Giải phẫu bệnh của thận ghép là một lãnh vực còn mới trong ngành giải phẫu bệnh ở Việt Nam. Nhu cầu có một báo cáo đúc kết hệ thống các đặc điểm GPB của thận ghép dựa trên số liệu của các mẫu sinh thiết tại Bệnh Viện Hoàng Gia Melbourne là cần thiết trong tình hình hiện nay.
Trang 1KẾT QUẢ GIẢI PHẪU BỆNH CỦA 392 MẪU SINH THIẾT THẬN GHÉP TẠI BỆNH VIỆN HOÀNG GIA MELBOURNE (05/2012 – 03/2013)
Trần Hiệp Đức Thắng*, Moira Finlay**, Anand Murugasu**, Anthony Landgren**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề và mục tiêu: Giải Phẫu Bệnh (GPB) của thận ghép là một lãnh vực còn mới trong ngành GPB
ở Việt Nam. Nhu cầu có một báo cáo đúc kết hệ thống các đặc điểm GPB của thận ghép dựa trên số liệu của các mẫu sinh thiết tại Bệnh Viện Hoàng Gia Melbourne là cần thiết trong tình hình hiện nay.
Phương pháp: Trong thời gian 10 tháng từ 05 – 2012 đến 03 – 2013, chúng tôi đã khảo sát 392 mẫu sinh
thiết thận ghép gửi đến Khoa GPB, Bệnh Viện Hoàng Gia Melbourne. Kết quả thận ghép được mô tả cắt ngang dựa trên phân loại theo tiêu chuẩn Banff 1997, cập nhật 2007 và 2009.
Kết quả: Có 82 mẫu sinh thiết thận ghép ngay sau tái tưới máu với 47 tổn thương ống thận cấp (TTOTC)
chiếm 57%, 19 mẫu bất thường từ người cho (BTNC) chiếm 20% với 1 trường hợp bệnh cầu thận màng (BCTM), 12 mẫu bất thường tối thiểu (BTTT) chiếm tỷ lệ 15% và 4 hoại tử ống thận cấp (HTOTC) chiếm 5%. Trong 310 mẫu sinh thiết thận ghép còn lại thực hiện trên 203 trường hợp, có 167 phân loại 6 chiếm 54% bao gồm TTOTC; ngộ độc ức chế calcineurin; nhiễm BK virus; bệnh thận tái phát, 45 phân loại 3 chiếm 15%, 38 phân loại 1 chiếm 12%, 27 phân loại 2 (9%) gồm 12 thải ghép cấp thể dịch (TGCTD) và 15 thải ghép thể dịch mạn tính hoạt động(TGTDMTHD), 26 phân loại 4 chiếm 8% gồm 12 thải ghép cấp tế bào (TGCTB) loại IA; 12 TGCTB loại IB và 7 phân loại 5 chiếm tỷ lệ 2%.
Kết luận: Kết quả GPB thận ghép có thể phức tạp với nhiều phân loại kết hợp. Khảo sát GPB thận ghép là
công cụ rất quan trọng để chẩn đoán các bệnh lý sau ghép thận, phát hiện và chẩn đoán loại thải ghép, từ đó giúp ích cho điều trị, theo dõi và tiên lượng chức năng thận ghép.
Từ khoá: hoại tử ống thận cấp ngộ độc ức chế calcineurin, thải ghép cấp, thải ghép mạn
ABSTRACT
PATHOLOGY RESULTS OF 392 RENAL TRANSPLANT BIOPSIES
AT ROYAL MELBOURNE HOSPITAL (05/2012 – 03/2013)
Tran Hiep Duc Thang, Moira Finlay, Anand Murugasu, Anthony Landgren
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 88 ‐ 96
Introduction and objectives: In the context of early renal transplant pathology in Viet Nam, a systemic
report of pathology features in renal transplant biopsies based on the data of Anatomical Pathology Department
of Royal Melbourne Hospital is necessary.
Methods: Over a ten‐month period (May‐2012 to March‐2013), we observed and reported 392 renal
transplant biopsies sent to Pathology Department of Royal Melbourne Hospital. The results were cross‐sectioned described following classification criteria of Banff 1997 updated 2007 and 2009.
