máy chụp hình KTS 51,3% ở KV2 và 48,7% ở KV11 không đọc được rãnh vân môi 13/150 rãnh ngang ở KV11 và 2/29 củ môi ghi nhận được trên dấu vân môi lấy bằng son nhưng không

có trên hình chụp 4/31 củ môi, 1/14 xoắn môi, 2/2 nốt vàng có trên hình chụp nhưng không đọc được trên dấu vân môi lấy bằng son môi

Kết luận: Hơn 96% dạng rãnh chính ở các khu vực dễ để lại dấu vân môi ẩn của hai môi và hơn 93% củ

môi và xoắn môi đều đọc được chính xác từ dấu vân môi lấy bằng son môi Kết luận này góp phần củng cố thêm việc sử dụng vân môi để nhận dạng cá thể người

Từ khóa: Vân môi, son môi, máy chụp hình kỹ thuật số

ABSTRACT

COMPARISON OF LIP PRINT MORPHOLOGY COLLECED FROM TWO DIFFERENT METHODS

Vo Huynh Trang, Le Van Cuong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 144 - 148

Back ground:Lip prints has become an important data in biometry to identify the unique of an individual

However, latent lip prints left at the scene and collected directly from the participants are different, or not? Therefore, there should be more comprehensive research in lip prints

Objectives: Classify and calculate the proportion of types of the lip prints collected by the two methods

Compare the differences in types of lip prints collected by two methods

Subjects and Methods: Lip prints of 150 students were taken photograph by a digital camera and collected

by lip stick

Results: 96% in the 5 th area and 96.7% in the 8 th area have the main grooves on the lips taken by lip stick and digital camera are similar 51.3% in the 2 nd and 48.7% of the lip prints in the 11 th area are unreadable 13/150 wide grooves in the 11 th area and 2/21 tubercle of upper lip were identified on the lip prints by lip stick but not found by the camera 4/31 tubercle of upper lip, 1/14 whorls, 2/2 yellow nod were recognized on the lips by the

camera but not found by lip stick

Conclusion: More than 96% main grooves on the two lips are latent and more than 93% whorls and

tubercles of upper lip are fully recognizable on the lip prints collected by the lip stick method This conclusion

* Bộ môn Giải Phẫu - Trường ĐH Y Dược Cần Thơ ** Bộ môn Giải Phẫu học, Đại học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc: Ths Võ Huỳnh Trang ĐT: 0989576785, Email: vhtrang@ctump.edu.vn

Trang 2

contributes itself to use lip prints for personal recognition

Keyword: lip print, lip stick, digital camera

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong khoa học hình sự, xác định cá thể

người được dựa vào các đặc điểm nhân trắc

như: vân tay, nhóm máu, mô hình răng Trong

các trường hợp không còn đủ các bộ phận

như nạn nhân bị cắt mất tay, bỏng vân tay,

không có hồ sơ về răng thì việc xác định cá

thể gặp nhiều khó khăn(2,3) Vì thế mà gần 20

năm qua các nhà khoa học đã không ngừng tìm

kiếm ra nhiều phương pháp khác nhau giúp

phân biệt người này với người khác, trong đó có

vân môi

Vân môi được Fischer mô tảvào năm 1902,

đến năm 1930 thì ngành nhân chủng học mới

chấp nhận sự tồn tại của các nếp nhăn này,

nhưng không đề ra ứng dụng nào cho thực

tiễn(3) Đến năm 1950, lần đầu tiên vân môi

được Snyder(3) sử dụng để xác định cá thể

người Trong một nghiên cứu năm 1967, K

Suzuki(4) ghi nhận làdạng rãnh chứ không

phải nếp nhăn ở môi đỏ người, nên bà đặt tên

là “rãnh môi”, và “vân môi” là mô hình các

rãnh này trên môi người Từ đó nhiều công

trình nghiên cứu về vân môi ở nhiều nước

như: Đức, Nga, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Úc, Hàn

Quốc để xác nhận vân môi mang tính đặt

trưng cá thể và ứng dụng dùng vân môi xác

định tội phạm Tùy tác giả mà họ có cách lấy

dấu vân môi để nghiên cứu khác nhau, có tác

giả dùng máy lấy dấu vân tay để lấy dấu vân

môi, có tác giả dùng máy chụp hình y khoa để

chụp hình vân môi, có tác giả dùng bột từ

tính để làm tái hiện dấu vân môi ẩn, cũng có

tác giả sử dụng vật liệu lấy dấu răng để lấy

dấu vân môi Nhưng phương pháp lấy dấu

vân môi được nhiều người sử dụng nhất là

dùng son môi thoa lên vùng môi đỏ rồi lấy

dấu bằng cánh ngậm lên giấy trắng, in môi

lên giấy cô-tông hay băng keo trong

Ở Việt Nam, có một nghiên cứu của tác giả

Lê Văn Cường(1), 2005, lấy dấu vân môi của sinh

viên bằng son môi Một nghiên cứu của Võ

Huỳnh Trang(6), 2011, lấy vân môi bằng máy chụp hình kỹ thuật số, tác giả đã phân khu vực (KV) môi đỏ và xây dựng mô hình vân môi để đọc các dạng rãnh, kết quả vân môi của người dân vùng Đồng bằng sông Cửu Long được phân thành 8 dạng rãnh, ký hiệu bằng các số La

