1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá ban đầu giá trị của kỹ thuật ghi hình xung lực xạ âm trong dự đoán giai đoạn xơ hóa gan trên bệnh nhân bị bệnh gan mạn

7 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 401,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết đề cập đến: Xung lực xạ âm (ARFI) là một kỹ thuật mới không xâm lấn dùng để đánh giá giai đoạn xơ hóa gan trong bệnh gan mãn. Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định giá trị chẩn đoán của ARFI trong dự đoán giai đoạn xơ hóa ở những bệnh nhân có bệnh gan mãn.

Trang 1

XUNG LỰC XẠ ÂM TRONG DỰ ĐOÁN GIAI ĐOẠN XƠ HÓA GAN  

TRÊN BỆNH NHÂN BỊ BỆNH GAN MẠN 

Trần Thị Khánh Tường*, Hoàng Trọng Thảng** 

TÓM TẮT  

Tổng quan và mục tiêu: Xung lực xạ âm (ARFI) là một kỹ thuật mới không xâm lấn dùng để đánh giá 

giai đoạn xơ hóa gan trong bệnh gan mãn. Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định giá trị chẩn đoán của ARFI  trong dự đoán giai đoạn xơ hóa ở những bệnh nhân có bệnh gan mãn. 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện trên 30 bệnh nhân bị bệnh gan mãn 

tính, trong đó có 12 trường hợp xơ gan và 18 trường hợp không xơ gan. 20 trường hợp được sinh thiết gan để  đánh giá xơ hóa bằng hệ thống Metavir. Tất cả bệnh nhân đều thực hiện kỹ thuật ARFI và được đo vận tốc sóng  biến dạng (SWV). Các giá trị ngưỡng được xác định bằng cách phân tích đường cong ROC. 

Kết  quả:  Xơ  hóa  gan  xác  định  bằng  giải  phẫu  bệnh  được  đánh  giá  bằng  thang  điểm  METAVIR;  F0:  2 

trường hợp, F1: 10 trường hợp, F2: 3 trường hợp, F3: 3 trường hợp và F4: 2 trường hợp. 10 trường hợp xơ gan  không sinh thiết gan, được chẩn đoán bởi các dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng. ARFI có tương quan đáng kể  với mức độ xơ hóa (Spearman rho: 0,738, p <0,001). Diện tích dưới đường cong ROC 0,98 (khoảng tin cậy 95%:  0,95‐0,99) đối với F2‐F4; 0,93 (0,81‐0,99) đối với F3‐F4 và 0,92 (0,81‐0,99) đối với F4. Giá trị ngưỡng của vận  tốc sóng biến dạng (SWV) như sau: ≥ 1,31 m/ s cho F2‐F4 (độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 83,33%); ≥ 1,48 m/s cho 

F3‐F4 (độ nhạy 93,33%, độ đặc hiệu 86,67%) và ≥ 1,58 m/s cho F4 (độ nhạy 91,67%, độ đặc hiệu 83,33%). 

Kết luận: Vận tốc sóng biến dạng của ARFI tương quan với mức độ của xơ hóa gan. Kỹ thuật siêu âm đàn 

hồi ARFI là một phương pháp mới không xâm lấn và đáng tin cậy để đánh giá xơ hóa gan ở những bệnh nhân có 

bệnh gan mãn. 

ABSTRACT 

ASSESSING PRELIMINARILY THE VALUE OF ACOUSTIC RADIATION FORCE IMPULSE IMAGING 

FOR PREDICTION OF STAGING OF LIVER FIBROSIS  

IN PATIENTS WITH CHRONIC HEPATIC DISEASE 

Tran Thi Khanh Tuong, Hoang Trong Thang 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 159 ‐ 165  Background / Objectives: Acoustic radiation force impulse (ARFI) is a novel noninvasive technology for 

the  assessment  of  stage  of  liver  fibrosis  in  chronic  hepatic  disease.  This  study  aimed  to  validate  the  diagnostic  usefulness of ARFI for prediction of staging of liver fibrosis in patients with chronic liver disease. 

Patients and Methods: The study was carried out on 30 patients with chronic hepatic disease including 12 

cases of cirrhosis and 18 cases of noncirrhosis. 20 cases underwent a liver biopsy for histological assessment of  liver  fibrosis  by  the  Metavir  scoring  system.  All  of  patients  were  evaluated  by  ARFI  elastography  and  was  expressed  as  the  shear  wave  velocity  (SWV).  Cut‐off  values  were  determined  using  receiver‐operating  characteristic (ROC) curves. 