Results: There were 82 post reperfusion transplant biopsies with 47 acute tubular injury (ATI) – 57%; 19
donor related abnormalities (20%) with 1 membranous glomerulopathy; 12 minimal abnormalities (15%) and acute tubular necrosis (ATN) – 5%. In the rest 310 renal transplant biopsies obtained from 203 kidney
* Khoa Giải phẫu bệnh, BV Nhân Dân Gia Định, ** khoa giải phẫu bệnh, bệnh viện Royal Melbourne, Úc
Tác giả liên lạc: ThS Trần Hiệp Đức Thắng ĐT: +84 8 38412692 Email: thangco19752003@yahoo.com
Trang 2transplant recipients, there were 167 of type 6 (54%) including ATI; calcineurin inhibitor (CNI) toxicity; BK virus infection; recurrent diseases, 45 of type 3 (15%), 38 of type 1 (12%), 27 of type 2 (9%) including 12 acute antibody‐mediated rejection (AbMR) and 15 chronic active AbMR, 26 of type 4 (8%) with 12 acute cellular rejection (ACR) type IA; 12 ACR type IB; 1 type IIA and 1 type IIB, and 7 of type 5 (2%).
Conclusions: Pathology features of renal transplant can be very complicated and sometimes in combination.
Renal biopsy is a very important and sensitive tool for the diagnosis of rejection and other causes of graft dysfunction.
Keywords: acute tubular necrosis, calcineurine inhibitor toxicity, acute rejection, chronic rejection
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mặc dù ghép thận đã được thực hiện rộng
rãi cách đây hơn 40 năm, Ghép thận chỉ thật sự
tiến bộ từ những năm 1983 kể từ khi các thuốc
ức chế miễn dịch thế hệ mới như thuốc kháng
calcineurin được sử dụng và tiếp theo đó là sự
ra đời các công thức điều trị kết hợp hiện đại.
Mặc dù những công thức điều trị đã được cải
tiến, thải ghép vẫn là nguyên nhân hàng đầu
gây suy chức năng thận ghép. Hầu hết các bệnh
nhân ghép đều có những lần suy chức năng
thận ghép trong suốt cuộc đời còn lại. Tuy đã có
nhiều phương pháp chẩn đoán mới như chọc
hút bằng kim nhỏ, xạ hình thận, sinh thiết thận
ghép vẫn là công cụ nhạy bén nhất để chẩn đoán
thải ghép và các bệnh lý gây mất chức năng thận
ghép(3).
Có rất nhiều nguyên nhân gây mất chức
năng thận ghép và đôi khi các nguyên nhân này
phối hợp càng làm cho bệnh học về thận ghép
trở nên phức tạp đối với các bác sĩ giải phẫu
bệnh về thận. Các tác nhân chính gây mất chức
năng thận ghép bao gồm thải ghép, hoại tử ống
thận sau phẫu thuật, tổn thương do tưới máu,
ngộ độc thuốc (ức chế canxi), tắc nghẽn, tắc
mạch máu chính, nhiễm trùng, viêm thận mô kẽ
do dị ứng, bệnh thận tái phát(3)…
Ở nước ta, ghép thận đã trở thành phẫu
thuật khá phổ biến ở các bệnh viện lớn với nhiều
báo cáo như bài viết của Trần Ngọc Sinh về kết
quả của 176 trường hợp ghép thận từ năm 1992
tại BV Chợ Rẫy , báo cáo của Phạm Văn Bùi về
lâm sàng và ít liên quan đến GPB. Các báo cáo trong nước liên quan đến GPB thận ghép hầu như chưa thực hiện.
