1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả giải phẫu bệnh của 392 mẫu sinh thiết thận ghép tại Bệnh Viện Hoàng Gia Melbourne (05/2012-03/2013)

9 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 786,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải phẫu bệnh của thận ghép là một lãnh vực còn mới trong ngành giải phẫu bệnh ở Việt Nam. Nhu cầu có một báo cáo đúc kết hệ thống các đặc điểm GPB của thận ghép dựa trên số liệu của các mẫu sinh thiết tại Bệnh Viện Hoàng Gia Melbourne là cần thiết trong tình hình hiện nay.

Trang 1

KẾT QUẢ GIẢI PHẪU BỆNH CỦA 392 MẪU SINH THIẾT THẬN GHÉP  TẠI BỆNH VIỆN HOÀNG GIA MELBOURNE (05/2012 – 03/2013)  

Trần Hiệp Đức Thắng*, Moira Finlay**, Anand Murugasu**, Anthony Landgren** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề và mục tiêu: Giải Phẫu Bệnh (GPB) của thận ghép là một lãnh vực còn mới trong ngành GPB 

ở Việt Nam. Nhu cầu có một báo cáo đúc kết hệ thống các đặc điểm GPB của thận ghép dựa trên số liệu của các  mẫu sinh thiết tại Bệnh Viện Hoàng Gia Melbourne là cần thiết trong tình hình hiện nay. 

Phương pháp: Trong thời gian 10 tháng từ 05 – 2012 đến 03 – 2013, chúng tôi đã khảo sát 392 mẫu sinh 

thiết thận ghép gửi đến Khoa GPB, Bệnh Viện Hoàng Gia Melbourne. Kết quả thận ghép được mô tả cắt ngang  dựa trên phân loại theo tiêu chuẩn Banff 1997, cập nhật 2007 và 2009. 

Kết quả: Có 82 mẫu sinh thiết thận ghép ngay sau tái tưới máu với 47 tổn thương ống thận cấp (TTOTC) 

chiếm  57%,  19  mẫu  bất  thường  từ  người  cho  (BTNC)  chiếm  20%  với  1  trường  hợp  bệnh  cầu  thận  màng  (BCTM), 12 mẫu bất thường tối thiểu (BTTT) chiếm tỷ lệ 15% và 4 hoại tử ống thận cấp (HTOTC) chiếm 5%.  Trong 310 mẫu sinh thiết thận ghép còn lại thực hiện trên 203 trường hợp, có 167 phân loại 6 chiếm 54% bao  gồm TTOTC; ngộ độc ức chế calcineurin; nhiễm BK virus; bệnh thận tái phát, 45 phân loại 3 chiếm 15%, 38  phân loại 1 chiếm 12%, 27 phân loại 2 (9%) gồm 12 thải ghép cấp thể dịch (TGCTD) và 15 thải ghép thể dịch  mạn tính hoạt động(TGTDMTHD), 26 phân loại 4 chiếm 8% gồm 12 thải ghép cấp tế bào (TGCTB) loại IA; 12  TGCTB loại IB và 7 phân loại 5 chiếm tỷ lệ 2%.  

Kết luận: Kết quả GPB thận ghép có thể phức tạp với nhiều phân loại kết hợp. Khảo sát GPB thận ghép là 

công cụ rất quan trọng để chẩn đoán các bệnh lý sau ghép thận, phát hiện và chẩn đoán loại thải ghép, từ đó giúp  ích cho điều trị, theo dõi và tiên lượng chức năng thận ghép. 

Từ khoá: hoại tử ống thận cấp ngộ độc ức chế calcineurin, thải ghép cấp, thải ghép mạn 

ABSTRACT 

PATHOLOGY RESULTS OF 392 RENAL TRANSPLANT BIOPSIES  

AT ROYAL MELBOURNE HOSPITAL (05/2012 – 03/2013) 

Tran Hiep Duc Thang, Moira Finlay, Anand Murugasu, Anthony Landgren 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2013: 88 ‐ 96 

Introduction  and  objectives: In the context of early renal transplant pathology in Viet Nam, a systemic 

report of pathology features in renal transplant biopsies based on the data of Anatomical Pathology Department 

of Royal Melbourne Hospital is necessary.  

Methods:  Over  a  ten‐month  period  (May‐2012  to  March‐2013),  we  observed  and  reported  392  renal 

transplant biopsies sent to Pathology Department of Royal Melbourne Hospital. The results were cross‐sectioned  described following classification criteria of Banff 1997 updated 2007 and 2009. 

