1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị liệt thần kinh mặt ngoại biên bằng phẫu thuật nối chéo dây VII và bán phần dây XII

8 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 339,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài với mục tiêu nghiên cứu điều trị liệt thần kinh mặt ngoại biên bằng phẫu thuật nối chéo dây VII và bán phần dây XII. Nghiên cứu tiến hành trên 1 bệnh nhân gồm 2 bị liệt VII sau mổ tai, 6 do chấn thương bởi tai nạn giao thông.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ LIỆT THẦN KINH MẶT NGOẠI BIÊN BẰNG PHẪU THUẬT

NỐI CHÉO DÂY VII VÀ BÁN PHẦN DÂY XII

Lê Hành*

TÓM TẮT

Muc tiêu: Liệt thần kinh mặt ngoại biên gây ra những thương tổn trầm trọng cho bệnh nhân không những

chỉ về thẩm mỹ, chức năng mà còn cả về tâm lý Rất nhiều phương pháp phục hồi dây VII đã được dùng nhưng không có phương pháp nào toàn hảo Nối dây thần kinh trực tiếp cho kết quả tốt nhất, nhưng chỉ thực hiện được trong trương hợp dây thần kinh VII chỉ bị gián đoạn Ghép thần kinh thì tốt khi đoạn gần của dây VII còn hoạt động Khi đoạn gần của dây VII không còn dùng được thì cách hữu hiệu nhất là nối chéo dây VII và với nguồn vận động từ dây XII Nhiều tác giả đã sử dụng dây thần kinh hoành, V, XI để nối với dây VII, nhưng kết quả đạt được không tốt bằng dùng dây XII Điểm bất lợi của kỹ thuật nối VII- XII kinh điển là một bên lưỡi bị liệt, sự vận động đồng thời của toàn bộ các cơ mặt và hiếm khi, tăng tính cường cơ của các cơ này Kỹ thuật nối dây VII với bán phần dây XII có thể giúp tránh được di chứng liệt một bên lưỡi

Bệnh nhân và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng của nghiên cứu này là 11 bệnh nhân gồm 2 bị liệt

VII sau mổ tai, 6 do chấn thương bởi tai nạn giao thông Năm bệnh nhân được mổ nối dây VII-XII toàn phần, với thời gian theo dõi lần lượt là 8 năm, 5 năm và 3 năm Sáu bệnh nhân được mổ nối VII- và bán phần XII có thời gian theo dõi trung bình là 2 - 3 năm Sự hồi phục dây VII được đánh giá dựa trên độ cường cơ của cơ vùng mặt, biểu hiện bằng sự cân đối của khuôn mặt lúc nghỉ ngơi và khả năng vận động, diễn cảm, cải thiện các chức năng của vùng mặt

Kết quả: Tác giả đã thu được những kết quả đáng khích lệ về tính cường cơ, sự hồi phục của vận động mặt

Trong nhóm nối với bán phần dây XII, vân động lưỡi bên phía thần kinh cho gần như được bẩo tồn Nối VII-XII hữu hiệu nhất khi được thực hiện càng sớm càng tốt, ngay sau thời gian chờ đợi sự hồi phục tự nhiên (thường không quá 6 tháng) để tránh tình trạng teo quá đáng các cơ mặt Các kết quả về sự hồi phục của dây VII được đánh giá dựa trên thang điểm của House và Brackmann, được minh họa bằng hình chụp, vidéo và điện cơ ký Bài báo cáo có phần lược khảo những y văn mới nhất, so sánh các phương pháp mổ, nêu kỹ thuật mổ và hướng nghiên cứu mới

Kết luận: Nối chéo thần kinh VI với bán phần dây thần kinh XII là một phương pháp khá hữu hiệu để điều

trị liệt thần kinh VII ngoại biên khi nguồn dây VII không còn sử dụng được Nối chéo với bán phần dây XII có thể tránh được di chứng liệt một bên lưỡi phía thần kinh cho

Từ khóa: Liệt VII ngoại biên, phẫu thuật phục hồi vận động mặt, nối cho dây thần kinh VII-XII, nối chéo

dây VII và bán phần dây XII, sự hồi phục của dây thần kinh mặt, điện cơ ký, điện thần kinh ký

ABSTRACT

SURGICAL REHABILITATION OF FACIAL NERVE PARALYSIS USING PARTIAL HYPOGLOSSAL

TO FACIAL NERVE CROSSOVER

Le Hanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 – 2011: 79 - 85

Objective: Facial nerve paralysis is often a devastating deformity with serious implications for both the

* Khoa Phẫu Thuật Tạo Hình Thẩm Mỹ Bệnh Viện Chợ Rẫy;