Bài viết này mượn các kết quả GPB của các sinh thiết thận ghép thực hiện tại Bệnh Viện Hoàng Gia Melbourne để đúc kết nhằm đưa ra một cái nhìn tổng quan về đặc điểm GPB của các thận ghép, đồng thời nêu lên vai trò của GPB trong chẩn đoán, điều trị và theo dõi thận ghép.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP
Mô tả cắt ngang các trường hợp sinh thiết thận ghép gửi đến khoa GPB BV Hoàng Gia Melbourne từ tháng 5 ‐ 2012 đến tháng 3 ‐ 2013. Các mẫu thận được ngấm mô theo quy trình riêng, sau đó được cắt mỏng 0.5micron và nhuộm 4 tiêu bản với H&E, 2 tiêu bản với PAS, 1 tiêu bản với Trichrome, 2 tiêu bản với bạc, 1 tiêu bản nhuộm mạch máu ORC‐VG. Các tiêu bản nhuộm hóa mô miễn dịch với IgA, IgG, IgM, Fibrin, C3, C1q, C4d và SV40 được cắt mỏng 2 micron.
Các mẫu STT ghép được đọc bởi 3 bác sĩ GPB chuyên đọc về sinh thiết thận (Moira Finlay, Anand Murugasu, Anthony Landgren tại Khoa) và liên hệ với lâm sàng qua các buổi họp hàng tuần.u
Phân loại các tổn thương theo tiêu chuẩn Banff 1997 với sửa đổi bổ sung 2003 và 2009(3,6,7). Phân loại này dựa trên đánh giá tiêu chuẩn định lượng các yếu tố: t‐viêm ống thận, i‐thấm nhập
tế bào viêm đơn nhân trong mô kẽ, ah‐mức độ
Trang 3và xơ hóa lớp áo trong, mm‐mức độ tăng sinh
chất nền khoảng gian mạch, C4d‐mức độ
nhuộm mao mạch với C4d. Định lượng mỗi yếu
tố được tính bằng cách cho điểm từ 1‐3(3,4,7).
Phân loại sinh thiết thận ghép theo tiêu
chuẩn Banff 97, sửa đổi năm 2003 và 2009 gồm:
Mô thận ghép bình thường.
Thay đổi qua trung gian miễn dịch dịch thể.
Thay đổi giáp biên.
Thải ghép qua trung gian tế bào T.
Xơ hóa mô kẽ và teo ống thận.
Các thay đổi khác không do thải ghép.
Đánh giá viêm ống thận và viêm mô kẽ chỉ
được tính ở những ống thận không teo và vùng
mô kẽ không xơ hóa. Những thay đổi ở phần
chủ mô thận ngay dưới vỏ bao thận (1 – 2mm
dưới vỏ bao) như viêm ống thận và mô kẽ, xơ
hóa mô kẽ và teo ống thận đều không có ý nghĩa
trong việc đánh giá thải ghép(3).
Tiêu bản nhuộm PAS cho hình ảnh chẩn
đoán viêm ống thận tốt nhất(3).
Hình 1. Viêm cầu thận, quai mao mạch thấm nhập
bạch cầu đơn nhân
Hình 2. Viêm ống thận và mô kẽ ‐ tế bào viêm vượt
qua màng đáy ống thận
Hình 3. Hoại tử ống thận cấp
Hình 4. Viêm mao mạch quanh ống thận – mao mạch
giãn rộng chứa bạch cầu đơn nhân
Trang 4Hình 5. C4d+, nhuộm toàn bộ chu vi các mao mạch
quanh ống thận
Hình 6. Thải ghép thể dịch mạn tính hoạt động –
viêm cầu thận trên một bệnh cầu thận ghép mạn.
Hình 8. Viêm động mạch
Hình 9. Hoại tử fibrin của các mạch máu nhỏ ‐ v3
Hình 10. Nhiễm siêu vi BK‐nhân tế bào biểu mô ống
thận dương tính với anti SV40
Phối hợp kết quả hóa mô miễn dịch với sang thương hình thái học.
Đối chiếu dữ liệu lâm sàng cho chẩn đoán cuối cùng.
Trang 5sau tái tưới máu
4 5%
47 57%
19
23%
12
C
T T OT C
BT NC
BT T T
Biểu đồ 1: Tỷ lệ các tổn thương của thận ghép
ngay sau tái tưới máu
Số trường hợp TTOTC gặp nhiều nhất với 47
trường hợp chiếm tỷ lệ 57%, tiếp theo là 19
trường hợp BTNC chiếm 20%; trong đó có 1
trường hợp bệnh cầu thận màng, BTTT và
HTOTC lần lượt là 12 và 4 trường hợp chiếm tỷ
lệ 15% và 5%.
Trong 310 mẫu thận ghép còn lại
Tỷ lệ các phân loại theo tiêu chuẩn Banff 97
38
9%
45 15%
25 8%
7 2%
167
54%
P L 1
P L 2
P L 3
P L4
P L5
P L 6
Biểu đồ 2: Tỷ lệ các loại thải ghép và các bệnh lý sau
ghép khác theo tiêu chuẩn Banff 97
Phân loại 6 chiếm tỷ lệ cao nhất (54%) phân
loại 3 ít hơn (15%), 38 mẫu phân loại 1 chiếm tỷ
lệ 12%. Phân loại 2 chiếm 9%, phân loại và 4 gần
như nhau khoảng 8%. Phân loại 5 đơn thuần
thấp nhất chỉ 2%. Thật sự phân loại 5 nhiều hơn
vì phân loại này thường kèm với các phân loại
khác như 2,3,4,6.
310 mẫu sinh thiết thực hiện trên 203 bệnh
nhân ghép thận là do có những trường hợp sinh
thiết nhiều lần, có thể từ 2 đến 6 lần.
Các trường hợp thải ghép cấp dịch thể
7 26%
5 19%
6 22%
9
TGCTD C4d-TGCTDMTH
D C4d+ TGCTDMTH
D
C4d-Biểu đồ 3: Tỷ lệ các loại thải ghép thể dịch
Có 15 mẫu thải ghép thể dịch mạn tính hoạt động chiếm tỷ lệ cao nhất (55%); trong đó 9 mẫu
có C4d‐ chiếm 33%; 6 mẫu có C4d + (22%). 12 mẫu thải ghép cấp thể dịch chiếm tỷ lệ 45% với 7 mẫu C4d+ (26%) và 5 mẫu C4d‐ chiếm tỷ lệ 19%.
Các trường hợp thải ghép cấp tế bào T
Biểu đồ 4: Tỷ lệ các loại thải ghép cấp tế bào T
Thải ghép cấp tế bào loại IA và IB chiếm tỷ lệ cao nhất (46%), chỉ có 1 mẫu thải ghép cấp tế bào loại IIA và 1 mẫu thải ghép loại IIB (4%).
Các trường hợp nhiễm BK virus
Biểu đồ 5: Tỷ lệ nhiễm BK virus
Có 8 mẫu nhiễm BK virus, mẫu nhiễm BK sớm nhất là 7 tuần sau ghép, mẫu nhiễm xa nhất
là 9 tháng sau ghép. 4 mẫu nhiễm ở tháng thứ 3 sau ghép. 3 mẫu nhiễm BK kèm tổn thương viêm ống thận và mô kẽ (VOTMK) khó loại trừ
thải ghép cấp tế bào đi kèm.
Các trường hợp ngộ độc ức chế calcineurin
Trang 6Có 14 mẫu cho thấy khả năng ngộ độc ức
chế calcineurin, trong đó tổn thương hyaline hoá
ở tiểu động mạch gặp nhiều nhất với tỷ lệ 79%, 1
trường hợp biểu hiện bằng thuyên tắc vi mạch
huyết khối (TTVMHK ‐ TMA) cấp tính và 2 mẫu
biểu hiện bằng tổn thương ống thận cấp với các
không bào đối xứng và mịn và canxi lắng đọng
trong bào tương tế bào ống thận.
Các trường hợp khác
Bệnh thận tái phát
Có 4 trường hợp bệnh cầu thận IgA tái
phát, 1 trường hợp bệnh cầu thận màng
(BCTM) tái phát.
Các trường hợp bệnh thận mới
1 trường hợp bệnh viêm cầu thận hoại tử tạo
liềm, 2 trường hợp bệnh màng đáy mỏng, 2
trường hợp viêm đài bể thận cấp.