Mã từ I đến VIII

Phân khu vực môi đỏ Mô hình vân môi

I: rãnh dọc II: rãnh phân nhánh III: rãnh giao IV: rãnh lưới

V: rãnh sao VI: rãnh ngang VII: không qui tắc VIII: không rãnh

Củ môi Xoắn môi Nốt vàng

Vì môi đỏ có đặc điểm co dãn nhiều, nên cách lấy vân môi để nghiên cứu mà hạn chế thay

Trang 3

đổi rãnh môi là vấn đề mà các nhà nghiên cứu

cần quan tâm Với mong muốn bổ sung nhận

xét về cách lấy dấu vân môi khi nghiên cứu,

chúng tôi tiến hành đề tài “So sánh hình thái

vân môi qua hai phương pháp lấy mẫu”

Mục tiêu nghiên cứu

Phân loại và tính tỉ lệ các dạng vân môi từ

hai phương pháp lấy mẫu

So sánh sự khác nhau của dấu vân môi thu

được từ hai phương pháp lấy mẫu

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng

Công trình nghiên cứu trên 150 sinh viên Y

thuộc Trường Đại học Y Dược Cần Thơ đang

thực tập tại Bộ môn Giải phẫu

Phương pháp nghiên cứu

Lấy dấu vân môi của đối tượng nghiên cứu

bằng hai phương pháp:

Phương pháp 1: chụp hình vân môi bằng

máy chụp hình kỹ thuật số Casino 7.1MP Quan

sát vân môi chụp được phóng đại trên màn hình

máy vi tính

Phương pháp 2: Dùng son môi Lancôme

thoa lên môi đỏ, sau đó cho sinh viên ngậm môi

nhẹ nhàng lên giấy A4 gấp đôi từ 4 - 6 lần để in

dấu vân Chụp hình dấu vân môi trên giấy trắng

để lưu trữ và phóng to trên màn hình vi tính khi

khảo sát

Ghi nhận rãnh vân môi ở các khu vực môi

đỏ theo 8 dạng rãnh của Võ Huỳnh Trang theo

từng phương pháp và tính tỉ lệ các dạng rãnh

So sánh hai mẫu vân môi của từng đối

tượng với nhau để khảo sát sự khác biệt

KẾT QUẢ

Qua khảo sát vân môi của 150 sinh viên Y

của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ bằng hai

phương pháp, chúng tôi có kết quả như sau:

Phân loại và tỉ lệ vân môi theo phương

pháp 1

Rãnh vân môi được ghi nhận theo 8 dạng ở

các khu vực dễ nhìn thấy được là 2, 5, 8, 11:

Bảng 1: Tỉ lệ các dạng vân môi ở khu vực 2, 5, 8, 11

khi lấy bằng máy chụp hình KTS

Dạng vân môi

Khu vực

Khu vực

11

N % N % N % N % Dạng I 86 57,3 113 75,0 29 19,3 39 26,0 Dạng II 51 34,0 23 15,3 44 29,3 18 12,0 Dạng III 13 8,7 12 8,0 10 6,7 22 14,6 Dạng IV 0 0 0 0 61 40,7 69 46,0 Dạng V 0 0 0 0 5 3,3 1 0,7 Dạng VI 0 0 0 0 0 0 0 0 Dạng VII 0 0 0 0 0 0 0 0 Dạng VIII 0 0 2 1,3 1 0,7 1 0,7 Tổng 150 100 150 100 150 100 150 100

Chiếm tỉ lệ cao nhất ở khu vực 5 và 8 là dạng

I, ở khu vực 2 và 11 là dạng IV

Bảng 2: Tỉ lệ các cấu trúc đi kèm với vân môi khi lấy

bằng my chụp hình KTS

Cấu trúc Kết quả

N Tỉ lệ (%) N Tỉ lệ (%) N Tỉ lệ (%)

Có 31 21,0 14 9,4 1 1,3 Không 119 79,0 136 90,6 149 98,7 Tổng 150 100 150 100 150 100