Results: There were 82 post reperfusion transplant biopsies with 47 acute tubular injury (ATI) – 57%; 19 

donor related abnormalities  (20%)  with  1  membranous  glomerulopathy;  12  minimal  abnormalities  (15%)  and  acute  tubular  necrosis  (ATN)  –  5%.  In  the  rest  310  renal  transplant  biopsies  obtained  from  203  kidney 

* Khoa Giải phẫu bệnh, BV Nhân Dân Gia Định, ** khoa giải phẫu bệnh, bệnh viện Royal Melbourne, Úc 

Tác giả liên lạc: ThS Trần Hiệp Đức Thắng  ĐT: +84 8 38412692   Email: thangco19752003@yahoo.com 

Trang 2

transplant recipients, there were 167 of type 6 (54%) including ATI; calcineurin inhibitor (CNI) toxicity; BK  virus infection; recurrent diseases, 45 of type 3 (15%), 38 of type 1 (12%), 27 of type 2 (9%) including 12 acute  antibody‐mediated  rejection  (AbMR)  and  15  chronic  active  AbMR,  26  of  type  4  (8%)  with  12  acute  cellular  rejection (ACR) type IA; 12 ACR type IB; 1 type IIA and 1 type IIB, and 7 of type 5 (2%).  

Conclusions: Pathology features of renal transplant can be very complicated and sometimes in combination. 

Renal  biopsy  is  a  very  important  and  sensitive  tool  for  the  diagnosis  of  rejection  and  other  causes  of  graft  dysfunction.  

Keywords: acute tubular necrosis, calcineurine inhibitor toxicity, acute rejection, chronic rejection 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Mặc  dù  ghép  thận  đã  được  thực  hiện  rộng 

rãi cách đây hơn 40 năm, Ghép thận chỉ thật sự 

tiến bộ từ những năm 1983 kể từ khi các thuốc 

ức  chế  miễn  dịch  thế  hệ  mới  như  thuốc  kháng 

calcineurin  được  sử  dụng  và  tiếp  theo  đó  là  sự 

ra  đời  các  công  thức  điều  trị  kết  hợp  hiện  đại. 

Mặc  dù  những  công  thức  điều  trị  đã  được  cải 

tiến,  thải  ghép  vẫn  là  nguyên  nhân  hàng  đầu 

gây suy chức năng thận ghép. Hầu hết các bệnh 

nhân  ghép  đều  có  những  lần  suy  chức  năng 

thận ghép trong suốt cuộc đời còn lại. Tuy đã có 

nhiều  phương  pháp  chẩn  đoán  mới  như  chọc 

hút bằng kim nhỏ, xạ hình thận, sinh thiết thận 

ghép vẫn là công cụ nhạy bén nhất để chẩn đoán 

thải ghép và các bệnh lý gây mất chức năng thận 

ghép(3).  

Có  rất  nhiều  nguyên  nhân  gây  mất  chức 

năng thận ghép và đôi khi các nguyên nhân này 

phối  hợp  càng  làm  cho  bệnh  học  về  thận  ghép 

trở  nên  phức  tạp  đối  với  các  bác  sĩ  giải  phẫu 

bệnh về thận. Các tác nhân chính gây mất chức 

năng thận ghép bao gồm thải ghép, hoại tử ống 

thận  sau  phẫu  thuật,  tổn  thương  do  tưới  máu, 

ngộ  độc  thuốc  (ức  chế  canxi),  tắc  nghẽn,  tắc 

mạch máu chính, nhiễm trùng, viêm thận mô kẽ 

do dị ứng, bệnh thận tái phát(3)…  

Ở  nước  ta,  ghép  thận  đã  trở  thành  phẫu 

thuật khá phổ biến ở các bệnh viện lớn với nhiều 

báo cáo như bài viết của Trần Ngọc Sinh về kết 

quả của 176 trường hợp ghép thận từ năm 1992 

tại BV Chợ Rẫy , báo cáo của Phạm Văn Bùi về 

lâm sàng và ít liên quan đến GPB. Các báo cáo  trong  nước  liên  quan  đến  GPB  thận  ghép  hầu  như chưa thực hiện. 

Bài viết này mượn các kết quả GPB của các  sinh  thiết  thận  ghép  thực  hiện  tại  Bệnh  Viện  Hoàng Gia Melbourne để đúc kết nhằm đưa ra  một cái nhìn tổng quan về đặc điểm GPB của các  thận  ghép,  đồng  thời  nêu  lên  vai  trò  của  GPB  trong chẩn đoán, điều trị và theo dõi thận ghép. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP  

Mô  tả  cắt  ngang  các  trường  hợp  sinh  thiết  thận  ghép  gửi  đến  khoa  GPB  BV  Hoàng  Gia  Melbourne từ tháng 5 ‐ 2012 đến tháng 3 ‐ 2013.  Các mẫu thận được ngấm mô theo quy trình  riêng,  sau  đó  được  cắt  mỏng  0.5micron  và  nhuộm 4 tiêu bản với H&E, 2 tiêu bản với PAS, 1  tiêu bản với Trichrome, 2 tiêu bản với bạc, 1 tiêu  bản  nhuộm  mạch  máu  ORC‐VG.  Các  tiêu  bản  nhuộm  hóa  mô  miễn  dịch  với  IgA,  IgG,  IgM,  Fibrin,  C3,  C1q,  C4d  và  SV40  được  cắt  mỏng  2  micron.  