BÀN LUẬN
Với 82 trường hợp Sinh thiết thận ghép
sau tái tưới máu
Kết quả cho thấy 47 trường hợp TTOTC
chiếm tỷ lệ cao nhất (57%). Đây là tổn thương
thường gặp nhất trong thận ghép sau tái tưới
máu, nguyên nhân từ từ thời gian thiếu máu ấm
hoặc lạnh kéo dài. Thời gian thiếu máu càng lâu,
tổn thương càng rõ nét, do đó TTOTC là biến
chứng khởi đầu hay gặp nhất ở các thận ghép từ
người cho chết(3).
bờ bàn chải, hiện tượng không bào hóa trong bào tương ống thận với đặc điểm các không bào thường thô và không đều. HTOTC có tổn thương nặng hơn với hoại tử tế bào biểu mô ống thận, bong tróc tế bào biểu mô ống thận vào lòng ống thận và thấy được mảnh vỡ tế bào trong lòng ống thận.
Các trường hợp BTNC gồm xơ hóa cầu thận khu trú, xơ hóa mô kẽ, teo ống thận, hyaline hóa tiểu động mạch, xơ vữa động mạch. Có 1 trường hợp bệnh cầu thận màng liên quan đến người cho, với đặc điểm mô học gồm màng đáy cầu thận dày nhẹ lan tỏa, tạo gai và lắng đọng phức hợp miễn dịch dưới biểu mô dọc thành mao mạch.
Đối với các trường hợp BTTT còn lại, các mẫu thận gần như bình thường về hình thái học.
Với 392 mẫu sinh thiết thận ghép sau tái tưới máu
Có 167 mẫu thận ghép được phân loại 6 theo tiêu chuẩn Banff chiếm tỷ lệ cao nhất 54%. Các mẫu này bao gồm những bất thường rất nhẹ với thận gần như bình thường đến xơ hóa cầu thận khu trú, xơ hóa mô kẽ, teo ống thận, hyaline hóa tiểu động mạch, xơ vữa động mạch, HTOTC, ngộ độc ức chế calcineurin, nhiễm BK virus, thuyên tắc vi mạch máu huyết khối, các bệnh thận tái phát gồm bệnh thận IgA; bệnh cầu thận màng, các bệnh thận mới gồm viêm cầu thận hoại tử; bệnh màng đáy mỏng, viêm đài bể thận cấp.
Các trường hợp thải ghép cấp tế bào T
Thải ghép cấp qua trung gian tế bào là loại thải ghép phổ biến nhất, chủ yếu qua trung gian
tế bào lympho T. Thời điểm hay gặp nhất từ 1 –
6 tháng sau ghép nhưng cũng có thể xuất hiện
và tiến triển nhiều năm sau ghép. 30% bệnh nhân nhận thận từ người cho chết sẽ bị thải ghép này trong vòng 1 năm và hầu hết xảy ra
Trang 7(IA ‐> IB) > ¾ trường hợp, < ½ trường hợp liên
quan đến mạch máu gây viêm nội mạc mạch
máu (IIA ‐> IIB ‐> III) và <10% liên quan đến cầu
thận gây viêm cầu thận. Kết quả cũng cho thấy
tỷ lệ thải ghép loại IA và IB chiếm đến 92%
TGCTB, chỉ có 8% thải ghép loại IIA và IIB và
không có trường hợp nào loại III.
HMMD trong TGCTB không đặc hiệu, có
thể bắt C3 dạng sợi hoặc dạng hạt ở thành ống
thận. Với các thải ghép loại II, HMMD cũng
thường âm tính chứng tỏ đây là một dạng của
thải ghép tế bào mà không phải là thải ghép thể
dịch. Đôi khi lắng đọng IgM, C3, C1q bên trong
lớp áo trong của mạch máu do protein huyết
tương bị giữ lại tại đây(3).
Các lần sinh thiết lập lại cho thấy thải ghép
đáp ứng tốt với điều trị. Hầu hết các trường hợp
cải thiện sau 1 – 2 lần sinh thiết lại, từ phân loại 4
trở thành phân loại 3 hoặc phân loại 5/6.
Các trường hợp thay đổi qua trung gian thể
dịch
Thải ghép thể dịch xảy ra ở bất cứ thời điểm
nào sau ghép. Chủ yếu gây tổn thương các mạch
máu giống như dạng thải ghép chậm của thải
ghép tối cấp.
Hình ảnh sớm nhất là bạch cầu đa nhân
thấm nhập ở các mao mạch quanh ống thận. Sau
đó là tổn thương nội mô mạch máu với bám
bạch cầu đa nhân, huyết khối mao mạch cầu
thận và các động mạch nhỏ. Lâu hơn có thể có
hoại tử tế bào nội mô mao mạch cầu thận, ly giải
chất nền gian mạch giống như trong TTVMHK.
Thải ghép thể dịch type III gây viêm động mạch
xuyên thành, hoại tử dạng fibrrin – hoại tử lớp
cơ trơn lớp áo giữa(3).
Kết quả nhuộm HMMD trong TGCTD
thường bắt không đặc hiệu với các kháng thể
IgG, IgM, C3 dọc tế bào nội mô mao mạch cầu
thận và mao mạch quanh ống thận(3).
Xuất độ thải ghép đã giảm đi từ khi sử dụng
cyclosprine nhưng với sự sử dụng C4d và kháng
thể đặc hiệu với người cho đã giúp phát hiện
nhiều trường hợp thải ghép thể dịch. C4d gọi là dương tính khi nhuộm mạnh và lan tỏa các mao mạch quanh ống thận và/hoặc các mao mạch cầu thận(3,7). Theo Bohmig và Exner, C4d có độ đặc hiệu cao 93% nhưng độ nhạy thấp 36%. C4d dương tính rất có ý nghĩa để chẩn đoán thải ghép thể dịch(2).
Trong các mẫu sinh thiết thận ghép trên, có những trường hợp thải ghép thể dịch vẫn được chẩn đoán dù C4d âm tính chiếm 52% gồm có 33% TGTDMHD và 19% TGCTD.
Thải ghép thể dịch có tiên lượng kém. Với các phương pháp điều trị phối hợp như thay huyết tương kết hợp với mycophenolate mofetil
và tacrolimus, tỷ lệ hồi phục tạng ghép là 50‐ 60% so với 95% của thải ghép tế bào(2). Trong 27 mẫu sinh thiết từ 15 trường hợp, có 3 trường hợp kèm theo thải ghép cấp tế bào. Các lần sinh thiết lập lại cho thấy thải ghép đáp ứng kém với điều trị, chỉ có 1 trường hợp sinh thiết lại lần 3 cho thấy cải thiện từ phân loại 2 sang phân loại
5, các trường hợp khác chỉ thấy chuyển từ thải ghép cấp sang thải ghép mạn tính hoạt động hoặc thải ghép mạn tính, hoặc chỉ thấy từ thay đổi từ C4d + thành C4d ‐.
Các trường hợp ngộ độc ức chế calcineurin
Ngộ độc ức chế calcineurin có thể khó chẩn đoán ở thận ghép do đặc tính hình ảnh giống như mô thận giữa những lần thải ghép. Ngộ độc
có thể cấp hoặc mạn tính và ảnh hưởng hết cả 4 thành phần của thận gồm ống thận, mô kẽ, mạch máu và cầu thận. Sự hiện diện của thải ghép không loại trừ hoàn toàn được một ngộ độc, vì vậy cần có sự tương quan giữa lâm sàng
và giải phẫu bệnh để có chẩn đoán chính xác. Ngộ độc có thể cấp hoặc mạn. Trong ngộ độc cấp, giai đoạn đầu có ngộ độc chức năng do giảm lưu lượng máu và giảm độ lọc cầu thận, không có bất thường về hình thái học. Trễ hơn
có ngộ độc cấp ở các ống thận và ngộ độc ở mạch máu. Ngộ độc ở ống thận gồm hiện tượng không bào hóa ở biểu mô ống thận và hoặc canxi hóa trong ống thận. Ngộ độc ở mạch máu thường ảnh hưởng các nhánh xa của động mạch
Trang 8và mao mạch cầu thận) và có hình ảnh giống
như một TTVMHK gồm huyết khối trong động
mạch nhỏ với không bào thoái hóa hoặc hoại tử
của tế bào cơ trơn ở lớp áo giữa, phồng tế bào
nội mô mạch máu, hoại tử tế bào nội mô, ly giải
khoảng gian mạch, huyết khối trong mao mạch
cầu thận với các mảnh vỡ hồng cầu, phù nề
dạng nhầy lớp áo trong của động mạch gian tiểu
thùy. Hyaline hóa dạng nốt hoặc dạng chuỗi hạt
ở các tiểu động mạch và các động mạch nhỏ là
tổn thương nổi bật nhất trong ngộ độc ức chế
calcineurine mạn tính ở mạch máu. Có thể kèm
theo những dải xơ hóa mô kẽ và teo ống thận(3).