Phân loại và tỉ lệ vân môi theo phương

pháp 2

Bảng 3: Tỉ lệ các dạng vân môi ở vùng 2, 5, 8, 11 khi

lấy bằng son môi

Dạng vân môi

11

N % N % N % N % Không đọc

được 0 0 0 0 77 51,3 73 48,7 Dạng I 92 61,3 118 78,7 12 8,0 27 18,0 Dạng II 45 30,0 18 12,0 20 13,3 9 6,0 Dạng III 13 8,7 12 8,0 10 6,7 22 14,6 Dạng IV 0 0 0 0 31 20,7 5 3,3 Dạng V 0 0 0 0 0 0 0 0 Dạng VI 0 0 0 0 0 0 13 8,7 Dạng VII 0 0 0 0 0 0 0 0 Dạng VIII 0 0 2 1,3 0 0 0 0 Tổng 150 100 150 100 150 100 150 100

Chiếm tỉ lệ cao nhất ở khu vực 5 và 8 là dạng

I, ở khu vực 2 là dạng IV và khu vực 11 là dạng III

Bảng 4: Tỉ lệ các cấu trúc đi kèm với vân môi khi lấy

bằng son môi

Trang 4

Kết quả N Tỉ lệ (%) N Tỉ lệ (%) N Tỉ lệ

(%)

Có 29 19,0 13 8,7 0 0

Không 121 81,0 137 91,3 150 100

Tổng 150 100 150 100 150 100

BÀN LUẬN

Khi khảo sát vân môi bằng hình chụp của

máy KTS, chúng tôi có hình ảnh vân môi trực

tiếp không bị thay đổi do tác động của cách

lấy mẫu, nên vân môi này được xem là vân

môi chuẩn của mẫu Khi lấy vân môi bằng son

môi (vân môi gián tiếp), dù ít hay nhiều đều

có tác dụng của lực khi ngậm vào giấy trắng,

nên kết quả đọc vân môi sẽ được so sách với

hình KTS xem thay đổi như thế nào Ở đây

chúng tôi chỉ so sánh dạng rãnh chính ở bốn

KV dễ nhìn thấy và dễ để lại dấu vân môi

nhất là KV 2, 5, 8, 11

Bảng 5: So sánh tỉ lệ các dạng vân môi giữa hai

phương pháp lấy vân môi ở KV 5, 8, 2 và11

Dạng

vân môi

Khu vực 5

(%)

Khu vực 8 (%)

Khu vực 2 (%)

Khu vực 11 (%)

KTS Son KTS Son KTS Son KTS Son

Không

đọc được 0 0 0 0 0 51,3 0 48,7

Dạng I 57,3 61,3 75,0 78,7 19,3 8,0 26,0 18,0

Dạng II 34,0 30,0 15,3 12,0 29,3 13,3 12,0 6,0

Dạng III 8,7 8,7 8,0 8,0 6,7 6,7 14,6 14,6

Dạng IV 0 0 0 0 40,7 20,7 46,0 3,3

Dạng V 0 0 0 0 3,3 0 0,7 0

Dạng VI 0 0 0 0 0 0 0 8,7

Dạng VII 0 0 0 0 0 0 0 0

Dạng VIII 0 0 1,3 1,3 0,7 0 0,7 0

Ở khu vực 5: cả hai cách lấy mẫu đều cho

dạng I có tỉ lệ cao nhất, dạng II kế tiếp và cuối

cùng là dạng III, các dạng khác không xuất

hiện trong mẫu Nhưng khi so sánh hai vân

môi từ hai phương pháp trên cùng đối tượng,

chúng tôi thấy rằng có 6/150 (4%) vân môi

dạng II (hình KTS) được ghi nhận thành dạng

I (dấu son vân môi), còn lại 96% thì đọc kết

quả giống nhau ở hai phương pháp Với 8,7%

vân môi dạng III thì ghi nhận đúng 100%

Ở khu vực 8: cả hai cách lấy mẫu đều ghi

nhận dạng I chiếm cao nhất, tiếp theo là dạng

II với tỉ lệ khác nhau, còn dạng III thì tỉ lệ bằng nhau ở hai phương pháp Khi so sánh hai vân môi từ hai phương pháp trên mỗi đối tượng, cũng như ở khu vực 5, chúng tôi ghi nhận có 5/150 (3,3%) vân môi dạng II (hình KTS) được ghi nhận thành dạng I (dấu son vân môi), tức là có 96,7% kết quả vân môi của hai phương pháp giống nhau Với 8,0% vân dạng III thì cũng ghi nhận đúng 100%