Các  mẫu  STT  ghép  được  đọc  bởi  3  bác  sĩ  GPB  chuyên  đọc  về  sinh  thiết  thận  (Moira  Finlay,  Anand  Murugasu,  Anthony  Landgren  tại  Khoa)  và  liên  hệ  với  lâm  sàng  qua  các  buổi  họp hàng tuần.u  

Phân  loại  các  tổn  thương  theo  tiêu  chuẩn  Banff 1997 với sửa đổi bổ sung 2003 và 2009(3,6,7).  Phân loại này dựa trên đánh giá tiêu chuẩn định  lượng các yếu tố: t‐viêm ống thận, i‐thấm nhập 

tế bào viêm đơn nhân trong mô kẽ, ah‐mức độ 

Trang 3

và  xơ  hóa  lớp  áo  trong,  mm‐mức  độ  tăng  sinh 

chất  nền  khoảng  gian  mạch,  C4d‐mức  độ 

nhuộm mao mạch với C4d. Định lượng mỗi yếu 

tố được tính bằng cách cho điểm từ 1‐3(3,4,7). 

Phân  loại  sinh  thiết  thận  ghép  theo  tiêu 

chuẩn Banff 97, sửa đổi năm 2003 và 2009 gồm: 

Mô thận ghép bình thường. 

Thay đổi qua trung gian miễn dịch dịch thể. 

Thay đổi giáp biên. 

Thải ghép qua trung gian tế bào T. 

Xơ hóa mô kẽ và teo ống thận. 

Các thay đổi khác không do thải ghép. 

Đánh giá viêm ống thận và viêm mô kẽ chỉ 

được tính ở những ống thận không teo và vùng 

mô  kẽ  không  xơ  hóa.  Những  thay  đổi  ở  phần 

chủ  mô  thận  ngay  dưới  vỏ  bao  thận  (1  –  2mm 

dưới  vỏ  bao)  như  viêm  ống  thận  và  mô  kẽ,  xơ 

hóa mô kẽ và teo ống thận đều không có ý nghĩa 

trong việc đánh giá thải ghép(3). 

Tiêu  bản  nhuộm  PAS  cho  hình  ảnh  chẩn 

đoán viêm ống thận tốt nhất(3). 

 

 

Hình 1. Viêm cầu thận, quai mao mạch thấm nhập 

bạch cầu đơn nhân  

 

Hình 2. Viêm ống thận và mô kẽ ‐ tế bào viêm vượt 

qua màng đáy ống thận 

 

Hình 3. Hoại tử ống thận cấp 

 

Hình 4. Viêm mao mạch quanh ống thận – mao mạch 

giãn rộng chứa bạch cầu đơn nhân 

Trang 4

Hình 5. C4d+, nhuộm toàn bộ chu vi các mao mạch 

quanh ống thận 

 

Hình 6. Thải ghép thể dịch mạn tính hoạt động – 

viêm cầu thận trên một bệnh cầu thận ghép mạn.  

 

 

Hình 8. Viêm động mạch 

 

Hình 9. Hoại tử fibrin của các mạch máu nhỏ ‐ v3 

 

Hình 10. Nhiễm siêu vi BK‐nhân tế bào biểu mô ống 

thận dương tính với anti SV40 

Phối hợp kết quả hóa mô miễn dịch với sang  thương hình thái học. 

Đối  chiếu  dữ  liệu  lâm  sàng  cho  chẩn  đoán  cuối cùng. 

Trang 5

sau tái tưới máu 

4 5%

47 57%

19

23%

12

C

T T OT C

BT NC

BT T T

Biểu đồ 1: Tỷ lệ các tổn thương của thận ghép 

ngay sau tái tưới máu 

Số trường hợp TTOTC gặp nhiều nhất với 47 

trường  hợp  chiếm  tỷ  lệ  57%,  tiếp  theo  là  19 

trường  hợp  BTNC  chiếm  20%;  trong  đó  có  1 

trường  hợp  bệnh  cầu  thận  màng,  BTTT  và 

HTOTC lần lượt là 12 và 4 trường hợp chiếm tỷ 

lệ 15% và 5%. 