Results: Histological liver fibrosis was evaluated by Metavir scoring; F0: 2 cases, F1: 10 cases, F2: 3 cases, 

* Bộ môn Nội ‐ Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, ** Bộ môn Nội ‐ Trường Đại học Y Dược Huế 

Tác giả liên lạc: ThS BS Trần Thị Khánh Tường , ĐT: 0903164690, Email: drkhanhtuong@gmail.com    

Trang 2

signslaboratory  tests.  ARFI  quantification  correlated  significantly  with  the  fibrosis  stage  (Spearman  rho:   0.738,p < 0.001). The areas under the ROC curves were 0.98 (95% confidence intervals: 0.95‐0.99) for F2‐F4,  0.93 (0.81‐0.99) for F3‐F4 and 0.92 (0.81‐ 0.99) for F4. The cut‐off values of the shear wave velocity (SWV) were 

as follows: ≥1.31 m/s for F2‐F4 (sensitivity 100%, specificity 83.33%); ≥1.48 m/s for F3‐F4 (sensitivity 93.33%,  specificity 86.67%) and ≥1.58 m/s for F4 (sensitivity 91.67%, specificity 83.33%). 

Conclusions:  Increasing  ARFI  velocities  correlate  with  high  degree  of  hepatic  fibrosis.  Ultrasonic  ARFI 

elastography  is  a  novel,  non‐invasive  and  reliable  method  for  the  assessment  of  liver  fibrosis  in  patients  with  chronic liver disease. 

Key words: liver fibrosis, chronic hepatic disease, acoustic radiation force impulse imaging (ARFI).  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh gan mạn là nguyên nhân quan trọng 

gây bệnh nặng và tử vong trên thế giới(5). Hầu 

hết  các  nguyên  nhân  gây  bệnh  gan  mạn  đều 

dẫn đến xơ hóa gan. Xơ hóa gan tiến triển đến 

xơ  gan  là  biểu  hiện  chính  trong  hầu  hết  các 

bệnh gan mạn. Chẩn đoán, chỉ định điều trị và 

tiên lượng bệnh gan mạn phụ thuộc phần lớn 

vào  mức  độ  xơ  hóa  gan(4).  Xơ  hóa  gan  là  hậu 

quả của tổn thương mạn tính ở gan biểu hiện 

bởi  sự  tích  tụ  các  thành  phần  chất  đệm  ngoài 

tế  bào  (Extracellular  matrix),  xảy  ra  cho  hầu 

hết các loại bệnh lý gan mạn bất chấp nguyên 

nhân(4) .  Sự  tích  tụ  các  thành  phần  chất  đệm 

ngoài tế bào ảnh hưởng đến cấu trúc gan do sự 

tạo thành những sẹo xơ hóa và sau đó là thành 

lập  những  nốt  tái  tạo  tế  bào  gan  đưa  đến  xơ 

gan. Xơ gan làm rối loạn chức năng tế bào gan 

và cản trở dòng máu trong gan gây suy tế bào 

gan  và  tăng  áp  tĩnh  mạch  cửa.  Nguyên  nhân 

chính của xơ hóa gan hiện nay là viêm gan vi 

rút  B,C  mạn,  viêm  gan  rượu  và  viêm  gan 

nhiễm  mỡ  không  do  rượu.  Cho  đến  nay,  sinh 

thiết gan vẫn được xem là tiêu chuẩn vàng để 

chẩn  đoán  mức  độ  xơ  hóa  gan(9).  Tuy  nhiên, 

sinh  thiết  gan  là  phương  pháp  xâm  nhập  có 

biến  chứng,  kết  quả  có  thể  bị  ảnh  hưởng  bởi 

kích  thước  mẫu  sinh  thiết,  vị  trí  sinh  thiết  và 

phụ  thuộc  nhiều  vào  các  nhà  giải  phẫu  bệnh 

xơ hóa gan không xâm nhập hiện nay tại Việt 

Nam gồm siêu âm đàn hồi mô như kỹ thuật đo 

Elastography:    TE)  bằng  máy  Fibroscan®,  kỹ  thuật  ghi  hình  xung  bức  xạ  âm  (Acoustic  Radiation  Force  Impulse  Imaging:    ARFI);  các  thang  điểm  đơn  giản  như  chỉ  số  APRI,  FIB‐4,  Forns, Lok… và các dấu ấn sinh hóa phức tạp  mắc  tiền  như  Actitest,  Fibrotest,  ….  ARFI  là  một  kỹ  thuật  siêu  âm  đàn  hồi  rất  mới  được  nghiên  cứu  từ  2009,  được  cài  đặt  trong  dòng  máy  siêu  âm  Siemens  Acuson  S2000.  Cũng  như kỹ thuật đo độ đàn hồi thoáng qua, ARFI 

đo độ  cứng hay độ đàn hồi  của  gan  một  cách  nhanh chóng, không xâm lấn, rẻ tiền và có giá  trị  tương  đương  trong  chẩn  đoán  mức  độ  xơ  hóa  gan  nhưng  lại  vượt  trội  hơn  so  với  TE  vì 

có thể thực hiện được trên bệnh nhân có báng  bụng,  có  khoảng  gian  sườn  hẹp  và  béo  phì(2).  Tại  Việt  Nam,  chúng  ta  chưa  có  đề  tài  nào  nghiên cứu giá trị của kỹ thuật ARFI đối chiếu  với  kết  quả  giải  phẫu  bệnh,  do  đó  chúng  tôi  thực  hiện  nghiên  cứu  này  để  xác  định  giá  trị  của kỹ thuật ARFI trong chẩn đoán mức độ xơ  hóa gan của bệnh gan mạn so sánh với kết quả  giải  phẫu  bệnh,  từ  đó  có  thể  đưa  ra  những  khuyến  cáo  về  việc  áp  dụng  những  phương  pháp này trong thực hành lâm sàng.  

Mục tiêu nghiên cứu 

‐ Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kỹ thuật  ARFI trong chẩn đoán xơ hóa gan đáng kể, nặng 

và xơ gan trên bệnh nhân bị bệnh gan mạn. 

‐  Xác  định  mối  tương  quan  giữa  vận  tốc 

sóng biến dạng (SWV) với mức độ xơ hóa gan.  

Trang 3

Mức  độ  xơ  hóa  gan  theo  thang  điểm  giải 

hóa khoảng cửa, F1: xơ hóa khoảng cửa, quanh 

khoảng cửa, không có vách xơ, F2: xơ hóa quanh 

khoảng cửa với vài vách xơ, F3:  vách xơ và xơ 

hóa bắc cầu nhiều, nhưng chưa đảo lộn cấu trúc 

tiểu thùy, chưa xơ gan. F4: vách xơ, xơ hóa bắc 

cầu nhiều, đảo lộn cấu trúc tiểu thùy, xơ gan. Xơ 

hóa  nhẹ  F0‐1,  xơ  hóa  đáng  kể  (significant 

fibrosis)  khi  mức  độ  xơ  hóa  ≥  F2  (  F2‐4)  và  xơ 

hóa nặng (advanced fibrosis) khi mức độ xơ hóa 

≥ F3 (F 3‐4)(12). 

Kỹ thuật ARFI được giới thiệu đầu tiên bởi 2 

kỹ sư Mỹ Kathryn Nightingale và Gregg Trahey 

năm  2001(7).  Kỹ  thuật ARFI  được  tích  hợp  vào 

máy  siêu  âm  dòng  Acuson  S2000TM  từ  năm 

2008 của hãng Siemens có sẵn ở phòng siêu âm. 

Kỹ  thuật  ARFI  đã  và  đang  được  nghiên  cứu 

nhiều từ năm 2009 trong chẩn đoán mức độ xơ 

hóa gan tại nhiều nước như Mỹ, các nước Châu 

Âu  và  Châu  Á.  Tại  Việt  Nam,  kỹ  thuật  này  có 

mặt tại Bệnh viện (BV) Medic–Hòa hảo TP HCM 

đầu  tiên  vào  tháng  9/  2011,  Huế  tháng  11/2011 

và  Bệnh  viện  Đại  học  Y  Dược  TP  HCM  tháng 

3/2012. Kỹ thuật này hoạt động theo nguyên lý 

ghi  hình  bằng  xung  xạ  âm  có  thể  khảo  sát  các 

mô  ở  sâu  mà  không  phải  ấn  đầu  dò.  Kỹ  thuật 

ARFI kích thích cơ học mô bằng cách dùng xung 

đẩy  trong  thời  gian  ngắn  (short‐duration  push 

pulses)  trong  vùng  quan  tâm  (region  of 

interesting:    ROI  )  được  chọn.  Khi  xung  qua 

vùng ROI gây ra dời chỗ mô, mô dời chỗ và trở 

lại vị trí cũ tùy vào đặc điểm cơ học tạo nên sóng 

biến dạng (shear wave) thẳng góc xung đẩy. Tốc 

độ của mô dời chỗ hay vận tốc sóng biến dạng 

(shear wave velocity: SWV) được đo bằng chùm 

siêu  âm  quy  ước  theo  dõi  (conventional 

sonographic  tracking  beam)  cùng đầu  dò 

siêu âm dùng để tạo ra lực và phản ánh độ cứng 

hay độ đàn hồi của mô . Sóng biến dạng này có 

cường độ thấp hơn cường độ xung đè ép (1/100). 

Xung  đè  ép  dùng  vài  trăm  chu  kỳ  và  điện  thế 

khác khi so sánh với xung B‐mode chu kỳ ngắn. 

Có thể định lượng được SWV bằng cách ghi lại  mặt  sóng  biến  dạng  ở  nhiều  vị  trí  và  được  đo  bằng  mét/giây  (m/s).  SWV  tỷ  lệ  thuận  với  độ  cứng mô, SWV càng nhanh thì mô khảo sát càng  cứng.  Từ  SWV  sẽ  suy  ra  mức  độ  xơ  hóa  gan  được chia thành 4 độ tương ứng với mức độ xơ  hóa  gan  theo  Metavir.  Máy  siêu  âm  Siemens  Acuson  S2000  với  đầu  dò  cong  2‐4  MHz  được  cài đặt kỹ thuật ARFI bằng phần mềm kiểm soát  tạo hình và thuật toán phát hiện hình. Ngoài ra 

để định lượng xơ hóa gan, còn dùng thêm phần  mềm định lượng sờ ảo mô (Virtual Touch tissue  quantifcation)  cho  phép  đo  SWV  trong  vùng  quan tâm. ARFI là một kỹ thuật siêu âm đàn hồi  tiên  tiến  cho  phép  đánh  giá  nhanh  xơ  hóa  gan  không  xâm  lấn,  rẻ  tiền  và  hầu  như  không  có  phản  ứng  bất  lợi  nào.  BN  và  người  làm  đều  thoải mái và chỉ mất thời gian khoảng năm phút. 

Có  được  đồng  thuận  tốt  với  các  người  khám  khác.  Ngay  sau  khi  đánh  giá  siêu  âm  gan,  ARFI cho  thông  tin  về  mức  độ  xơ  hóa  gan tại  chỗ, mà không cần phải mua thêm máy khác. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu 

Cắt ngang phân tích.  

Dân số đích 

Bệnh  nhân  (BN)  từ  18  tuổi  trở  lên  bị  bệnh 

gan mạn ở Việt Nam. 

Dân số nghiên cứu 

BN từ 18 tuổi trở lên bị bệnh gan mạn được 

khám và điều trị tại BV Nhân Dân 115. 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

Tất  cả  các  BN  nội  và  ngoại  trú  từ  18  tuổi  trở  lên  được  chẩn  đoán  xác  định  là  bệnh  gan  mạn  gồm  viêm  gan  mạn  và  xơ  gan  tại  BV  Nhân Dân 115 . 

‐ Các BN được chẩn đoán xác định viêm gan  mạn  dựa  vào  men  gan  (AST,  ALT)  tăng  ≥  6  tháng hoặc HBsAg (+), HCV RNA (+) ≥ 6 tháng 

có  chỉ  định  sinh  thiết  gan,  được  chẩn  đoán  xác  định dựa vào kết quả giải phẫu bệnh gan. 

Trang 4

tiêu chuẩn sau:  

(1) Có ≥ 2 triệu chứng của tăng áp cửa (giãn 

tĩnh mạch thực quản, tuần hoàn bàng hệ, lách to, 

tiểu cầu < 140.000/mm3, siêu âm có tăng áp tĩnh 

mạch  cửa,  báng  bụng  có  độ  chênh  Albumin 

huyết thanh và dịch báng >1.1g/dl) và  ≥  2  triệu 

chứng  của  hội  chứng  suy  tế  bào  gan  (vàng  da, 

sao  mạch,  lòng  bàn  tay  son,  nữ  hóa  tuyến  vú, 

phù,  Albumin  giảm,  INR  tăng)  và  siêu  âm  hay 

CT scan theo dõi xơ gan. 

(2)  Kết  quả  giải  phẫu  bệnh  gan:    F4  theo 

thang điểm Metavir. 

Do  đa  số  BN  xơ  gan  đến  khám  đều  ở  giai 

đoạn  mất  bù  có  chống  chỉ  định  sinh  thiết  gan 

qua da như báng bụng, tiểu cầu giảm, INR kéo 

dài, do đó chúng tôi phải áp dụng tiêu chuẩn 1 

cho những trường hợp này. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

‐ Mẫu mô gan không đạt chuẩn ( < 5 khoảng 

cửa). 

‐ Số lần đo SWV thành công < 10 lần hay tỷ 

lệ số lần đo thành công < 60%. 

Cách tiến hành 

‐  Tất  cả  BN  thỏa  tiêu  chuẩn  chọn  bệnh  và 

loại  trừ  đều  ký  vào  bảng  cam  kết  tham  gia 

nghiên  cứu.  Đề  tài  được  thông  qua  hội  đồng 

khoa  học  của  BV  Nhân  Dân  115  và  trường  Đại 

học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. 

‐ Tất cả BN đều được hỏi bệnh sử, khám lâm 

sàng và thực hiện các xét nghiệm cần thiết theo 

mẫu thu thập số liệu. Các bệnh nhân có chỉ định 

sinh thiết gan và không có chống chỉ định sinh 

thiết gan sẽ được tiến hành sinh thiết tại phòng 

siêu  âm  của  BV  Nhân  Dân  115  bằng  súng  sinh 

thiết  tự  động  Bard  sản  xuất  tại  Mỹ.  Tất  cả  BN 

đều  được  thực  hiện  kỹ  thuật  ARFI  cài  đặt  trên 

máy Siemens ACUSON S2000 trong vòng 2 tuần 

trước  hay  sau  khi  sinh  thiết  gan  tại  BV  Medic–

Hòa hảo TP HCM. Phân tích mẫu mô sinh thiết 

gan  do  nhà  GPB  của  Bộ  môn  GPB  trường  Đại 

học  Y  khoa  Phạm  Ngọc  Thạch  tu  nghiệp  nước  ngoài thực hiện. 

Thu thập số liệu 

Theo phiếu thu thập mẫu . 

Xử lý số liệu 

Bằng phần mềm thống kê STATA 12. 

‐ Tính độ nhạy, độ đặc hiệu theo từng giá trị  ngưỡng  (cut‐off)  của  SWV  chọn  ra  giá  trị  ngưỡng tốt nhất. 

‐ Xác định độ chính xác của SWV trong chẩn  đoán mức độ xơ hóa bằng phân tích đường cong  ROC  (Receiver  Operating  Characteristic)  gồm  diện  tích  dưới  đường  cong  (AUC:  Area  Under 

de ROC Curve), khoảng tin cậy (KTC). 

‐  Đánh  giá  mối  tương  quan  giữa  các  2  biến 

số  bằng  tương  quan  thứ  bậc  Spearman 

(Spearman rho).  

‐ So sánh trung bình của 3 nhóm trở lên bằng  phân tích phương sai (One‐way Anova) 

‐ Kết quả có ý nghĩa khi p < 0,05. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Trong  thời  gian  từ  tháng  10/  2012‐  3/2013,  chúng  tôi  thu  thập  được  30  ca  đủ  tiêu  chuẩn  chẩn đoán. Trong đó 20 ca được chẩn đoán xác  định dựa vào kết quả GPB, 10 ca xơ gan không  sinh  thiết  gan  do  báng  bụng,  được  chẩn  đoán  theo tiêu chuẩn lâm sàng và cận lâm sàng. 10 ca 

xơ gan này được xếp chung với nhóm có kết quả  giải phẫu bệnh là F4 (theo Metavir). 20 ca được  sinh thiết gan đều thành công ( có số khoảng cửa  trên  5)  và  tất  cả  30  BN  đo  SWV  bằng  kỹ  thuật  ARFI đều thành công, nghĩa là mỗi ca đều được 

đo 10 lần và thành công cả 10 lần, giá trị SWV là  giá trị trung bình của 10 lần đo. 

Tuổi trung bình 52.63± 12.12 

Nữ 10 ca, chiếm tỷ lệ 33%; nam 20 ca, chiếm 

tỷ lệ 67% 

Nguyên  nhân  gây  bệnh  gan  mạn  gồm  7  ca 

do  HCV,  4  ca  do  HBV,  6  ca  do  rượu,  12  ca  do  viêm gan nhiễm  mỡ  không  do  rượu,  1  ca  viêm  gan tự miễn. 

Trang 5

Đặc điểm F0 F1 F2 F3 F4 p

Số ca 2 (6,67%) 10 (33%) 3 (10%) 3 (10%) 12 (40%)

ALT(IU/L) 52±24,04 53,1± 14,79 41± 14,52 29,63± 14,19 41,17± 14,08 0,14

AST 43,5± 30,40 39,4± 13,68 27,33± 5,13 28,73± 15,42 57,08± 13,61 0,0065

Albumin g/dl 4,63± 0,18 4,37± 0,59 4,46± 0,17 4,27± 0,07 3,26± 0,61 0,0002 Bilirubin (mg/dl) 0,79± 0,04 0,72± 0,15 0,88± 0,09 0,68± 0,26 1,85± 0,72 0,0001 INR 0,93± 0,08 0,94± 0,05 0,98± 0,03 0,99± 0,11 1,67± 0,48 0,0002 SWV 1,27± 0,11 1,18± 0,14 1,57± 0,34 1,59± 0,14 1,83± 0,34 0,0001

