1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Làm dày dính màng phổi bằng bột TALC trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát tái phát

8 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 238,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ tháng 01/2002 đến 03/2004, 124 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát tái phát nhập viện tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và được bơm bột talc làm dày dính màng phổi qua ống dẫn lưu màng phổi. Có 110 nam và 14 nữ. Tỉ lệ mắc bệnh giữa nam:nữ là 7,86:1. Lứa tuổi thường gặp nhất là trên 40 tuổi (74,19%). Tuổi trung bình là 52,6 (từ 17 - 85 tuổi). 84 trường hợp có tiền căn bệnh lý phổi cơ bản (lao phổi cũ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính) và 36 trường hợp không có tiền bệnh lý phổi cơ bản.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

LÀM DÀY DÍNH MÀNG PHỔI BẰNG BỘT TALC TRONG ĐIỀU TRỊ TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT TÁI PHÁT

Ngô Thanh Bình*, Phạm Long Trung*

TÓM TẮT

Từ tháng 01/2002 đến 03/2004, 124 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát tái phát nhập viện tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch và được bơm bột talc làm dày dính màng phổi qua ống dẫn lưu màng phổi Có 110 nam và 14 nữ Tỉ lệ mắc bệnh giữa nam:nữ là 7,86:1 Lứa tuổi thường gặp nhất là trên 40 tuổi (74,19%) Tuổi trung bình là 52,6 (từ 17 – 85 tuổi) 84 trường hợp có tiền căn bệnh lý phổi cơ bản (lao phổi cũ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính) và 36 trường hợp không có tiền bệnh lý phổi cơ bản Đa số các trường hợp nhập viện vì khó thở (100%) và đau ngực (98,39%) Tất cả trường hợp đều được xác định bằng chụp X-quang phổi thẳng sau-trước Có 109 trường hợp (87,9%) tràn khí màng phổi lượng nhiều 123 trường hợp (99,19%) xảy ra ở một bên phổi Tràn khí màng phổi bên phải gặp nhiều hơn bên trái (60,48%

so với 30,71%) Tỉ lệ thành công của bơm talc màng phổi là 96,77% (120 trường hợp) vớiø thời gian trung bình lưu ống dẫn lưu sau bơm talc màng phổi là 2,94 ngày (giới hạn từ 1 – 26 ngày) Hai biến chứng sớm là đau ngực cấp (55,65%) và sốt (15,33%) xảy ra ngay trong vòng 4 giờ đầu tiên sau bơm talc màng phổi, và đáp ứng nhanh với paracetamol trong vòng 3 – 5 ngày Sau thời gian theo dõi từ 6 – 30 tháng, có 10/120 trường hợp tái phát (8,06%), xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân có tiền căn bệnh lý phổi cơ bản (p= 0,00148)

SUMMARY

PLEURODESIS BY TALC POWDER IN THE TREATMENT OF RECURRENT

SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX

Ngo Thanh Binh, Pham Long Trung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 231 – 238

From 01/2002 to 03/2004, 124 cases of recurrent spontaneous pneumothorax were admited at Pham Ngoc Thach Hospital and performed instillation of talc for pleurodesis through drainage chest tube There were 110 male and 14 female patients The incidence ratio of male:femal was 7,86:1 Recurrent spontaneous pneumothorax often occurred above age of 40 (74,19%) The average age was 52,6 (range,

17 to 85) 84 cases had spontaneous pneumothorax associated with underlying lung disease (previous tuberculosis, chronic obstructive pulmonary disease) and 36 cases without underlying lung disease Most

of them were suffered from respiratory failure (100%) and chest pain (98,39%) All cases were determined by standard posterioanterior chest X-rays There were 109 cases of large spontaneous pneumothorax (87,9%) 123 cases took place at an unilateral lung (99,19%) Spontaneous pneumothorax occurred more in right side than left side (60,48% versus 30,71%) 120 cases of recurrent spontaneous pneumothorax (96,77%) were treated successfully by talc pleurodesis with an average duration of 2,94 days (range, 1 to 26) after instillation of talc Two early complicated symptoms were acute chest pain (55,65%) and fever (15,33%) immediately in first four hours after instillation of talc and were fastly relieved by paracetamol in 3 – 5 days A follow-up period of 6 – 30 months after talc pleurodesis, there were 10/120 cases with recurrent pneumothorax (8,04%), occurred typically in patients with underlying lung disease (p= 0,00148)

Trang 2

khí tràn vào khoang màng phổi gây xẹp một phần

hay toàn bộ nhu mô phổi, mà nguyên nhân có thể do

nguyên phát (không tìm thấy bệnh lý ở phổi) hoặc do

thứ phát (xảy ra sau một bệnh lý cơ bản ở

phổi)(1,4,6,8,10,13) Tính chất của tràn khí màng phổi tự

phát thường dễ tái phát (23 – 50%) sau lần bị tràn khí

màng phổi đầu tiên và tỉ lệ tái phát ở những lần tiếp

theo sẽ cao hơn(15,19) Vì vậy, đã có nhiều phương pháp

điều trị tràn khí màng phổi tự phát tái phát như dùng

hóa chất làm dày dính màng phổi, làm dày dính

màng phổi qua nội soi lồng ngực hoặc phẫu thuật cắt

màng phổi hoặc làm trầy xước màng phổi chủ

động )(1,4,5,(6,8,9,10,13,14) Trong suốt nhiều thập kỷ qua,

nhiều hóa chất đã được nghiên cứu như thuốc kháng

sinh (Tetracyclines, Minocycline, Doxycycline),

thuốc kháng sốt rét (Quinacrine, Mepacrine), thuốc

kháng ung thư (Bleomycin, Mitomicin ), Trong

đó, bột talc (dùng dưới dạng phun hoặc dưới dạng

dung dịch bơm vào khoang màng phổi) được ưa

chuộng nhất hiện nay trong điều trị tràn khí màng

phổi tự phát tái phát vì hiệu quả, kinh tế, sẵn có và ít

tác dụng phụ nhất(1,6,13,14,17,20,24)

Trong y văn(21,22,27), bột talc được điều chế từ

những mỏ đá lộ thiên, và có nhiều ứng dụng trong

công nghiệp như là chất bôi trơn, chất hấp thu,

chất lọc Đồng thời, bột talc cũng có nhiều ứng

dụng trong ngành y tế như là thành phần trong

các mỹ phẩm, dược phẩm, Bột talc được dùng

trong y tế thì tương đối tinh khiết (90%) và an toàn

trong điều trị Ở nhiều nước trên thế giới, bột talc

đã và đang được nghiên cứu nhiều trong điều trị

một số các bệnh lý màng phổi, trong đó có tràn khí

màng phổi tự phát tái phát Tại Việt nam, chưa có

nhiều nghiên cứu rõ ràng làm nổi bật vai trò ứng

dụng của bột talc trong điều trị tràn khí màng phổi

tự phát Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu để

xác định hiệu quả điều trị và độ an toàn của bột

talc dùng làm dày dính màng phổi trong điều trị

tràn khí màng phổi tự phát tái phát nhằm tránh

nguy cơ tái phát tràn khí màng phổi sau này

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát tái phát từ lần thứ nhất trở lên đã được đặt ống dẫn lưu màng phổi trong lần nhập viện này sẽ được bơm bột talc qua ống dẫn lưu màng phổi để làm dày dính màng phổi từ 01/2002 đến 03/2004 tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

Loại hình nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang phân tích

Phương pháp tiến hành nghiên cứu:

Chuẩn bị bệnh nhân và dung dịch talc trước khi tiến hành bơm vào khoang màng phổi

• Giải thích cho bệnh nhân rõ ràng về tình trạng bệnh và phương pháp điều trị

• Đo dấu hiệu sinh tồn (tri giác, mạch, huyết áp, nhịp thở, nhiệt độ)

• Chụp X-quang phổi thẳng kiểm tra và lấy khí máu động mạch

• Tiền mê (tiêm dưới da 0,25 – 0,5 mg Atropin; và uống 5 – 10 mg Diazepam) 30 – 60 phút trước khi thực hiện thủ thuật

• Bột talc được sử dụng có nguồn gốc sản xuất từ Pháp có độ tinh khiết cao, không chứa amiăng, được dùng trong ngành y tế Liều dùng để bơm talc làm dày dính màng phổi là 2g, được tiệt trùng ở nhiệt độ cao 1360C trong 6 – 8 giờ, sau đó pha loãng với 50 ml nước muối sinh lý vô trùng thành dung dịch talc

Các bước tiến hành bơm dung dịch talc vào khoang màng phổi

• Sau khi nhu mô phổi nở hoàn toàn, bệnh nhân được tiêm 150 - 200 mg lidocaine qua ống dẫn lưu vào trong khoang màng phổi trước

• 15 phút sau, bơm từ từ 50 ml dung dịch talc qua ống dẫn lưu vào khoang màng phổi

• Kẹp ống dẫn lưu khoảng 1 – 2 giờ, chỉ dẫn bệnh

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

nhân xoay đổi tư thế để dung dịch talc tráng đều

khắp bề mặt màng phổi

• Sau đó mở ống dẫn lưu trong 24 giờ

Các bước theo dõi sau bơm talc làm dày

dính màng phổi

• Ghi nhận các dấu hiệu của biến chứng sớm (đau

ngực, sốt, ho, khó thở), và dấu hiệu sinh tồn (tri

giác, mạch, huyết áp, nhịp thở, nhiệt độ) ngay

sau khi thực hiện thủ thuật, và các thời điểm kế

tiếp vòng 4 giờ, 12 giờ, 24 giờ, 48 giờ, 72 giờ và

trên 72 giờ nếu thấy cần

• Theo dõi hoạt động của ống dẫn lưu, chụp

X-quang phổi và đo khí máu kiểm tra 24 giờ sau

Nếu nhu mô phổi nở hoàn toàn, ống dẫn lưu

ngưng hoạt động thì rút ống dẫn lưu

• 24 giờ sau, kiểm tra lâm sàng, X-quang phổi,

nếu tiến triển thuận lợi thì cho bệnh nhân xuất

viện

• Nếu 7 – 14 ngày sau khi bơm bột talc màng

phổi, ống dẫn lưu vẫn còn thoát khí thì xem như

thủ thuật này thất bại cần phải chuyển sang

dùng phương pháp điều trị khác Tuy nhiên việc

kéo dài thời gian lưu ống dẫn lưu sau bơm talc

còn tùy thuộc vào tổng trạng bệnh nhân

Thống kê và xử lý số liệu

Dùng phần mềm EXCEL 2000, STATA version

6.0 để nhập, quản lý và xử lý số liệu Các biến số được

phân tích bằng các test thống kê thích hợp, giá trị P

< 0,05 được đánh giá là có ý nghĩa thống kê Các mối

liên quan được xem xét bằng chỉ số nguy cơ tương đối

(RR: Relative Risk) với độ tin cậy 95%

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2002 đến

03/2004, tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, chúng tôi

ghi nhận có 124 trường hợp tràn khí màng phổi tự

phát tái phát từ lần thứ nhất trở lên đã được đặt ống

dẫn lưu màng phổi trong lần nhập viện này và được

bơm bột talc qua ống dẫn lưu màng phổi

Đặc điểm dịch tễ học

Trong 124 trường hợp tràn khí màng phổi tự

phát tái phát, có 110 trường hợp (88,7%) là nam giới,

14 trường hợp (11,3%) là nữ giới Tỉ lệ mắc bệnh nam:nữ là 7,86:1 Tuổi trung bình là 52,6 Tuổi lớn nhất là 85 và tuổi nhỏ nhất là 17

Bảng 1: Phân bố lứa tuổi

Lứa tuổi Số trường hợp (%)

< 40 tuổi 32 25,81%

41 – 60 tuổi 36 29,03%

> 60 tuổi 56 45,16% Có 73 trường hợp (58,87%) cư ngụ tại thành phố Hồ Chí Minh, 50 trường hợp (40,32%) ở các tỉnh khác, và 1 trường hợp (0,81%) cư ngụ tại Campuchia Về nghề nghiệp, có 66 trường hợp (53,23%) mất sức lao động hoặc không có nghề nghiệp; 22 trường hợp (17,74%) làm tài xế lái xe tải, xe khách, xe honda ôm ; 19 trường hợp (15,32%) lao động chân tay; 17 trường hợp (13,71%) lao động trí óc

Về thói quen hút thuốc lá, trong 124 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát tái phát có

• 30 trường hợp (24,19%) không hút thuốc,

• 27 trường hợp (21,77%) hút thuốc lá từ 1 – 20 gói/năm,

• 67 trường hợp (53,03%) hút thuốc lá > 20 gói/năm (chiếm tỉ lệ nhiều nhất)

Bảng 2: Tiền căn bệnh lý phổi cơ bản

Tiền căn bệnh lý phổi Số trường hợp (%)

Lao phổi đã điều trị khỏi 63 50,81% Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 21 16,94% Không có bệnh lý phổi 36 32,26%

Bảng 3: Mối liên quan giữa lứa tuổi và tiền căn bệnh

lý phổi (p=0,0357) (Fisher’s exact test)

Tiền căn bệnh lý phổi (N=124) Lứa tuổi

Bệnh lý phổi

cơ bản

Không có bệnh lý phổi

RR 95%CI

> 40 tuổi 78 14

5,27 1,34-8,21

Trang 4

Thời gian khởi bệnh Số trường hợp (%)

< 3 ngày 88 70,97%

3 – 9 ngày 25 20,16%

Bảng 5: Triệu chứng lâm sàng lúc nhập viện

Triệu chứng lâm sàng Số trường hợp (%)

Đau ngực 122 98,39%

Ho khan và Ho khạc đàm 59 47,62%

Bảng 6: Các dạng tổn thương trên X-quang phổi

Các dạng tổn thương trên X-quang

phổi

Số trường hợp (%)

Tràn khí màng phổi 124 100%

Xẹp phổi 124 100%

Xơ mô kẽ phổi 83 66,94%

Khí phế thũng 64 51,61%

Bảng 7: Vị trí và mức độ tràn khí màng phổi trên

X-quang phổi

Vị trí và mức độ tràn khí

màng phổi

Số trường hợp

(%)

Bên trái 48 30,71%

Bên phải 75 60,48%

Vị trí tràn khí màng phổi

Hai bên 1 0,81%

Lượng ít 15 12,1%

Mức độ tràn khí màng phổi

Lượng nhiều 109 87,9%

Kết quả điều trị, theo dõi và tỉ lệ tái phát:

Bảng 8: Kết quả bơm bột talc màng phổi

Kết quả bơm bột talc màng

phổi

Số trường hợp (N=124)

(%)

Thành công 120 96,77%

Trong 4 trường hợp thất bại, có 1 trường hợp xin

về sau khi đã bơm talc màng phổi được một ngày

không theo dõi được (đây là bệnh nhân nam, mắc

bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính từ nhiều năm nay và

đã một lần tràn khí màng phổi) và 3 trường hợp bơm

talc màng phổi thất bại, được chuyển sang phương

pháp phẫu thuật làm dày dính màng phổi (2 bệnh

nhân nam có tiền căn lao phổi đã điều trị khỏi, và 1

Bảng 9: Thời gian lưu ống dẫn lưu bơm bột talc màng

phổi

Thời gian lưu ống dẫn lưu Số trường hợp

(N=120)

(%)

> 3 ngày 27 22,5% Thời gian lưu ống dẫn lưu sau bơm talc màng phổi là từ 1 ngày (65 trường hợp) đến 26 ngày (1 trường hợp) Có 6 trường hợp (5%) có thời gian lưu ống dẫn lưu sau bơm talc màng phổi trên 7 ngày Thời gian trung bình lưu ống dẫn lưu sau bơm talc màng phổi là2,94 ngày

Bảng 10: Biến chứng sau bơm bột talc màng phổi

Biến chứng sau bơm bột talc màng

phổi

Số trường hợp (%)

Sốt đơn thuần 1 0,81% Sốt và đau ngực 18 14,52% Đau ngực đơn thuần 51 41,13%

• Trong 18 trường hợp sốt và đau ngực đều xảy ra ngay trong vòng 4 giờ sau khi bơm talc, và 16/18 trường hợp đáp ứng tốt với thuốc giảm đau, hạ sốt trong vòng dưới 3 ngày, chỉ có 2/18 trường hợp sốt và đau ngực kéo dài trong vòng 5 ngày

• Trong 51 trường hợp đau ngực đơn thuần đều xảy ra ngay trong vòng 4 giờ sau khi bơm talc, và 23/51 trường hợp đáp ứng tốt với thuốc giảm đau trong vòng dưới 3 ngày, 19/51 trường hợp kéo dài trong vòng 5 ngày và 9/51 trường hợp kéo dài trong vòng 7 ngày

• Trong 69 trường hợp đau ngực, chỉ có 6 trường hợp (chiếm 4,84%) là đau ngực nhiều phải dùng kết hợp thuốc giảm đau và thuốc an thần (5 – 10

mg diazepam)

• Trong 29 trường hợp xuất hiện từng cơn ho khan đều xảy ra trong khoảng thời gian 4 – 12 giờ sau bơm talc màng phổi và đều đáp ứng tốt với thuốc giảm ho trong vòng 3 ngày

• Không ghi nhận trường hợp nào suy hô hấp cấp,

Trang 5

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

hạ huyết áp, hạ oxy máu, mủ màng phổi xảy ra

sau bơm bột talc màng phổi

Số trường hợp theo dõi từ 6 tháng đến

30 tháng

Trong 120 trường hợp theo dõi có 10 trường hợp

tái phát (8,06%), trong đó 8 trường hợp tái phát có

tiền căn bệnh lý phổi cơ bản (lao phổi cũ và bệnh

phổi tắc nghẽn mạn tính và trên X-quang phổi đều

có hình ảnh khí phế thũng ở hai bên) và 2 trường

hợp tái phát không có tiền căn bệnh lý phổi

Mối liên quan giữa tiền căn bệnh lý

phổi với kết quả bơm bột talc màng

phổi

Bảng 11: Mối liên quan giữa tiền căn bệnh lý phổi và

kết quả bơm bột talc màng phổi

Kết quả bơm talc màng phổi (N=124)

Tiền căn bệnh

lý phổi

Thành công Thất bại

RR 95%CI

P

Có bệnh lý phổi 81 3

Không có bệnh

lý phổi

39 1

1,54 0,678-8,45 0,852

Bảng 12: Mối liên quan giữa tiền căn bệnh lý phổi và

thời gian lưu ống dẫn lưu sau khi bơm bột talc màng

phổi (p= 0,0144) (Fisher’s exact test)

Thời gian lưu ống dẫn lưu

(N=120)

Tiền căn bệnh lý

phổi

> 3 ngày 3 ngày

RR 95%CI

Có bệnh lý phổi 21 60

Không có bệnh lý

phổi

6 33

2,47 1,39 – 7,43

Bảng 13: Mối liên quan giữa tiền căn bệnh lý phổi và

khả năng tái phát sau bơm bột talc màng phổi (p=

0,00148) (Fisher’s exact test)

Khả năng tái phát (N=120) Tiền căn bệnh lý phổi

Tái phát Không tái phát

RR 95%CI

Có hình ảnh bệnh lý phổi 8 73

Không có hình ảnh bệnh

lý phổi

2 37

2, 027 3,55 – 14,29

BÀN LUẬN

Về dịch tễ học

Chúng tôi ghi nhận 124 trường hợp tràn khí

màng phổi tự phát tái phát xảy ra chủ yếu ở nam giới

nhiều hơn nữ giới (88,7% so với 11,3%), điều này cũng phù hợp với trong y văn(6,10,13,18,19) Tỉ lệ giữa nam: nữ là 7,86:1 So sánh với các nghiên cứu khác như ở Singapore là 15:1 (Chan T B et al(18)), ở Mỹ là 3,2-6:1 (Melton L J III et al(19))

Bệnh nhân có tiền căn bệnh lý phổi cơ bản (lao phổi cũ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính) dễ bị tràn khí màng phổi tái phát lần này nhiều hơn so với không có tiền căn bệnh lý phổi (84 trường hợp (67,74%) so với 36 trường hợp (32,26%)) Đồng thời,

tỉ lệ tràn khí màng phổi tự phát xảy ra chủ yếu là lứa tuổi trên 40 chiếm 92/124 trường hợp (74,19%) và tuổi trung bình là 52,6 (bảng 1) Nghiên cứu của chúng tôi có sự khác biệt về lứa tuổi so với các tác giả khác, chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi dưới 40(6,10,13) Điều này có thể lý giải trong kết quả nghiên cứu ở bảng 5, lứa tuổi có liên quan ý nghĩa thống kê với bệnh lý phổi cơ

bản (p=0,0357 < 0,05) và nguy cơ tràn khí màng

phổi tự phát tái phát xảy ra ở bệnh nhân có tiền căn bệnh lý phổi gặp nhiều ở lứa tuổi trên 40 gấp 5,27 lần

so với dưới 40 tuổi (RR=5,27; 95%CI:1,34-8,21)

Về biểu hiện lâm sàng

Đa số các trường hợp nhập viện vì khó thở (100%) và đau ngực (98,39%), một số trường hợp có thể kèm ho khan hoặc ho khạc đàm, với thời gian từ lúc xuất hiện triệu chứng cho đến khi nhập viện dưới

3 ngày (70,97%) Điều này cũng phù hợp với y văn(1,10,13) Tất cả các trường hợp đều được chẩn đoán xác định tràn khí màng phổi bằng chụp X-quang phổi thẳng sau-trước qui ước Chưa có trường hợp nào phải cần sự hỗ trợ thêm của X-quang phổi nghiêng hoặc

CT can lồng ngực Tuy nhiên, trong y văn(1), ghi nhận có gần 14 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát cần sự hỗ trợ của X-quang phổi nghiêng để giúp chẩn đoán Trong đó, tràn khí màng phổi lượng nhiều gặp nhiều hơn tràn khí màng phổi lượng ít (87,9% so với 12,1%) và hầu hết là tràn khí màng phổi một bên (123 trường hợp; 99,19%), chỉ có 1 trường hợp (0,81%) xảy ra hai bên Tràn khí màng phổi bên phải gặp nhiều hơn bên trái (60,48% so với 30,71%) Ngoài hình ảnh tràn khí màng phổi và xẹp phổi trên X-quang phổi, tổn thương xơ mô kẽ và khí phế thũng

Trang 6

hợp nào có tràn dịch màng phổi kèm theo Theo y

văn(10), ghi nhận 9 – 26% trường hợp có biểu hiện

tràn dịch màng phổi kèm theo, trong đó 1/3 trường

hợp là tràn máu màng phổi

Về hiệu quả điều trị bơm bột talc

màng phổi

124 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát tái

phát lần này đều được bơm bột talc làm dày dính

màng phổi Tỉ lệ thành công là 96,77% (120/124

trường hợp) vớiø thời gian trung bình lưu ống dẫn lưu

sau bơm bột talc màng phổi là 2,94 ngày (giới hạn từ

1 – 26 ngày) So sánh với kết quả điều trị của các tác

giả khác Theo tác giả Tschopp J M et al(15), tỉ lệ

thành công là 97% (90/93 trường hợp tràn khí màng

phổi tự phát được bơm bột talc màng phổi) và thời

gian trung bình lưu ống dẫn lưu sau bơm bột talc

màng phổi là 5 ngày (giới hạn từ 2 – 40 ngày) Theo

Kennedy L và Sahn S A.(17), tỉ lệ bơm bột talc màng

phổi thành công 91% Theo Henry T et al(1), tỉ lệ

thành công là 85% – 92% Như vậy, kết quả nghiên

cứu của chúng tôi đã cho thấy hiệu quả điều trị bơm

talc làm dày dính màng phổi cũng tương tự như các

nghiên cứu khác Mặt khác, chúng tôi chưa ghi nhận

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mối liên quan

giữa tiền căn bệnh lý phổi cơ bản với kết quả bơm talc

làm dày dính màng phổi (p=0,852) (bảng 11) Tuy

nhiên, kết quả nghiên cứu ở bảng 12, cho thấy những

trường hợp có tiền căn bệnh lý phổi cơ bản có thời

gian lưu ống dẫn lưu (> 3 ngày) sau bơm talc làm dày

dính màng phổi gấp 2,47 lần so với trường hợp không

có tiền căn bệnh lý phổi cơ bản và mối liên quan này

có ý nghĩa thống kê (p=0,0144; RR=2,47;

95%CI:1,39-7,43)

Về biến chứng sau bơm bột talc màng phổi

Theo kết quả bảng 10, chúng tôi ghi nhận các

biến chứng thường gặp xảy ra sau bơm talc dày dính

màng phổi, đó là đau ngực (69/124 trường hợp;

55,65%), sốt (19/124 trường hợp; 15,33%) và ho khan

(29/124 trường hợp; 23,39%) Trong đó, có 18 trường

hợp (14,52%) kết hợp cả hai triệu chứng trên (đau

màng phổi, và đáp ứng tốt với thuốc giảm đau, hạ sốt thông thường trong vòng dưới 3 – 5 ngày

Theo Kennedy L., Sahn S A.(17), 16 – 69% trường hợp sốt xảy ra trong vòng 4 – 12 giờ sau bơm bột talc và kéo dài trong 3 ngày Tác giả Rush V W et al(28), có 46/73 trường hợp sốt (63%) Trong khi biến chứng sốt trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn chỉ 15,33% Trong 69 trường hợp đau ngực, chỉ có 6 trường hợp (chiếm 4,84%) là đau ngực nhiều phải dùng kết hợp thuốc giảm đau và thuốc an thần (5 –

10 mg diazepam) Theo Walker-Renard P B et al(29), cho thấy tỉ lệ đau ngực (từ ít đến nhiều) gây ra sau bơm bột talc màng phổi khoảng 7% (9/131 trường hợp) thấp hơn rất nhiều khi so sánh với tỉ lệ đau ngực gây ra do Bleomycin là 28% (56/199 trường hợp) và Doxycycline là 40% (24/60 trường hợp), chủ yếu là đau ngực nhiều

Đối với biến chứng suy hô hấp cấp, nghiên cứu của chúng tôi tương tự với nghiên cứu của Wiessberg(25) (nghiên cứu 360 trường hợp) và

Rodriguez-Panadero and Antony(26) (nghiên cứu 299

trường hợp) là không có trường hợp nào suy hô hấp

cấp xảy ra sau bơm bột talc màng phổi Trong khi các tác giả khác có ghi nhận những trường hợp suy hô hấp cấp như Rehse D H et al(24), (33% suy hô hấp

hoặc tử vong trong tổng số 78 bệnh nhân được bơm talc màng phổi); hoặc Compos et al(2) (7/550 trường

hợp suy hô hấp cấp, trong đó có 4 trường hợp tử vong sau bơm talc màng phổi) Tuy nhiên, cơ chế

suy hô hấp cấp xảy ra sau bơm talc màng phổi thì chưa được biết rõ và có nhiều nguyên nhân đưa đến suy hô hấp cấp xảy ra sau bơm bột talc(23)

Ngoài ra, các biến chứng khác cũng được ghi nhận trong y văn như John L Berk(13) có dưới 3 % trường hợp mủ màng phổi và Richard W Light(22) ghi nhận 7/29 trường hợp hạ oxy máu và tụt huyết áp xảy

ra sau bơm bột talc màng phổi Trong khi, kết quả nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào hạ huyết áp, hạ oxy máu, hoặc mủ màng phổi xảy ra sau bơm bột talc màng phổi

Trang 7

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Về tỉ lệ tái phát sau bơm bột talc màng phổi

Tất cả 120 trường hợp tràn khí màng phổi tự

phát tái phát lần này sau khi bơm bột talc màng phổi

được theo dõi trong thời gian từ 6 tháng đến hơn 2

năm, phát hiện có 10 trường hợp tái phát (8,06%),

trong đó 8 trường hợp tái phát có bệnh lý phổi cơ bản

(lao phổi cũ và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và

trên X-quang phổi đều có hình ảnh khí phế thũng ở

hai bên), và 2 trường hợp không có bệnh lý phổi cơ

bản Đồng thời, theo kết quả nghiên cứu ở bảng 13,

giữa tiền căn bệnh lý phổi và khả năng tái phát sau

bơm bột talc màng phổi có mối liên quan mang ý

nghĩa thống kê (p=0,00148) Nguy cơ tái phát tràn

khí màng phổi sau bơm bột talc màng phổi ở bệnh

nhân có bệnh lý phổi cơ bản cao gấp 2,027 lần so với

không có bệnh lý phổi cơ bản (RR=2,027;

95%CI:3,55-14,29)

Tham khảo các tài liệu trong y văn, cho đến nay

chúng tôi chưa ghi nhận có một nghiên cứu nào về tỉ

lệ tái phát tràn khí màng phổi sau bơm bột talc màng

phổi qua ống dẫn lưu màng phổi Chúng tôi chỉ ghi

nhận được tỉ lệ tái phát của một số phương pháp khác

làm dày dính màng phổi như Micheal H Bauman et

al(14), tỉ lệ tái phát tràn khí màng phổi sau làm dày

dính màng phổi bằng tetracycline là 25% so với

nhóm chứng là 41%; và John L Berk(13) cũng ghi

nhận tỉ lệ tái phát sau làm dày dính màng phổi bằng

tetracycline ở những bệnh nhân có bệnh lý phổi cơ

bản là 28% so với 43% nhóm chứng và ở những bệnh

nhân không có bệnh lý phổi cơ bản là 11% so với 32%

nhóm chứng Theo Henry T et al(1), ghi nhận tỉ lệ tái

phát tràn khí màng phổi sau cắt màng phổi là 0,4%

(n=752) và 2,3% sau làm trầy xước màng phổi chủ

động (n=301) Trong khi tỉ lệ tái phát tràn khí màng

phổi sau phẫu thuật nội soi lồng ngực với sự trợ giúp

của màng hình vô tuyến (VATS) là 5 – 10%(1) Trong

khi tỉ lệ tái phát tràn khí màng phổi sau bơm bột talc

màng phổi trong nghiên cứu của chúng tôi là 8,06%

(n=124)

Về độ an toàn của bột talc

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bột talc

được sản xuất từ Pháp chỉ dùng trong lĩnh vực y tế, có

độ tinh khiết cao, ít lẫn tạp chất và không chứa amiang nên giảm thiểu tối đa các tác dụng không mong muốn gây ra do các tạp chất trong bột talc Điều này cũng phù hợp với trong y văn(16,17,21,22,23) Bột talc được tiệt trùng dưới nhiệt độ cao 1360C tối thiểu trong 6 – 8 giờ trước khi sử dụng nên tránh được các tai biến nhiễm trùng Theo y văn(16), ngoài nhiệt độ cao, có thể tiệt trùng hiệu quả bằng tia gamma, khí ethylene oxide Liều lượng bột talc chúng tôi sử dụng là 2 gam nằm trong giới hạn cho phép (từ 2 – 10 gam) mà nhiều nghiên cứu(1,8,16,17,22,23) đã chấp nhận trong điều trị làm dày dính màng phổi và đã cho thấy hiệu quả của nó Dùng liều cao hơn không cho thấy hiệu quả nhiều hơn(1,8,16) Theo ghi nhận của Baumann M H.(8) và Richard W Light(22), nếu dùng liều cao trên 5 gam talc sẽ làm tăng nguy cơ suy hô hấp cấp

Về kinh tế, hiện nay bột talc là hóa chất rẽ nhất,

sẵn có trên thị trường so với các hóa chất khác và phương pháp bơm talc màng phổi là phương pháp điều trị rẽ nhất so với các phương pháp khác trong điều trị làm dày dính màng phổi Sau đây là bảng giá các loại hóa chất được dùng làm dày dính màng phổi trên thị trường của Mỹ vào năm 1997, dựa theo thông tin dược thuộc trung tâm Y khoa của đại học Mississipi(14)

Tên gốc Tên thị trường Liều thường dùng Giá

Minocycline Minocin 300 mg 85 $ Doxycycline Vibramycin 500 mg 30 $ Bleomycin Blenoxane 80 U 1300$ Talc Slurry Talc 5 gam 6 $ (*) Talc

poudrage

Talc 5 gam 6 $ +

VAT (**)

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã phần nào cho thấy được hiệu quả điều trị, và độ an toàn của phương pháp bơm bột talc làm dày dính màng phổi trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát tái phát Tỉ lệ thành công của bơm bột talc màng phổi là 96,77% (120 trường hợp) vớiø thời gian trung bình lưu ống dẫn lưu sau bơm bột talc là 2,94 ngày (giới hạn từ 1 – 26 ngày) Hai biến chứng sớm là đau ngực cấp (55,65%), sốt (15,33%) xảy ra ngay trong vòng 4 giờ đầu tiên và

Trang 8

trong khoảng 4 – 12 giờ sau bơm talc màng phổi và

đáp ứng tốt với thuốc giảm ho trong vòng 3 ngày

Đồng thời chúng tôi không ghi nhận xảy ra những

biến chứng trầm trọng (suy hô hấp cấp, tụt huyết áp,

mủ màng phổi, kể cả tử vong) sau bơm talc màng

phổi Sau thời gian theo dõi từ 6 – 30 tháng, có

10/120 trường hợp tái phát (8,06%), xảy ra chủ yếu ở

bệnh nhân có tiền căn bệnh lý phổi cơ bản (p=

0,00148) Cùng với nhiều nghiên cứu khác, đã chứng

tỏ phương pháp bơm bột talc làm dày dính màng

phổi dễ thực hiện, đơn giản, đạt hiệu quả, an toàn

Bột talc là một hóa chất rẻ tiền và sẵn có trên thị

trường Chúng ta nên ứng dụng rộng rãi phương

pháp này trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát tái

phát nói riêng và một số bệnh lý màng phổi nói

chung Đồng thời tiếp tục nghiên cứu nhiều hơn nữa

về vai trò điều trị của bột talc nhằm tìm ra phương

pháp tốt hơn trong điều trị làm dày dính màng phổi

11 Light WR, Disorder of the Pleura, Mediastinum, and Diaphragm, Harrison’s Principles of Internal Medicine

1998

12 Fishman AP., Disorder of the Pleura, Pulmonary Diseases and Disorders1998, 267-273

13 Berk JL., Pneumothorax, A practical approach to pulmonary medicine 1997; 206-223

14 Bauman MH et al, Treatment of spontaneous pneumothorax: a more aggressive approach?, Chest 09/1997

15 Tschopp JM et al, Treatment of complicated spontaneous pneumothorax by simple talc pleurodesis under thoracoscopy and local anaesthesia, Thorax 1997; 52: 329-332

16 Kennedy L., Sahn S A et al, Sterilization of talc for pleurodesis Available techniques, and cost analysis, Chest 1995;107:1032-1034

17 Kennedy L., Sahn S A., Talc pleurodesis for the treatment of pneumothorax and pleural effusion, Chest 1994; 106: 1215-1222

18 Chan TB et al, Spontaneous pneumothorax in medical practice in a general hospital, Ann Acad Med Singapore 1985; 14: 457

19 Melton LJ III et al, Incidence of spontaneous pneumothorax in Olmsted County, Minnesota: 1950 to

1974, Am Rev Respir Dis 1979;120:1379-1382

TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 Bouros D et al, Pleurodesis, Chest 09/2000

21 Crofton J, Occupational Lung Disease, Respiratory Diseases 1984, 575 – 630

1 Henry T et al, BTS guidelines for the management of

spontaneous pneumothorax, Thorax, 2003, 58:ii39-52

22 Light RW., Talc for pleurodesis?, Chest 2002;122:1506-1508

Lancet 1997; 349: 251-252

23 Sahn S.A., Talc should be used for pleurodesis, Am J Respir Crit Care Med 2000;162:2023-4

Chest 2002;121:669

24 Rehse DH et al, Respiratory failure following talc pleurodesis, Am J Surg 05/1999; 177(5):437-440

Pneumothorax, Chest 2001;119:590-602

25 Weissberg et al, Talc pleurodesis: experience with 360 patients, J Thorac Cardiovasc Surg 1993;106:689-695

Postgrad Med J 2001;77:215

26 Rodriguez-Panadero and Antony, Talc pleurodesis for treating malignant pleural effusions, Chest 1995;108:1178-1179

spontaneous pneumothorax, Brief Article American

Family Physician, 15/09/2000

27 Phạm Long Trung và cộng sự, Bệnh bụi phổi do bột talc (talcosis) ở công nhân sản xuất sản phẩm từ cao su, Y học thành phố Hồ Chí Minh 2001;5(4):tr.154-164

Pneumothorax – a Welsh survey, Postgrad Med J

2000; 76: 496-499

28 Rush V W., Kennedy L et al, Pleurodesis using talc slurry, Chest 1994;106:342-346

Pneumothorax, Curr Opin Pulm Med 2000 Jul; 6(4):

275-280

treatment of spontaneous pneumothorax, Accid Emerg

Med 2000; 17:165-169

29 Walker-Renard P B et al, Chemical pleurodesis for malignant pleural effusion, Ann Inter Med 1994;120:56-64

Ngày đăng: 22/01/2020, 17:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w