Đối với khu vực 2 và khu vực 11 là những khu vực ngoại biên vùng giữa của môi trên và môi dưới, chúng tôi thấy chỉ khoảng 50% trường hợp (51,3% KV2 và 48,7% KV11) dạng vân ở các KV này có thể in được lên giấy Và khi in được dấu vân môi lên giấy trắng thì ở

cả hai KV đều chỉ có 41% (61/150 ở khu vực 2

và 62/150 ở khu vực 11) kết quả đọc giống nhau ở hai phương pháp

Ở khu vực 11: có 13/150 trường hợp (8,7%) dạng VI có rãnh ngang ở KV11 khi đọc trên mẫu vân môi lấy bằng son môi, nhưng lại là dạng IV lưới rãnh khi quan sát trên hình chụp bằng máy KTS Trong nghiên cứu của tác giả

Lê Văn Cường năm 2005, cũng lấy vân môi bằng son môi ở 220 sinh viên của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, ghi nhận 13,6% có rãnh ngang ở bờ ngoài môi Trong khi đó, một nghiên cứu khác về vân môi của chúng tôi trên 1618 người dân ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng máy chụp hình KTS thì tỉ lệ xuất hiện rãnh ngang ở khu vực này rất thấp chỉ 1,1% Sự khác biệt này theo chúng tôi có thể là do khi ngậm môi lên giấy trắng, dù rất nhẹ nhàng nhưng cũng có thể làm thay đổi ít nhiều rãnh vân môi, đặc biệt trong mẫu này là những rãnh dọc của dạng IV lưới rãnh biến mất chỉ còn lại rãnh ngang của dạng lưới rãnh in trên giấy

Bảng 6: So sánh các cấu trúc đi kèm vân môi giữa hai

phương pháp lấy vân môi

Cấu trúc Phương pháp

N (%) N (%) N (%) KTS 31 21,0 14 9,3 2 1,3 Son môi 29 19,0 13 8,7 0 0

Trang 5

Củ môi: 21% có củ môi trên hình chụp KTS,

nhưng chỉ 19% có củ môi ghi nhận trên mẫu vân

môi lấy bằng son môi Trong đó 27/29 (93%) củ

môi trên dấu vân môi lấy bằng son môi trùng

khớp với củ môi có trên hình chụp KTS, chỉ 2/29

trường hợp ghi nhận có củ môi nhưng lại không

có trên hình chụp Và có 4/31 trường hợp có củ

môi nhỏ trên hình chụp KTS, nhưng không thấy

được củ môi trên dấu vân môi lấy bằng son môi

Xoắn môi: 13/13 xoắn môi ở dạng hai xoắn

hai bên môi dưới được ghi nhận trên mẫu vân

môi lấy bằng son môi, và tất cả đều trùng khớp

với xoắn môi trên hình chụp KTS Nhưng có

1/14 trường hợp (7,1%) trên hình chụp KTS thấy

hai xoắn môi dưới, nhưng với vân môi lấy bằng

son môi thì không ghi nhận được

Nốt vàng: Trong mẫu nghiên cứu có 2/150

môi đỏ có vài nốt vàng nằm rải rác ở môi trên và

không in dấu khi lấy vân môi bằng son môi

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu vân môi của 150 sinh viên Y

của Trường Đại học Y Dược Cần Thơ bằng máy

chụp hình KTS và son môi, chúng tôi có kết quả

như sau:

96% ở khu vực 5 và 96,7% ở khu vực 8 có

dạng rãnh chính trên dấu vân môi lấy bằng son

môi ghi nhận giống với hình vân môi chụp bằng

máy chụp hình KTS

51,3% ở khu vực 2 và 48,7% ở khu vực 11 không đọc được rãnh vân môi

8,7% (13/150) rãnh ngang ở khu vực 11 ghi nhận được trên dấu vân môi lấy bằng son nhưng không có trên hình chụp

Cấu trúc đi kèm

Củ môi: 93% củ môi trên dấu vân môi lấy bằng son môi trùng khớp với củ môi có trên hình chụp KTS

Xoắn môi: 92,9% xoắn môi ở dạng hai xoắn hai bên môi dưới được ghi nhận trên mẫu vân môi lấy bằng son môi và trùng khớp với xoắn môi trên hình chụp KTS

Nốt vàng: có 2/150 môi đỏ có vài nốt vàng nằm rải rác ở môi trên và không in dấu khi lấy vân môi bằng son môi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Học Y Dược TP Hồ Chí Minh” Y Học TP Hồ Chí Minh, Hội nghị Khoa học Kỹ thuật lần thứ 22, chuyên đề Y học cơ sở Nhà xuất bản Y học, phụ bản số 1, tập 9, 2005, tr: 1 - 5

identification”, J Leg Med, Int Microform., pp: 2

III, pp: 65

of personal identification by means of lip print”, Journal of the Indian Dental Association, 42 (1), pp: 8 - 9

means of lip prints” Forensic Science, 3 (3), pp: 233 - 248

Việt, Khmer, Chăm vùng ĐB sông Cửu Long” Luận án Tiến sĩ

Y học, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Ngày đăng: 22/01/2020, 17:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm