1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác dụng dự phòng buồn nôn và nôn của nhĩ châm bộ huyệt thần môn-vị-não trong điều trị ung thư phổi bằng hóa chất

10 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 209,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá tác dụng giảm buồn nôn của nhĩ châm bộ huyệt thần môn-vị-não trong điều trị ung thư phổi bằng hóa chất và đánh giá tác dụng giảm nôn của nhĩ châm bộ huyệt thần môn-vị-não trong điều trị ung thư phổi bằng hóa chất.

Trang 1

TÁC DỤNG DỰ PHÒNG BUỒN NÔN VÀ NÔN CỦA NHĨ CHÂM BỘ HUYỆT THẦN MÔN - VỊ - NÃO

TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ PHỔI BẰNG HÓA CHẤT

Lê Thị Minh Phương 1 , Nguyễn Kim Cương 1 ,

Đỗ Thị Phương 1 , Nguyễn Song An 2 , Lương Thị Ngọc Yến 3

1 Trường Đại học Y Hà Nội, 2 Bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí

3 Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh Buồn nôn và nôn là tác dụng phụ thường gặp ở bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất Nghiên cứu nhằm

(1) Đánh giá tác dụng giảm nôn của bộ huyệt thần môn - vị - não trong điều trị ung thư phổi bằng hóa chất

(2) Đánh giá tác dụng giảm buồn nôn của nhĩ châm bộ huyệt thần môn - vị - não trong điều trị ung thư phổi

bằng hóa chất Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, có đối chứng, mù đơn trên 90 bệnh nhân ung thư phổi

điều trị hóa chất bằng carboplastin hoặc ciplastin, được dự phòng nôn bằng phác đồ nền, trong đó 45 bệnh

nhân được kết hợp dự phòng nôn bằng nhĩ châm bộ huyệt thần môn - vị - não và 45 bệnh nhân giả châm

cứu Kết quả cho thấy nhĩ châm bộ huyệt thần môn - vị - não có tác dụng giảm buồn nôn cấp tính (tỉ lệ buồn

nôn ở nhóm nhĩ châm và đối chứng là 8,89% và 24,44%), nhưng chưa thấy tác dụng lên mức độ buồn nôn;

giảm tỉ lệ nôn ở nhóm nhĩ châm (tỉ lệ nôn trước can thiệp và sau can thiệp 37,78% và 15,56%) với p > 0,05,

nhưng chưa thấy tác dụng lên mức độ nôn (p < 0,05)

Từ khóa: Nhĩ châm, buồn nôn, nôn do điều trị hóa chất, y học cổ truyền

Địa chỉ liên hệ: Lê Thị Minh Phương, Khoa Y học cổ

truyền, Trường Đại học Y Hà Nội

Email: lethiminhphuong@hmu.edu.vn

Ngày nhận: 10/6/2018

Ngày được chấp thuận: 15/8/2018

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư phổi là sự tăng sinh ác tính của tế

bào biểu mô phế quản, đây là bệnh lý ác tính

có xu hướng ngày càng gia tăng Theo báo

cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, ung thư phổi

chiếm 13% tổng số ca ung thư, khoảng 1,8

triệu người mắc mới mỗi năm [1; 2] Hóa trị là

phương pháp điều trị căn bản đối với ung thư

phổi tuy nhiên phương pháp điều trị này có

nhiều tác dụng phụ, trong đó buồn nôn và nôn

là biến chứng nặng và thường gặp ở 70 –

80% các bệnh điều trị hóa chất [3] Mặc dù

hiện nay đã có nhiều thuốc chống nôn có hiệu

quả tốt trong dự phòng và điều trị buồn nôn,

nôn do điều trị hóa chất, tuy nhiên tỉ lệ bệnh

nhân gặp tác dụng phụ này vẫn còn khá cao (40 - 50%), đòi hỏi cần kết hợp nhiều phương pháp trong điều trị và chăm sóc giảm nhẹ [4]

Nhiều nghiên cứu cho thấy các phương pháp điều trị không dùng thuốc của y học cổ truyền như châm cứu, điện châm, bấm huyệt, có hiệu quả giảm buồn nôn và nôn trong kết hợp điều trị dự phòng nôn ở bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất [5 - 7] Tuy nhiên, đa số các phương pháp này có nhiều bất tiện cho bệnh nhân, hoặc đòi hỏi có nhân viên y tế thường xuyên giám sát thực hiện Nhĩ châm là một phương pháp điều trị thuận tiện, dễ thực hiện, được chỉ định trong điều trị các triệu chứng cơ năng như nôn, mất ngủ, đau đầu, mệt mỏi cũng như bệnh lý thực thể như thoái hóa khớp, đau thần kinh hông to, liệt nửa người [8; 9] Một số nghiên cứu cho thấy nhĩ châm có tác dụng giảm đau, giảm stress [8] Thử nghiệm lâm sàng trên 10 bệnh nhi ung thư điều trị hóa

Trang 2

chất, bước đầu cho thấy có tác dụng giảm

buồn nôn và nôn [10] Để có được bằng

chứng đầy đủ hơn về tác dụng dự phòng nôn

của điện châm trên bệnh nhân ung thư, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu này tại khoa Ung

bướu Bệnh viện Phổi Trung ương với mục

tiêu:

1 Đánh giá tác dụng giảm buồn nôn của

nhĩ châm bộ huyệt thần môn-vị-não trong điều

trị ung thư phổi bằng hóa chất

2 Đánh giá tác dụng giảm nôn của nhĩ

châm bộ huyệt thần môn-vị-não trong điều trị

ung thư phổi bằng hóa chất

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Khoa Ung bướu – Bệnh viện Phổi Trung

ương, từ tháng 6/2014 đến tháng 1/2017

2 Đối tượng

Bệnh nhân ung thư phế quản phổi được

điều trị hóa chất

2.1 Tiêu chuẩn thu nhận

Bệnh nhân ung thư phổi phế quản có chỉ

định điều trị hóa chất Carboplastin hoặc

Ciplastin; Tuổi ≥ 18; Có buồn nôn trong lần

điều trị hóa chất trước tham gia nghiên cứu;

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Dị ứng với các thuốc chống nôn; Có bệnh

lý da tại vị trí nhĩ châm; Có bệnh lý là nguyên

nhân hoặc đang có tình trạng nôn, buồn nôn

cấp tính và mạn tính;

Tổn thương di căn não, màng não trên

chụp cắt lớp vi tính sọ não, nghi ngờ trên lâm

sàng (buồn nôn hoặc nôn do hội chứng tăng

áp lực nội sọ hoặc hội chứng màng não);

Bệnh nhân trong tình trạng đe dọa tính mạng: suy hô hấp, suy tuần hoàn

3 Phương pháp

3.1 Thiết kế nghiên cứu

- Thử nghiệm lâm sàng, ngẫu nhiên có đối chứng, mù đơn

- Bệnh nhân được chọn lựa ngẫu nhiên vào các nhóm bằng bảng số

+ Nhóm can thiệp: bệnh nhân ung thư phổi được dự phòng nôn theo phác đồ chuẩn và được gài kim tại các điểm thần môn, vị, não, ở

cả hai bên tai trước truyền hóa chất

+ Nhóm chứng: bệnh nhân ung thư phổi được dự phòng nôn theo phác đồ chuẩn và dán các điểm sau tai trước truyền hóa chất

3.2 Công thức tính cỡ mẫu

n = [(Zα/2 + Zβ)2 × {(p1 (1p1) + (p2 (1 -p2))}]/(p1 - p2)2 = 42

n = cỡ mẫu của mỗi nhóm;

p1: Tỉ lệ nôn ở nhóm được dùng thuốc chống nôn (40%)

p2: Tỉ lệ nôn ở nhóm được dùng thuốc chống nôn + nhĩ châm (14%)

p1 - p2 = Giả định khác biệt giữa hai nhóm

= 0,28

Zα/2: mức độ ý nghĩa thống kê, với 5% là 1,96; Zβ: độ mạnh, với 80% là 0,84

Cỡ mẫu nghiên cứu là 45 bệnh nhân cho mỗi nhóm

3.3 Các kỹ thuật và nguyên liệu sử dụng trong nghiên cứu

3.3.1 Phác đồ điều trị hóa chất

Cisplastin 75 - 100 mg/m2 da + Gemcitabine 1000 mg/m2 da

Carboplatin 300 - 450 mg/m2 da + Paclitaxel 170 - 175 mg/m2 da

Trang 3

3.3.2 Phác đồ chống nôn

- Chất đối kháng thụ thể 5 - HT3

Odansetron: 8 mg/4ml, tiêm tĩnh mạch

trước khi truyền hóa chất 30 phút

Palononsetron: 0,25 mg/5ml, tiêm tĩnh

mạch trước khi truyền hóa chất 30 phút

- Methyl prednisolon: 40mg x 2 lọ truyền

tĩnh mạch trước truyền hóa chất 30 phút

- Thuốc Cimetidine: 20mg x 2ống tiêm tĩnh

mạch trước truyền hóa chất

3.3.3 Nhĩ châm

- Kim nhĩ áp, vô khuẩn, dùng một lần, bằng

thép không gỉ, dài 1,5 mm, đường kính 0,2

mm Đóng vỉ vô khuẩn 100 cái/hộp Bảo quản

ở điều kiện thường

- Các vị trí nhĩ châm:

Điểm thần môn: đỉnh hố tam giác, nơi gặp

nhau của 2 chân gờ đối vành

Điểm vị: ở xoắn tai, sát đầu tận cùng của

rễ gờ vành xe

Điểm não: giữa đối bình tai

Bệnh nhân được gài kim ở cả 2 bên tai

- Kim được lưu và bệnh nhân được hướng

dẫn tự ấn vào các vị trí gài kim

Ngày đầu: bệnh nhân tự ấn vào các điểm

gài kim sau mỗi 3 tiếng kể từ sau khi kết thúc

truyền hóa chất

Ngày 2 và 3: bệnh nhân tự ấn vào các

điểm gài kim vào các thời điểm trong ngày lúc

8h, 11h, 14h, 17h, 20h

- Quy trình dán các điểm sau tai ở nhóm

đối chứng

Bệnh nhân được dán tại 3 vị trí trên đường

song song và cách 1 cm với đường tiếp nối

loa tai và da đầu (A)

Điểm 1 là giao điểm của đường A với

đường này qua góc nhĩ luân và đầu

Điểm 3 là giao điểm của đường A và đường ngang qua góc dái tai và da đầu Điểm 2 nằm giữ điểm 1 và 3

Bệnh nhân được dán các điểm trên ở cả hai bên tai

4 Các biến số nghiên cứu

4.1 Đặc điểm chung bệnh nhân nghiên cứu

Tuổi, giới, nghề nghiệp, giai đoạn bệnh, các thuốc dùng trong phác đồ điều trị hóa chất, số đợt điều trị hóa chất trước đây, tiền

sử nôn và buồn nôn

4.2 Các biến số đánh giá tác dụng dự phòng nôn

Tỉ lệ bệnh nhân buồn nôn, thời gian buồn nôn, mức độ buồn nôn, tần suất buồn nôn trong ngày 1, 2, 3 sau truyền hóa chất, tần suất nôn trong ngày 1, 2, 3 sau truyền hóa chất

5 Thu thập số liệu

Số liệu được phân tích theo phương pháp thống kê y sinh học trên phần mềm thống kê SPSS 20.0

6 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được xem xét và chấp thuận bởi hội đồng khoa học và y đức bệnh viện Phổi Trung ương Kết quả nghiên cứu đã được thông qua theo quyết định số 1414/QĐ BVPTƯ ngày 02/12/2016

III KẾT QUẢ

1 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu

1.1 Một số đặc điểm nhân khẩu – xã hội học

Không có sự khác biệt về phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới và nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu ở cả hai nhóm (p > 0,05)

Trang 4

Bảng 1 Phân bố tuổi, giới, nghề nghiệp của bệnh nhân nghiên cứu

1.2 Một số đặc điểm bệnh lý và điều trị

Bảng 2 Phân loại bệnh nhân theo một số đặc điểm bệnh lý và điều trị

Giai đoạn ung thư phổi

0,651

Hóa chất được sử dụng

0,748

Thuốc chống nôn được sử dụng

0,767

p

0,920

Giới tính

0,561

Nghề nghiệp

0,790

Chỉ số

Trang 5

Không có sự khác biệt về giai đoạn bệnh, hóa chất và thuốc chống nôn được sử dụng ở 2

nhóm (p > 0,05) Đa số ở giai đoạn 3 và 4 (98,89%) sử dụng Carboplatin (87,78%) và chống nôn

bằng Odansetron (73,24%)

3.2 Tác dụng dự phòng buồn nôn, nôn do truyền hóa chất của nhĩ châm

3.2.1 Tác dụng giảm buồn nôn do truyền hóa chất

3.2.1.1 Tác dụng lên thời điểm buồn nôn

Bảng 3 Tỉ lệ bệnh nhân buồn nôn tại các thời điểm

Ngày 1 sau truyền hóa chất 15 33,33 12 26,67 0,490

Ngày 3 sau truyền hóa chất 21 46,67 15 33,33 0,280

Ngay sau truyền hóa chất tỉ lệ buồn nôn ở nhóm nhĩ châm (8,89%) thấp hơn nhóm đối chứng

(24,44%) với p < 0,05 Ngày 1, 2, 3 sau truyền hóa chất, tỉ lệ này của 2 nhóm không có sự khác

biệt (p > 0,05)

Bảng 4 Thời gian xuất hiện buồn nôn sau truyền hóa chất

p

Thời gian xuất hiện 33 0,58 ± 0,90 27 24,75 ± 47,5 0,111

Thời điểm nặng nhất 33 8,80 ± 9,90 27 31,95 ± 35,06 0,049

Chỉ số

Thời gian trung bình xuất hiện buồn nôn sau truyền hóa chất của 2 nhóm không có sự khác

biệt (p > 0,05) Thời điểm buồn nôn nặng nhất của nhóm đối chứng sau truyền hóa chất sớm hơn

nhóm nhĩ châm với p < 0,05

3.2.1.2 Tác dụng lên mức độ buồn nôn

Trang 6

Thời điểm Đối chứng Nhĩ châm p

Ngày 2

0,095

Ngày 3

0,529

Mức độ buồn nôn 2 nhóm ngày 1, 2, 3 không khác biệt (p > 0,05)

3.2.2 Tác dụng giảm nôn

3.2.2.1 Tác dụng lên tỉ lệ nôn

Bảng 6 Tỉ lệ bệnh nhân nôn do truyền hóa chất trước và sau can thiệp

p

Tỉ lệ nôn trước can thiệp của 2 nhóm tương đương nhau với p > 0,05 Sau can thiệp, tỉ lệ nôn của nhóm nhĩ châm thấp hơn so với nhóm đối chứng và trước can thiệp với p < 0,05

3.2.2.2 Tác dụng lên thời điểm nôn

Bảng 7 Tỉ lệ bệnh nhân nôn tại các thời điểm

Chỉ số

Bảng 5 Mức độ buồn nôn trung bình sau truyền hóa chất

Trang 7

Tỉ lệ bệnh nhân nôn ngay sau truyền hóa chất của nhóm nhĩ châm (2,22%) thấp hơn nhóm đối

chứng (15,56%) (p < 0,05) Tỉ lệ nôn ở ngày thứ 1, 2, 3 sau truyền hóa chất ở 2 nhóm là tương

đương nhau (p > 0,05)

3.2.2.3 Tác dụng lên mức độ nôn

Bảng 9 Mức độ nôn trung bình sau truyền hóa chất

Ngày 1

0,325

Ngày 2

1

Ngày 3

0,223

Sự khác biệt mức độ nôn của 2 nhóm ở các thời điểm không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

IV BÀN LUẬN

Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối

chứng, mù đơn được thực hiện trên 90 bệnh

nhân ung thư phổi điều trị hóa chất

carboplastin hoặc ciplastin, được dự phòng

nôn bằng phác đồ nền, trong đó 45 bệnh nhân

được kết hợp dự phòng nôn bằng nhĩ châm

bộ huyệt Não – Vị - Thần môn và 45 bệnh

nhân giả châm cứu Không có sự khác biệt về

phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới và nghề

nghiệp, giai đoạn bệnh, hóa chất và thuốc

chống nôn được sử dụng ở 2 nhóm Đa số

bệnh nhân ở độ tuổi 41 - 60 tuổi (58,89%) là

nam giới (82,22%), làm nông nghiệp

(36,67%), ở giai đoạn 3 và 4 (98,89%) sử

dụng Carboplatin (87,78%) và chống nôn

bằng Odansetron (73,24%)

Buồn nôn và nôn là biến chứng nặng và thường gặp ở các bệnh điều trị hóa chất Cảm giác buồn nôn gây khó chịu, mệt mỏi cho người bệnh, hạn chế người bệnh trong các sinh hoạt thường ngày [3] Trong nghiên cứu này tỉ lệ buồn nôn của nhóm đối chứng và nhóm nhĩ châm tại các thời điểm ngay sau truyền hóa chất (24,44% và 8,89%), sau truyền hóa chất ngày thứ 1 (33,33% và 26,67%), ngày thứ 2 (42,22% và 42,22%) và ngày thứ 3 (44,44% và 33,33%), trong đó kết quả cho thấy tỉ lệ buồn nôn ngay sau truyền hóa chất của nhóm nhĩ châm thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đối chứng Thời gian trung bình xuất hiện buồn nôn của nhóm đối chứng là khá sớm (0,58 ± 0,9 giờ) từ lúc

Trang 8

truyền hóa chất, trong khi thời gian này ở

nhóm nhĩ châm là muộn hơn (24,75 ± 47,5

giờ), tuy nhiên sự khác biệt này chưa có ý

nghĩa thống kê Đáng chú ý là thời điểm buồn

nôn nặng nhất của nhóm nhĩ châm (31,95 ±

35,06 giờ) muộn hơn rõ rệt so với thời điểm

này của nhóm chứng (8,8 ± 9,9 giờ) Về tác

dụng lên mức độ buồn nôn, chưa thấy sự

khác biệt về mức độ buồn nôn của 2 nhóm ở

các thời điểm Tác dụng giảm buồn nôn đặc

biệt là buồn nôn cấp có vai trò quan trọng đối

với bệnh nhân điều trị hóa chất vì trong 24 giờ

đầu là thời gian bệnh nhân phải truyền hóa

chất nằm tại chổ, có nhiều lo lắng, mệt mỏi

Việc giảm cảm giác buồn nôn trong thời gian

này sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống

cho bệnh nhân

Nôn là tác dụng không mong muốn do

truyền hóa chất gây ảnh hưởng nhiều đến sức

khỏe người bệnh cũng như việc sử dụng các

thuốc điều trị bằng đường uống kèm theo [3]

Kết quả bảng 5 cho thấy tỉ lệ nôn của nhóm

đối chứng (35,56%) trong lần truyền hóa chất

này cao hơn nhóm nhĩ châm Đáng chú ý tỉ lệ

nôn của nhóm nhĩ châm trong lần truyền hóa

chất này (15,56%) thấp hơn rõ rệt lần truyền

hóa chất trước can thiệp (37,78%), sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê Kết quả này cho thấy

nhĩ châm bộ huyệt thần môn - vị - não có tác

dụng giảm tỉ lệ nôn do truyền hóa chất Về tác

dụng lên thời điểm nôn, kết quả bảng 6 cho

thấy không có sự khác biệt về tỉ lệ nôn của

các nhóm tại các thời điểm Mặc dù nhĩ châm

có tác dụng làm giảm buồn nôn cấp tính

nhưng tác dụng lên thời điểm nôn lại không rõ

ràng, điều này có thể do số lượng bệnh nhân

có nôn trong nghiên cứu còn ít (16/45 của

nhóm đối chứng và 7/45 của nhóm nhĩ châm)

vì vậy cần tiếp tục đánh giá thêm với số lượng

bệnh nhân có nôn lớn hơn ở cả 2 nhóm để thấy được tác dụng của nhĩ châm trên tỉ lệ nôn Đánh giá chi tiết về mức độ nôn của bệnh nhân vào các thời điểm, kết quả bảng 7 cho thấy đa số bệnh nhân nghiên cứu có mức

độ nôn nhẹ và trung bình phù hợp với kết quả

đã phân tích ở trên, đa số bệnh nhân nghiên cứu được hóa chất có tác dụng phụ gây nôn nhẹ và trung bình là carboplatin [3] Kết quả bảng 7 cũng cho thấy nhóm đối chứng có tỉ lệ nôn trung bình, và nặng vào ngày 1 sau truyền hóa chất (60%), ngày 2 (88,89%), ngày 3 (75%), có xu hướng cao hơn nhóm nhĩ châm với tỉ lệ tương ứng là 50%, 75% và 5% Tuy nhiên, sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống

Giảm buồn nôn và nôn là một trong những vấn đề khó khăn trong chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư điều trị hóa chất vì nôn không chỉ gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh mà còn dẫn đến tình trạng suy kiệt của người bệnh do không

ăn uống được và mất điện giải do nôn Tác động lên huyệt ở loa tai là phương pháp để chẩn đoán và điều trị bệnh dựa trên việc lập lại hoạt động bình thường của các rối loạn trong cơ thể thông qua kích thích các huyệt ở tai Tác dụng điều trị bệnh được cho là do các tác động lên hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm Đây là phương pháp gây ra các đáp ứng được cho là tác động lên các nhóm tế bào đa năng chứa thông tin của toàn bộ các

cơ quan và tạo ra các đáp ứng lên từng cơ quan khác nhau của cơ thể thông qua thu thập thông tin thêm từ các tế bào vỏ não liên quan tới các phần của cơ thể Do đó việc tác động lên các điểm phản ứng ở tai có thể làm giảm triệu chứng của các bệnh ở vị trí khác [9] Kết quả này cũng bước đầu cho thấy nhĩ

Trang 9

châm bộ huyệt thần môn - vị - não có tác dụng

giảm tỉ lệ nôn, có xu hướng giảm mức độ nôn

V KẾT LUẬN

Nhĩ châm bộ huyệt thần môn - vị - não có

tác dụng giảm tỉ lệ buồn nôn cấp tính nhưng

chưa thấy tác dụng lên mức độ buồn nôn

Nhĩ châm bộ huyệt thần môn - vị - não có

tác dụng giảm tỉ lệ nôn ở nhóm nhĩ châm

nhưng chưa thấy tác dụng lên mức độ buồn

nôn và mức độ nôn

Lời cảm ơn

Xin trân trọng cảm ơn Bệnh viện Phổi

Trung ương, Khoa Ung bướu - Bệnh viện Phổi

Trung ương tạo điều kiện cho chúng tôi triển

khai nghiên cứu này Trân trọng cảm ơn sự hỗ

trợ tài chính đối với nghiên cứu của Quỹ Học

Mãi Việt Nam - Australia

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ngô Thế Quân (2007) Phân loại mô

bệnh học ung thư phế quản theo phân loại

của Tổ chức y tế thế giới - 1999 Tạp chí Y

học Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007, 11(3)

Chuyên đề: Giải phẫu bệnh - Tế bào học, 47

2 GLOBOCAN 2008 (IARC) (2008),

Section of Cancer Information, accessed

24/5/2013)

3 Doranne L Hilarius, Paul H Kloeg,

Elsken van der Wall et al (2012)

Chemotherapy - induced nausea and vomiting

in daily clinical practice: a community

hospital-based study Support Care Cancer, 20, 107 –

117

4 Schmoll HJ, Aapro MS, Poli-Bigelli S

et al (2006) Comparison of an aprepitant

regimen with a multiple-day ondansetron regimen, both with dexamethasone, for antiemetic efficacy in high-dose cisplatin

treatment Ann Oncol 2006; 17,1000

5 Dundee JW, McMillan CM (1990)

Clinical uses of P6 acupuncture antiemesis

Acupuncture Electrotherapeutics and

Research, 15(3-4), 211 - 215

6 Ezzo J, Richardson MA, Vickers A et

al (2011) Acupuncture-point stimulation for

chemotherapy-induced nausea or vomiting

(Review) The Cochrane Library, 3

7 Pan XC, Morrison RS, Ness J,

Complementary and alternative medicine in the management of pain, dyspnea, and nausea and vomiting near the end of life: A

systematic review Journal of Pain and

Symptom Management, 20(5), 374 - 87

8 Trường Đại học Y Hà Nội (2005)

“Châm ở vành tai”, Bài giảng Y học cổ truyền

tập 2 Nhà xuất bản Y học, 469 - 466

9 Luigi G, Fabio F (2007) Ear

acupuncture in Euro traditional Medicine,

eCAM 2007; 4(S1),13 - 16

10 Yeh CH, Chien LC, Chiang YC et al (2012) Reduction in nausea and vomiting in

children undergoing cancer chemotherapy by either appropriate or sham auricular

acupuncture points with standard care J

Altern Complement Med, 18(4), 334 - 340

Summary EFFECTS OF AURICULAR ACUPUNCTURE ON

CHEMOTHERAPY-INDUCED NAUSEA AND VOMITING IN LUNG CANCER

Nausea and vomiting are the common complications of chemotherapy in lung cancer patients

The purposes of this research are (1) Evaluating the effects of auricular acupuncture on reduced

Trang 10

nausea in chemotherapy for lung cancer (2) Evaluating the effects of auricular acupuncture on reduced vomiting in chemotherapy for lung cancer In randomized, single blind, controlled clinical trials on 90 lung cancer patients treated with carboplastin or ciplastin, 45 subjects used auricular acupuncture in combination with the standard antiemetic regimen and 45 subjects used sham auricular acupuncture in combination with the standard antiemetic regimen The results show that auricular acupuncture reduced the proportion of acute nausea (proportion of nausea in auricular acupuncture group and sham auricular acupuncture group were 8.89% and 24.44%) and reduced the proportion of vomiting in auricular acupuncture group (before and after intervention are 37.78% and 15.56%) with p > 0.05 We have not seen any effect of aricular acupuncture on the level of severity of nausea and vomiting (p < 0.05)

Key words: auricular acupuncture, chemotherapy-induced nausea and vomiting, traditional medicine

Ngày đăng: 22/01/2020, 17:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w