Bảng 2: Độ chính xác của kỹ thuật ARFI trong chẩn 

đoán mức độ xơ hóa gan 

AUC Độ lệch chuẩn Khoảng tin cậy 95%

F 2-4 0,98 0,02 0,95‐0,99

F 3-4 0,93 0,06 0,81-0,99

F4 0,92 0,06 0,81-0,99

Bảng 3: Độ nhạy, độ đặc hiệu của kỹ thuật ARFI 

trong chẩn đoán mức độ xơ hóa gan 

Giá trị ngưỡng

của SWV (m/s)

Độ nhạy Độ đặc hiệu

F 2-4 1,31 100% 83,33%

F 3-4 1,48 93,33% 86,67%

F4 1,58 91,67% 83,33%

Mối  tương  quan  giữa  SWV  của ARFI với 

mức độ xơ hóa gan theo thang điểm Metavir ( từ 

0 đến 4) có Spearman rho = 0,738 với p <0.0001. 

BÀN LUẬN 

Đặc điểm dân số nghiên cứu 

Tỷ  lệ  bệnh  nhân  nam  trong  nhóm  nghiên 

cứu  cao  gấp  2  lần  nữ  phù  hợp  với  đa  số  các 

nghiên  cứu  trong  và  ngoài  nước,  tỷ  lệ  bệnh 

gan mạn ở nam cao gấp 1,5‐ 2,2 lần so với nữ(1). 

Độ  tuổi  trung  bình  trong  nghiên  cứu  của 

chúng tôi tương tự với kết quả nghiên cứu của 

tác  giả  trong  và  ngoài  nước(10,1).  Nhìn  chung, 

bệnh  lý  chủ  mô  gan  mạn  tính  thường  gặp  ở 

lứa tuổi trung niên. 

Một số đặc điểm cận lâm sàng của các mức 

độ xơ hóa 

Ngoài trừ ALT, giá trị trung bình của các xét 

nghiệm  khác  như  AST,  Bilirubin,  Albumin  và 

INR có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các 

mức  độ  xơ  hóa.  Điều  này  cũng  phù  với  y  văn 

ngưỡng AST liên quan đến mức độ xơ hóa gan, 

còn ALT thì không liên quan(6). Nhóm xơ gan có 

giá  trị  INR  và  Bilirubin  cao  nhất  nhưng  giá  trị  Albumin lại thấp nhất là do gan giảm sản xuất  Albumin  và  các  yếu  tố  đông  máu  phụ  thuộc  vitamin K khi có suy tế bào gan trên BN xơ gan. 

Tỷ  lệ  thành  công  sinh  thiết  gan  và  kỹ  thuật ARFI 

Tỷ lệ sinh thiết gan thành công ( không biến  chứng,  mẫu  mô  gan  đạt  chuẩn)  là  100%.  Tỷ  lệ  này  cao  hơn  các  nghiên  cứu  Ngô  Thị  Thanh  Quýt(10) và một số các nghiên cứu của các tác giả  Fouchert Juliette[10] và cs, Ziol Marianne và cs(15) 

tỷ lệ thành công từ 92,3%‐96%. Có thể do chúng  tôi  sử  dụng  súng  sinh  thiết  tự  động  Bard  giúp  lấy mẫu mô gan không bị đứt khúc và dài hơn  (22 mm) so với sinh thiết hút kiểu Menghini của  các tác giả trên. 

Tỷ lệ thực hiện thành công kỹ thuật ARFI là  100%  cho  cả  nhóm  BN  báng  bụng  (8  ca)  và  nhóm không báng bụng. Đây là một lợi thế của 

kỹ  thuật  này  so  với  Fibroscan,  do  Fibroscan  không thực hiện được trên BN báng bụng và BN 

có khoang gian sườn hẹp(2). 

Giá trị của  ARFI  trong  chẩn  đoán  mức  độ 

xơ hóa gan 

Kết quả nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy 

kỹ  thuật  ARFI  có  độ  nhạy  trên  90%  và  độ  đặc  hiệu  trên  80%  trong  chẩn  đoán  mức  độ  xơ  hóa  đáng kể, xơ hóa nặng và xơ gan. Bảng 5 cho thấy  kết quả nghiên cứu của chúng tôi về độ nhạy và 

độ  đặc  hiệu  tương  tự  tác  giả  Takahashi  H  ở  Nhật, nhưng có khác biệt so với tác giả Sporea I. 