Trong các trường hợp ngộ độc trên, đa số có
biểu hiện tổn thương hayline hóa mạch máu. 1
trường hợp tổn thương ống thận với các không
bào khá đặc trưng. 1 trường hợp lắng đọng
canxi trong bào tương tế bào ống thận. Trường
hợp tổn thương TTVMHK chỉ có huyết khối
fibrin trong lòng mao mạch một số quai mao
mạch ở 1 cầu thận và nhuộm nhưng lâm sàng có
tăng cao nồng độ tacrolimus trong máu ở mức
ngộ độc nên được chẩn đoán TTMHC cấp nghĩ
nhiều do ngộ độc ức chế calcineurin.
Các trường hợp nhiễm Poliomavirus
Polyomavirus gồm 3 loại BK virus, JC virus
và SV virus. Bệnh nhân ghép thận có tình trạng
suy giảm miễn dịch có nhiều nguy cơ nhiễm
bệnh. Bệnh thận do nhiễm poliomavirus chiếm
tỷ lệ khoảng 8% bệnh nhân ghép thận. Hầu hết
nhiễm virus không có triệu chứng và thường
xảy ra ở 3 tháng đầu sau ghép(1).
Kết quả trên cho thấy trong 8 trường hợp
nhiễm Polyomavirus, 50% xảy ra trong 3 tháng
đầu sau ghép, 1 trường hợp nhiễm BK sớm phát
hiện chỉ 7 tuần sau ghép. 3 trường hợp còn lại
phát hiện 4 tháng, 5 tháng và 9 tháng sau ghép.
Tổn thương VOTMK trong nhiễm virus này
thường gặp và có hình ảnh giống như của thải
nhuộm dương tính của tế bào biểu mô ống thận với kháng thể kháng SV40 virus.
Các trường hợp khác
Có 4 trường hợp bệnh IgA tái phát với lắng đọng IgA dạng hạt ở khoảng gian mạch và kết quả phân loại 6 theo Banff 97. Ghi nhận có tất cả
30 trường hợp bệnh thận IgA nguyên phát. Tỷ lệ bệnh IgA tái phát # 13% thấp hơn nhiều so với D’Agati (30% ‐ 50%)(3). Có 1 trường hợp bệnh cầu thận màng tái phát và chỉ ghi nhận được 1 trường hợp BCTM nguyên phát. Trường hợp này được sinh thiết vì nghi thải ghép cấp với tăng creatinine máu và có kết quả GPB phân loại
3 theo Banff 97. Theo D’Agati, tỷ lệ BCTM tái phát khá thấp (#10%) và hầu hết các trường hợp bệnh thận tái phát đều phát hiện tình cờ khi sinh thiết vì thải ghép cấp(3).
Trường hợp bệnh viêm cầu thận hoại tử tạo liềm được sinh thiết sau ghép 3 tháng vì tăng creatinine máu. Bệnh thận nguyên phát là xơ hóa cầu thận khu trú từng phần và được ghép thận từ người cho chết. Kết quả GPB phân loại 6 theo Banff với viêm cầu thận hoại tử tạo liềm với đặc điểm hình thái học và HMMD phù hợp với một viêm cầu thận tăng sinh hoại tử ít kháng thể.