Trong 310 mẫu thận ghép còn lại 

Tỷ lệ các phân loại theo tiêu chuẩn Banff 97 

38

9%

45 15%

25 8%

7 2%

167

54%

P L 1

P L 2

P L 3

P L4

P L5

P L 6

 

Biểu đồ 2: Tỷ lệ các loại thải ghép và các bệnh lý sau 

ghép khác theo tiêu chuẩn Banff 97 

Phân loại 6 chiếm tỷ lệ cao nhất (54%) phân 

loại 3 ít hơn (15%), 38 mẫu phân loại 1 chiếm tỷ 

lệ 12%. Phân loại 2 chiếm 9%, phân loại và 4 gần 

như  nhau  khoảng  8%.  Phân  loại  5  đơn  thuần 

thấp nhất chỉ 2%. Thật sự phân loại 5 nhiều hơn 

vì phân  loại  này  thường  kèm  với  các  phân  loại 

khác như 2,3,4,6.  

310  mẫu  sinh  thiết  thực  hiện  trên  203  bệnh 

nhân ghép thận là do có những trường hợp sinh 

thiết nhiều lần, có thể từ 2 đến 6 lần. 

Các trường hợp thải ghép cấp dịch thể 

7 26%

5 19%

6 22%

9

TGCTD C4d-TGCTDMTH

D C4d+ TGCTDMTH

D

C4d-Biểu đồ 3: Tỷ lệ các loại thải ghép thể dịch 

Có 15 mẫu thải ghép thể dịch mạn tính hoạt  động chiếm tỷ lệ cao nhất (55%); trong đó 9 mẫu 

có  C4d‐  chiếm  33%;  6  mẫu  có  C4d  +  (22%).  12  mẫu thải ghép cấp thể dịch chiếm tỷ lệ 45% với 7  mẫu C4d+ (26%) và 5 mẫu C4d‐ chiếm tỷ lệ 19%. 

Các trường hợp thải ghép cấp tế bào T 

 

Biểu đồ 4: Tỷ lệ các loại thải ghép cấp tế bào T 

Thải ghép cấp tế bào loại IA và IB chiếm tỷ lệ  cao nhất (46%), chỉ có 1 mẫu thải ghép cấp tế bào  loại IIA và 1 mẫu thải ghép loại IIB (4%). 

Các trường hợp nhiễm BK virus 

  

Biểu đồ 5: Tỷ lệ nhiễm BK virus 

Có  8  mẫu  nhiễm  BK  virus,  mẫu  nhiễm  BK  sớm nhất là 7 tuần sau ghép, mẫu nhiễm xa nhất 

là 9 tháng sau ghép. 4 mẫu nhiễm ở tháng thứ 3  sau  ghép.  3  mẫu  nhiễm  BK  kèm  tổn  thương  viêm ống thận và mô kẽ (VOTMK) khó loại trừ 

thải ghép cấp tế bào đi kèm. 

Các trường hợp ngộ độc ức chế calcineurin 

Trang 6

Có  14  mẫu  cho  thấy  khả  năng  ngộ  độc  ức 

chế calcineurin, trong đó tổn thương hyaline hoá 

ở tiểu động mạch gặp nhiều nhất với tỷ lệ 79%, 1 

trường  hợp  biểu  hiện  bằng  thuyên  tắc  vi  mạch 

huyết khối (TTVMHK ‐ TMA) cấp tính và 2 mẫu 

biểu hiện bằng tổn thương ống thận cấp với các 

không bào đối xứng và mịn và canxi lắng đọng 

trong bào tương tế bào ống thận. 

Các trường hợp khác 

Bệnh thận tái phát 

Có  4  trường  hợp  bệnh  cầu  thận  IgA  tái 

phát,  1  trường  hợp  bệnh  cầu  thận  màng 

(BCTM) tái phát.  

Các trường hợp bệnh thận mới 

1 trường hợp bệnh viêm cầu thận hoại tử tạo 

liềm,  2  trường  hợp  bệnh  màng  đáy  mỏng,  2 

trường hợp viêm đài bể thận cấp.  

BÀN LUẬN 

Với  82  trường  hợp  Sinh  thiết  thận  ghép 

sau tái tưới máu 

Kết  quả  cho  thấy  47  trường  hợp  TTOTC 

chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  (57%).  Đây  là  tổn  thương 

thường  gặp  nhất  trong  thận  ghép  sau  tái  tưới 

máu, nguyên nhân từ từ thời gian thiếu máu ấm 

hoặc lạnh kéo dài. Thời gian thiếu máu càng lâu, 

tổn  thương  càng  rõ  nét,  do  đó  TTOTC  là  biến 

chứng khởi đầu hay gặp nhất ở các thận ghép từ 

người cho chết(3).  

bờ  bàn  chải,  hiện  tượng  không  bào  hóa  trong  bào tương ống thận với đặc điểm các không bào  thường  thô  và  không  đều.  HTOTC  có  tổn  thương nặng hơn với hoại tử tế bào biểu mô ống  thận,  bong  tróc  tế  bào  biểu  mô  ống  thận  vào  lòng  ống  thận  và  thấy  được  mảnh  vỡ  tế  bào  trong lòng ống thận. 

Các  trường  hợp  BTNC  gồm  xơ  hóa  cầu  thận  khu  trú,  xơ  hóa  mô  kẽ,  teo  ống  thận,  hyaline  hóa  tiểu  động  mạch,  xơ  vữa  động  mạch.  Có  1  trường  hợp  bệnh  cầu  thận  màng  liên quan đến người cho, với đặc điểm mô học  gồm  màng  đáy  cầu  thận  dày  nhẹ  lan  tỏa,  tạo  gai  và  lắng  đọng  phức  hợp  miễn  dịch  dưới  biểu mô dọc thành mao mạch.  

Đối  với  các  trường  hợp  BTTT  còn  lại,  các  mẫu thận gần như bình thường về hình thái học.  

Với  392  mẫu  sinh  thiết  thận  ghép  sau  tái  tưới máu 

Có  167  mẫu  thận  ghép  được  phân  loại  6  theo  tiêu  chuẩn  Banff  chiếm  tỷ  lệ  cao  nhất  54%. Các mẫu này bao gồm những bất thường  rất nhẹ với thận gần như bình thường đến xơ  hóa  cầu  thận  khu  trú,  xơ  hóa  mô  kẽ,  teo  ống  thận,  hyaline  hóa  tiểu  động  mạch,  xơ  vữa  động  mạch,  HTOTC,  ngộ  độc  ức  chế  calcineurin,  nhiễm  BK  virus,  thuyên  tắc  vi  mạch  máu  huyết  khối,  các  bệnh  thận  tái  phát  gồm  bệnh  thận  IgA;  bệnh  cầu  thận  màng,  các  bệnh  thận  mới  gồm  viêm  cầu  thận  hoại  tử;  bệnh màng đáy mỏng, viêm đài bể thận cấp. 

Các trường hợp thải ghép cấp tế bào T 

Thải ghép cấp  qua  trung  gian  tế  bào  là  loại  thải ghép phổ biến nhất, chủ yếu qua trung gian 

tế bào lympho T. Thời điểm hay gặp nhất từ 1 – 

6  tháng  sau  ghép  nhưng  cũng  có  thể  xuất  hiện 

và  tiến  triển  nhiều  năm  sau  ghép.  30%  bệnh  nhân  nhận  thận  từ  người  cho  chết  sẽ  bị  thải  ghép  này  trong  vòng  1  năm  và  hầu  hết  xảy  ra 

Trang 7

(IA ‐> IB) > ¾ trường hợp, < ½ trường hợp liên 

quan  đến  mạch  máu  gây  viêm  nội  mạc  mạch 

máu (IIA ‐> IIB ‐> III) và <10% liên quan đến cầu 

thận gây viêm cầu thận. Kết quả cũng cho thấy 

tỷ  lệ  thải  ghép  loại  IA  và  IB  chiếm  đến  92% 

TGCTB,  chỉ  có  8%  thải  ghép  loại  IIA  và  IIB  và 

không có trường hợp nào loại III. 

HMMD  trong  TGCTB  không  đặc  hiệu,  có 

thể bắt C3 dạng sợi hoặc dạng hạt ở thành ống 

thận.  Với  các  thải  ghép  loại  II,  HMMD  cũng 

thường  âm  tính  chứng  tỏ  đây  là  một  dạng  của 

thải ghép tế bào mà không phải là thải ghép thể 

dịch. Đôi khi lắng đọng IgM, C3, C1q bên trong 

lớp  áo  trong  của  mạch  máu  do  protein  huyết 

tương bị giữ lại tại đây(3). 

Các lần sinh thiết lập lại cho thấy thải ghép 

đáp ứng tốt với điều trị. Hầu hết các trường hợp 

cải thiện sau 1 – 2 lần sinh thiết lại, từ phân loại 4 

trở thành phân loại 3 hoặc phân loại 5/6.  

Các  trường  hợp  thay  đổi  qua  trung  gian  thể 

dịch 

Thải ghép thể dịch xảy ra ở bất cứ thời điểm 

nào sau ghép. Chủ yếu gây tổn thương các mạch 

máu  giống  như  dạng  thải  ghép  chậm  của  thải 

ghép tối cấp. 