Có  lẽ  do  mẫu  nghiên  cứu  của  tác  giả  Sporea  I  lớn hơn nhiều so với nghiên cứu của chúng tôi 

và  chỉ  thực  hiện  trên  BN  viêm  gan  C.  Gía  trị  ngưỡng để chẩn đoán mức độ xơ hóa đáng kể, 

Trang 6

xơ  hóa  nặng  cũng  tương  tự  nghiên  cứu  của 

Takahashi  H,  tuy  nhiên  giá  trị  ngưỡng  để  dự 

đóan  xơ  gan  lại  thấp  hơn  nhiều.  Trong  nghiên 

cứu  của  chúng  tôi  có  10  ca  xơ  gan  được  chẩn 

đoán  không  dựa  vào  giải  phẫu  bệnh  do  các 

trường  hợp  xơ  gan  này  có  chống  chỉ  định  sinh 

thiết gan qua da (báng bụng), có lẽ đây là lý do 

cho  sự  khác  biệt  này.  Về  độ  chính  xác  của  kỹ 

thuật  dựa  vào  AUC,  chúng  tôi  nhận  thấy  kết 

quả tương tự nhau trong cả 3 nghiên cứu ( bảng 

5). Với AUC > 0,9 trong chẩn đoán 3 mức độ xơ 

hóa gan, kỹ thuật ARFI có độ chính xác rất cao . 

Bảng 5: So sánh độ nhạy, độ đặc hiệu của ARFI với 

các nghiên cứu khác 

Tác giả n ngưỡng Giá trị Độ nhạy Độ đặc hiệu AUC

Sporea 

I và cs

(12)

274

F2-4 1,21 84% 92% 0,90

F3-4 1,58 84% 94% 0,91

F4 1,82 92% 90% 0,94

Takaha

shi H

và cs(13)

55

F2-4 1,34 92,4% 80% 0,94

F3-4 1,44 96,2% 79,3% 0,94

F4 1,80 94,1% 86,8% 0,96

Chúng

tôi 30

F2-4 1,31 100% 83,33% 0,98

F3-4 1,48 93,33% 86,67% 0,93

F4 1,58 91,67% 83,33% 0,92

Mối  tương  quan  giữa  SWV  đo  bằng  kỹ 

thuật ARFI với mức độ xơ hóa gan 

Kết  quả  nghiên  cứu  cho  thấy  SWV  tương 

quan  mạnh  với  mức  độ  xơ  hóa  với  Spearman 

rho  =  0,738,  SWV  tăng  tương  ứng  với  mức  độ 

tăng của xơ hóa gan. Kết quả của chúng tôi cũng 

tương  tự  với  kết  quả  nghiên  cứu  của  tác  giả 

Sporea I và của Lupsor M có Spearman rho lần 

lượt là 0,717 và 0,738. 

Lợi thế và hạn chế của đề tài 

Trong thời gian ngắn chúng tôi chỉ thu thập 

được  30  ca  để  báo  cáo  bước  đầu  giá  trị  của  kỹ 

thuật ARFI, nghiên cứu của chúng tôi vẫn đang 

tiếp tục tiếp hành để đạt được cỡ mẫu theo tính 

toán. Về tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xơ gan, 

do hầu hết BN có chống chỉ định sinh thiết gan 

qua  da  nên  chúng  tôi  phải  dùng  2  tiêu  chuẩn 

khác nhau, đây cũng chính là hạn chế của đề tài. 

Tuy nhiên, đây là nghiên cứu đầu tiên ở nước ta 

bước  đầu  đánh  giá  giá  trị  của  kỹ  thuật  ARFI 

trong  chẩn  đoán  mức  độ  xơ  hóa  gan  có  so  với  tiêu chuẩn vàng là sinh thiết gan. 

KẾT LUẬN 

Kỹ  thuật  ARFI  của  Acuson  S2000 đánh  giá  giai đoạn xơ hóa gan có độ chính xác cao, có độ  nhạy  và  độ  đặc  hiệu  cao  trong  chẩn  đoán  mức 

độ xơ hóa đáng kể, xơ hóa nặng và xơ gan. Vận  tốc sóng biến dạng đo bằng kỹ thuật này có mối  tương quan mạnh với mức độ xơ hóa gan. Đây 

là  một  phương  pháp  mới  không  xâm  lấn  và  đáng tin cậy để đánh giá mức độ xơ hóa gan ở  những bệnh nhân có bệnh gan mãn. Do hạn chế 

về  cỡ  mẫu,  trong  thời  gian  tới  khi  đã  thu  thập  đầy  đủ  số  liệu,  chúng  tôi  sẽ  có  những  khuyến  cáo  về  việc  áp  dụng  kỹ  thuật  này  trong  thực 

hành lâm sàng.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Carmen FB, Dan A, Radu U, Dragos C, Cristian B, Marinoschi 

G (2009), “Acoustic radiation force imaging sonoelastography 

for noninvasive staging of liver fibrosis”, World J Gastroenterol, 

15(44), pp. 5525–5532. 