Trong 2 trường hợp chẩn đoán bệnh màng đáy mỏng, 1 trường hợp bệnh thận nguyên phát ĐTĐ và 1 trường hợp bệnh viêm mạch máu ANCA. Kết quả sinh thiết thận ghép đều phân loại 6 theo Banff. Tuy nhiên, 2 trường hợp này đều có nhiều hồng cầu trong ống thận nguồn gốc từ cầu thận, mô thận được tái xử lý để khảo sát kính hiển vi điện tử và được chẩn đoán xác định bệnh màng đáy mỏng.
KẾT LUẬN
Với các trường hợp thận ghép ngay sau tái tưới máu, tổn thương ống thận cấp (TTOTC) hay gặp nhất chiếm 57%. Trong 310 mẫu sinh
Trang 92 gồm TGCTD và TGTDMTHD, phân loại 4
chiếm 8% gồm TGCTB loại IA và TGCTB loại IB
và 2% phân loại 5.
Kết quả GPB thận ghép có thể phức tạp với
rất nhiều phân loại kết hợp đặc biệt là những
trường hợp thận ghép đã lâu và/hoặc đã trải qua
nhiều lần thải ghép hoặc suy chức năng thận
ghép. Sinh thiết thận để khảo sát GPB trong thận
ghép vẫn được xem là một công cụ nhạy bén
nhất để phát hiện và chẩn đoán loại thải ghép,
chẩn đoán các bệnh lý sau ghép thận, từ đó giúp
ích cho điều trị, theo dõi và tiên lượng chức
năng thận ghép.
Lời cảm ơn: Chân thành cảm ơn sự tài trợ của ISN và Gia
Đình Samalsi đã tài trợ cho tôi học GPB về thận tại Bệnh viện
Hoàng Gia Melbourne từ tháng 3/2012 đến tháng 3/2013 để
tôi có thể thực hiện bài viết này. Chân thành cám ơn Moira
Finlay, Anand Murugasu, Anthony Landgren – Khoa Giải Phẫu
Bệnh Bệnh Viện Hoàng Gia Melbourne đã hướng dẫn tôi học
GPB về thận trong thời gian trên.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bohl DL, Brennan DC (2007), “BK Vỉrus Nephropathy and
Kidney Transplantation”, Clinical Journal American Society
of Nephrology, 2, p.S36‐46.
2 Bohmig GA, Exner M (2002), “Capillary C4d deposition in kidney allografts: a specific marker of alloantibody‐ dependent graft injury”, Journal American Society of Nephrology, 13, p. 1091‐1099.
3 D’ Agati V, et al (2005), “Atlas of Nontumor pathology”, #4, ARP Press.
4 Gibson IW, Gwinner W, Brocke V, et al (2008), “Peritubular Capillaritis in Renal Allograft: Prevalence, Scoring System, Reproducibility and Clinicopathological Correlates”, American Journal of Transplantation, 8, p 819‐825.
5 Phạm Văn Bùi (2010), ʺCác biến chứng nội khoa trong giai đoạn hậu ghép thậnʺ. Y Học TP Hồ Chí Minh, Tập 14, Phụ bản số 2, trang 20‐25.
6 Racusen LC, Colvin RB, Solez K, et al (2003), “Antibody‐ Mediated Rejection Criteria – an Addition to the Banff’ 97 Classification of Renal Allograft Rejection”, American Journal
of Transplantation, 10, p.708‐714.
7 Sis B, Mengel M, Haas M, Colvin RB, et al (2010), “Banff’09 Meeting Report: Antibody Mediated Graft Deterioration and Implementation of Banff Working Group”, American Journal
of Transplantation, 10, p.464‐471.
8 Trần Ngọc Sinh (2010), ʺKết quả phẫu thuật 176 trường hợp ghép thận tại Bệnh Viện Chợ Rẫy (1994‐2009) ʺ. Y Học TP Hồ Chí Minh, Tập 14, Phụ bản số 2, trang 249‐253.
Ngày nhận bài báo 12‐05‐2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25‐05‐2013 Ngày bài báo được đăng: 15–07‐2013