Hình  ảnh  sớm  nhất  là  bạch  cầu  đa  nhân 

thấm nhập ở các mao mạch quanh ống thận. Sau 

đó  là  tổn  thương  nội  mô  mạch  máu  với  bám 

bạch  cầu  đa  nhân,  huyết  khối  mao  mạch  cầu 

thận và các động mạch nhỏ. Lâu hơn có thể có 

hoại tử tế bào nội mô mao mạch cầu thận, ly giải 

chất nền gian mạch giống như trong TTVMHK. 

Thải ghép thể dịch type III gây viêm động mạch 

xuyên thành, hoại tử dạng fibrrin – hoại tử lớp 

cơ trơn lớp áo giữa(3). 

Kết  quả  nhuộm  HMMD  trong  TGCTD 

thường  bắt  không  đặc  hiệu  với  các  kháng  thể 

IgG, IgM, C3 dọc tế bào nội mô mao mạch cầu 

thận và mao mạch quanh ống thận(3).  

Xuất độ thải ghép đã giảm đi từ khi sử dụng 

cyclosprine nhưng với sự sử dụng C4d và kháng 

thể  đặc  hiệu  với  người  cho  đã  giúp  phát  hiện 

nhiều trường hợp thải ghép thể dịch. C4d gọi là  dương tính khi nhuộm mạnh và lan tỏa các mao  mạch  quanh  ống  thận  và/hoặc  các  mao  mạch  cầu  thận(3,7).  Theo  Bohmig  và  Exner,  C4d  có  độ  đặc hiệu cao 93% nhưng độ nhạy thấp 36%. C4d  dương  tính  rất  có  ý  nghĩa  để  chẩn  đoán  thải  ghép thể dịch(2).  

Trong các mẫu sinh thiết thận ghép trên, có  những trường hợp thải ghép thể dịch vẫn được  chẩn  đoán  dù  C4d  âm  tính  chiếm  52%  gồm  có  33% TGTDMHD và 19% TGCTD.  

Thải  ghép  thể  dịch  có  tiên  lượng  kém.  Với  các  phương  pháp  điều  trị  phối  hợp  như  thay  huyết tương kết hợp với mycophenolate mofetil 

và  tacrolimus,  tỷ  lệ  hồi  phục  tạng  ghép  là  50‐ 60% so với 95% của thải ghép tế bào(2). Trong 27  mẫu  sinh  thiết  từ  15  trường  hợp,  có  3  trường  hợp kèm theo thải ghép cấp tế bào. Các lần sinh  thiết lập lại cho thấy thải ghép đáp ứng kém với  điều trị, chỉ có 1 trường hợp sinh thiết lại lần 3  cho thấy cải thiện từ phân loại 2 sang phân loại 

5,  các  trường  hợp  khác  chỉ  thấy  chuyển  từ  thải  ghép  cấp  sang  thải  ghép  mạn  tính  hoạt  động  hoặc thải  ghép  mạn  tính,  hoặc  chỉ  thấy  từ  thay  đổi từ C4d + thành C4d ‐. 

Các trường hợp ngộ độc ức chế calcineurin 

Ngộ độc ức chế calcineurin có thể khó chẩn  đoán  ở  thận  ghép  do  đặc  tính  hình  ảnh  giống  như mô thận giữa những lần thải ghép. Ngộ độc 

có thể cấp hoặc mạn tính và ảnh hưởng hết cả 4  thành  phần  của  thận  gồm  ống  thận,  mô  kẽ,  mạch  máu  và  cầu  thận.  Sự  hiện  diện  của  thải  ghép  không  loại  trừ  hoàn  toàn  được  một  ngộ  độc, vì vậy cần có sự tương quan giữa lâm sàng 

và giải phẫu bệnh để có chẩn đoán chính xác.  Ngộ  độc  có  thể  cấp  hoặc  mạn.  Trong  ngộ  độc cấp, giai đoạn đầu có ngộ độc chức năng do  giảm  lưu  lượng  máu  và  giảm  độ  lọc  cầu  thận,  không có bất thường  về  hình  thái  học.  Trễ  hơn 

có  ngộ  độc  cấp  ở  các  ống  thận  và  ngộ  độc  ở  mạch máu. Ngộ độc ở ống thận gồm hiện tượng  không  bào  hóa  ở  biểu  mô  ống  thận  và  hoặc  canxi hóa trong ống thận. Ngộ độc ở mạch máu  thường ảnh hưởng các nhánh xa của động mạch 