2 Colombo S, Buonocore M, Del Poggio A, Jamoletti C, Elia S,  Mattiello  M,  Zabbialini  D,  Del  Poggio  P  (2012),  “Head‐to‐ head  comparison  of  transient  elastography  (TE),  real‐time  tissue  elastography  (RTE),  and  acoustic  radiation  force 

impulse  (ARFI)  imaging  in  the  diagnosis  of  liver  fibrosis”, J 

Gastroenterol, 47(4), pp. 461‐46 

3 Foucher  J.,  Chateloup  E.,  Vergniol  J.,  Castera  L.,  Le  Bail  B.,  Adhoute X., et al (2006) “ Diagnosis of cirrhosis by transient  elastography  (FibroScan):  a  prospective  study”,  Gut,  55,  pp.  403‐408. 

4 Friedman SL (2003), “Liver fibrosis ‐ from bench to bedside”, 

J. Hepatol, 38(1), pp. S38–S53 

5 Friedman SL (2010), “Evolving challenges in hepatic fibrosis”, 

Nat Rev Gastroenterol Hepatol, 7(8), pp. 425 

6 Kamimoto Y, Horiuchi S, Tanase S, Morino Y (1985), “Plasma  clearance  of  intravenously  injected  aspartate  aminotransferase  isozymes:  evidence  for  preferential  uptake 

by sinusoidal liver cells”, Hepatology, 5, pp. 367–375. 

7 Kathryn Nightingale,  Mary  Scott Soo,  Roger Nightingale,  Gregg Trahey  (2002),  “Acoustic  radiation  force  impulse  imaging:  in  vivo  demonstration  of  clinical  feasibility”, 

Ultrasound in Medicine and Biology, 28(2), pp, 227‐235. 

8 Lupsor  M,  Badea  R,  Stefanescu  H,  Sparchez  Z,  Branda  H,  Serban  A,  Maniu  A.  Performance  of  a  new  elastographic  method  (ARFI  technology)  compared  to  unidimensional  transient  elastography  in  the  noninvasive  assessment  of 

chronic  hepatitis  C.  Preliminary  results.  J  Gastrointestin 

LiverDis (2009) Sep;18(3):303‐10. 

9 Michael  P  Curry,  Nezam  H  Afdhal  (2011),  “Noninvasive  assessment of hepatic fibrosis”, Uptodate 19.3 

10 Ngô  Thị  Thanh  Quýt,  Nguyễn  Phương,  Lê  Thành  Lý,  Bùi  Hữu  Hoàng  (2010),”  Chẩn  đoán  mức  độ  xơ  hóa  gan  bằng 

Trang 7

phương  pháp  đo  độ  đàn  hồi  gan  trên  bệnh  nhân  bệnh  gan 

mạn”, Y Học TP Hồ Chí Minh, 14, pp. 161‐166 

11 Poynard T., Ratziu V., Bedosa P (2000), “Appropriateness of 

liver biopsy”, Gastroenterol, 14, pp. 543‐548 

12 Sempoux C, Rahier J (2004), “Histological scoring of chronic 

hepatitis”, Acta Gastroenterol, 67, pp. 290‐293. 

13 Sporea  I,  Badea  R,  Sirli  R,  Lupsor  M,  Popescu  A,  Danila  M, 

Focsa M, Deleanu A (2011), How efficient is acoustic radiation 

force  impulse  elastography  for  the  evaluation  of  liver 

stiffness? “, Hepat Mon, 1(7), pp. 532‐538. 

14 Takahashi  H,  Ono  N,  Eguchi  Y,  Eguchi  T,  Kitajima  Y, 

Kawaguchi Y, Nakashita S, Ozaki I, Mizuta T, Toda S, Kudo 

S, Miyoshi A, Miyazaki K, Fujimoto K (2010), “Evaluation of 

acoustic  radiation  force  impulse  elastography  for  fibrosis 

staging of chronic liver disease: a pilot study”, Liver Int, 30(4), 

pp. 538‐545. 

15 Ziol  M., Handra‐Luca, et al (2005), “Non‐invasive assessment 

of liver fibrosis by measurement of stiffness in patients with  chronic hepatitis C”,Hepatology, Vol 41, No 1, pp. 48‐53.  

  Ngày nhận bài báo      17‐4‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  10‐06‐2013  Ngày bài báo được đăng:     25–09‐2013 

   

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 16:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w