Trang 8

và  mao  mạch  cầu  thận)  và  có  hình  ảnh  giống 

như một TTVMHK gồm huyết khối trong động 

mạch nhỏ với không bào thoái hóa hoặc hoại tử 

của  tế  bào  cơ  trơn  ở  lớp  áo  giữa,  phồng  tế  bào 

nội mô mạch máu, hoại tử tế bào nội mô, ly giải 

khoảng gian mạch, huyết khối trong mao mạch 

cầu  thận  với  các  mảnh  vỡ  hồng  cầu,  phù  nề 

dạng nhầy lớp áo trong của động mạch gian tiểu 

thùy. Hyaline hóa dạng nốt hoặc dạng chuỗi hạt 

ở các tiểu động mạch và các động mạch nhỏ là 

tổn  thương  nổi  bật  nhất  trong  ngộ  độc  ức  chế 

calcineurine mạn tính ở mạch máu. Có thể kèm 

theo những dải xơ hóa mô kẽ và teo ống thận(3).  

Trong các trường hợp ngộ độc trên, đa số có 

biểu hiện tổn thương  hayline  hóa  mạch  máu.  1 

trường hợp tổn thương ống thận với các không 

bào  khá  đặc  trưng.  1  trường  hợp  lắng  đọng 

canxi trong bào tương tế bào ống thận. Trường 

hợp  tổn  thương  TTVMHK  chỉ  có  huyết  khối 

fibrin  trong  lòng  mao  mạch  một  số  quai  mao 

mạch ở 1 cầu thận và nhuộm nhưng lâm sàng có 

tăng  cao  nồng  độ  tacrolimus  trong  máu  ở  mức 

ngộ độc nên được chẩn đoán TTMHC cấp nghĩ 

nhiều do ngộ độc ức chế calcineurin. 

Các trường hợp nhiễm Poliomavirus 

Polyomavirus gồm 3 loại BK virus, JC virus 

và SV virus. Bệnh nhân ghép thận có tình trạng 

suy  giảm  miễn  dịch  có  nhiều  nguy  cơ  nhiễm 

bệnh.  Bệnh  thận  do  nhiễm  poliomavirus  chiếm 

tỷ lệ khoảng 8% bệnh nhân ghép thận. Hầu hết 

nhiễm  virus  không  có  triệu  chứng  và  thường 

xảy ra ở 3 tháng đầu sau ghép(1).  

Kết  quả  trên  cho  thấy  trong  8  trường  hợp 

nhiễm Polyomavirus, 50% xảy ra trong 3 tháng 

đầu sau ghép, 1 trường hợp nhiễm BK sớm phát 

hiện  chỉ  7  tuần  sau  ghép.  3  trường  hợp  còn  lại 

phát hiện 4 tháng, 5 tháng và 9 tháng sau ghép.  

Tổn thương VOTMK trong nhiễm virus này 

thường gặp và  có  hình  ảnh  giống  như  của  thải 

nhuộm dương tính của tế bào biểu mô ống thận  với kháng thể kháng SV40 virus.  

Các trường hợp khác 

Có 4 trường hợp bệnh IgA tái phát với lắng  đọng IgA dạng hạt ở khoảng gian mạch và kết  quả phân loại 6 theo Banff 97. Ghi nhận có tất cả 

30 trường hợp bệnh thận IgA nguyên phát. Tỷ lệ  bệnh IgA tái phát # 13% thấp hơn nhiều so với  D’Agati (30% ‐ 50%)(3). Có 1 trường hợp bệnh cầu  thận  màng  tái  phát  và  chỉ  ghi  nhận  được  1  trường  hợp  BCTM  nguyên  phát.  Trường  hợp  này  được  sinh  thiết  vì  nghi  thải  ghép  cấp  với  tăng creatinine máu và có kết quả GPB phân loại 

3  theo  Banff  97.  Theo  D’Agati,  tỷ  lệ  BCTM  tái  phát khá thấp (#10%) và hầu hết các trường hợp  bệnh thận tái phát đều phát hiện tình cờ khi sinh  thiết vì thải ghép cấp(3). 

Trường hợp bệnh viêm cầu thận hoại tử tạo  liềm  được  sinh  thiết  sau  ghép  3  tháng  vì  tăng  creatinine  máu.  Bệnh  thận  nguyên  phát  là  xơ  hóa  cầu  thận  khu  trú  từng  phần  và  được  ghép  thận từ người cho chết. Kết quả GPB phân loại 6  theo Banff với viêm cầu thận hoại tử tạo liềm với  đặc điểm hình thái học và HMMD phù hợp với  một  viêm  cầu  thận  tăng  sinh  hoại  tử  ít  kháng  thể.  

Trong  2  trường  hợp  chẩn  đoán  bệnh  màng  đáy mỏng, 1 trường hợp bệnh thận nguyên phát  ĐTĐ  và  1  trường  hợp  bệnh  viêm  mạch  máu  ANCA.  Kết  quả  sinh  thiết  thận  ghép  đều  phân  loại  6  theo  Banff.  Tuy  nhiên,  2  trường  hợp  này  đều  có  nhiều  hồng  cầu  trong  ống  thận  nguồn  gốc từ cầu thận, mô thận được tái xử lý để khảo  sát kính hiển vi điện tử và được chẩn đoán xác  định bệnh màng đáy mỏng.  

KẾT LUẬN 

Với  các  trường  hợp  thận  ghép  ngay  sau  tái  tưới  máu,  tổn  thương  ống  thận  cấp  (TTOTC)  hay  gặp  nhất  chiếm  57%.  Trong  310  mẫu  sinh 

Trang 9

2  gồm  TGCTD  và  TGTDMTHD,  phân  loại  4 

chiếm 8% gồm TGCTB loại IA và TGCTB loại IB 

và 2% phân loại 5. 

Kết quả GPB thận ghép có thể phức tạp với 

rất  nhiều  phân  loại  kết  hợp  đặc  biệt  là  những 

trường hợp thận ghép đã lâu và/hoặc đã trải qua 

nhiều  lần  thải  ghép  hoặc  suy  chức  năng  thận 

ghép. Sinh thiết thận để khảo sát GPB trong thận 

ghép  vẫn  được  xem  là  một  công  cụ  nhạy  bén 

nhất  để  phát  hiện  và  chẩn  đoán  loại  thải  ghép, 

chẩn đoán các bệnh lý sau ghép thận, từ đó giúp 

ích  cho  điều  trị,  theo  dõi  và  tiên  lượng  chức 

năng thận ghép. 

Lời  cảm  ơn:  Chân  thành  cảm  ơn  sự  tài  trợ  của  ISN  và  Gia 

Đình Samalsi đã tài trợ cho tôi học GPB về thận tại Bệnh viện 

Hoàng  Gia  Melbourne  từ  tháng  3/2012  đến  tháng  3/2013  để 

tôi  có  thể  thực  hiện  bài  viết  này.  Chân  thành  cám  ơn  Moira 

Finlay, Anand Murugasu, Anthony Landgren – Khoa Giải Phẫu 

Bệnh  Bệnh  Viện  Hoàng  Gia  Melbourne  đã  hướng  dẫn  tôi  học 

GPB về thận trong thời gian trên. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bohl  DL,  Brennan  DC  (2007),  “BK  Vỉrus  Nephropathy  and 

Kidney  Transplantation”,  Clinical  Journal  American  Society 

of Nephrology, 2, p.S36‐46. 

2 Bohmig  GA,  Exner  M  (2002),  “Capillary  C4d  deposition  in  kidney  allografts:  a  specific  marker  of  alloantibody‐ dependent  graft  injury”,  Journal  American  Society  of  Nephrology, 13, p. 1091‐1099. 

3 D’ Agati V, et al (2005), “Atlas of Nontumor pathology”, #4,  ARP Press. 

4 Gibson  IW,  Gwinner  W,  Brocke  V,  et  al  (2008),  “Peritubular  Capillaritis  in  Renal  Allograft:  Prevalence,  Scoring  System,  Reproducibility  and  Clinicopathological  Correlates”,  American Journal of Transplantation, 8, p 819‐825. 

5 Phạm  Văn  Bùi  (2010),  ʺCác  biến  chứng  nội  khoa  trong  giai  đoạn hậu ghép thậnʺ.  Y  Học  TP  Hồ  Chí  Minh,  Tập  14,  Phụ  bản số 2, trang 20‐25.  

6 Racusen  LC,  Colvin  RB,  Solez  K,  et  al  (2003),  “Antibody‐ Mediated  Rejection  Criteria  –  an  Addition  to  the  Banff’  97  Classification of Renal Allograft Rejection”, American Journal 

of Transplantation, 10, p.708‐714. 

7 Sis  B,  Mengel  M,  Haas  M,  Colvin  RB,  et  al  (2010),  “Banff’09  Meeting Report: Antibody Mediated Graft Deterioration and  Implementation of Banff Working Group”, American Journal 

of Transplantation, 10, p.464‐471. 

8 Trần Ngọc Sinh (2010), ʺKết quả phẫu thuật 176 trường hợp  ghép thận tại Bệnh Viện Chợ Rẫy (1994‐2009) ʺ. Y Học TP Hồ  Chí Minh, Tập 14, Phụ bản số 2, trang 249‐253.  

 

Ngày nhận bài báo      12‐05‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  25‐05‐2013  Ngày bài báo được đăng:   15–07‐2013   

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 17:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w