Tác giả liên lạc: TS.BS Lê Hành ĐT: 0913909426 Email: drlehanh@gmail.com

Trang 2

vision and the psychological well-being of affected patients A multitude of reconstructive techniques has been used but none is perfect Primary nerve repair offer the best hope for recovery when the facial nerve has been transected Direct nerve graft reconstruction is usually successful if the proximal stump is available The most successful neural repair when the central stump is not available has been a transfer of hypoglossal (XII) to the facial (VII) nerve Although the phrenic, the trigeminal and accessory nerves has been used to reanimate the face, the result has been inferior to the XII-VII transfer The disavantage of classic VII-XII anastomosis is the atrophy and hypofunction of the ipsilateral tongue To resolve this weak point, the author has used only the inferior half of the XII as the motor nerve source to connect with the VII The modified technique can preserve hypoglossal nerve function and provide adequate facial reanimation

Patient and methods: Eleven patients with peripheral facial paralysis (2 due to ear surgery, 6 temporal

bone fractures) were treated by microsurgical hypoglossal - facial crossover The classical VII-XII anastomosis was used in 5 cases (follow up 8 years, 5 years and 3 years) and partial XII – VII in 6 cases (follow up 2 – 3 year) The recovery of facial muscles activities is assessed to House-Brackmann Score, demonstrated by photos, video and elctromyography

Results: The outcome of the anastomosis is acceptable, based on: normal facial aesthetic symmetry and

repose, good facial muscle tonus, good face voluntary motion In the group of partial XII – VII anastomosis, the motion of the tongue of donnor side is almost preserved The paper reviews the latest literatures concerning facial nerve anastomosis, presents operative techniques and new trends in the surgical rehabilitation of facial paralysis

Conclusions: Hypoglossal - Facial nerve anastomosis is a good technique for reinnnervation of the paralyzed

face in case of the proximal stump of the VII is not available

Key words: facial paralysis, facial rehabilitation, crossnerve anastomosis, VIIXII crossanastomosis,

-partial hypoglosso-facial cross anastomosis,, electromyography, electroneurography

Liệt mặt ngoại biên là một trong những

thương tật gây tổn thương nặng nề nhất về hình

thể, chức năng cũng như về tâm lý mà một

người phải gánh chịu Dây VII không phải là

một thần kinh vận động thông thường mà thực

sự là một sứ giả của tình cảm, của sự giao tiếp

Khuôn mặt là tấm gương phản chiếu của não

bộ Vì vậy, phục hồi chức năng của dây VII thực

sụ là một việc khó khăn Hàng trăm năm nay, rất

nhiều công trình đã được thực hiện nhằm phục

hồi tình trạng đối xứng và chức năng vùng mặt

cho bệnh nhân Từ 1903, thấy được sự gần gủi

của các bó thần kinh xuất phát từ vỏ não của

dây VII và dây XII, Korte(7) đã đề nghị thực hiện

phẫu thuật nối chéo giữa hai dây này Kỹ thuật

nối VII-XII sau đó đã được dùng rộng rãi để

chữa trị những trường hợp liệt mặt ngoại biên

hoàn toàn(3,8)

Điểm bất lợi của phẫu thuật nối VII-XII kinh

điển là di chứng liệt một bên lưỡi Để khắc phục

điểm này, năm 1981, Zehm và Hartenau(14) là

những người đầu tiên đã chỉ dùng một phần của dây XII để phục hồi vận động của dây VII Tiếp theo là Cusimano M(1), Pitty L.(13), Darouzet

V.(2), với vài cải tiến trong kỹ thuật Từ năm

1993, chúng tôi bắt đầu áp dụng phẫu thuật nối VII-XII tại bệnh viện Chợ rẫy Trong những trường hợp đầu tiên chúng tôi dùng kỹ thuật nối toàn phần XII – VII(9) Sau đó dùng phẫu thuật nối bán phần XII-VII(10,11) Nghiên cứu này

có hai mục đích: Nghiên cứu hiệu quả của phẫu thuật nối VII-XII kinh điển trên sự phục hồi vận động của dây VII cùng những rối loạn về chức năng do di chứng liệt một bên lưỡi và tiếp đó so sánh với kết quả tương ứng của phẫu thuật nối VII-XII bán phần

BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP Bệnh nhân

Có 11 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu

Tỉ lệ nam/nữ tương đương Tuổi: 25 - 40

Trang 3

Tất cả đều bị liệt mặt hoàn toàn

Nguyên nhân liệt mặt

Nối VII – XII toàn phần

Chấn thương xương đá: 3 trường hợp

Do mổ xương chũm: 2 trường hợp

Nối VII- XII bán phần

Do chấn thương xương đá 3 trường hợp

Do mổ u dây TK VIII 2 trường hợp

Do mổ xương chũm 1 trường hợp

Thời gian trung bình từ khi bị tổn thương

thần kinh đến khi mổ là 6 tháng, (13 tháng:

1bệnh nhân)

Chẩn đoán liệt dây VII: Dưạ trên lâm

sàng, CT scan, điện cơ đồ(13) và theo dõi ít

nhất ba tháng

Phương pháp phẫu thuật

Có 5 bệnh nhân được mổ theo phương pháp

kinh điển: nối toàn phần dây XII - dây VII và 6

bệnh nhân được mổ theo phương pháp cải tiến:

nối bán phần dây XII - dây VII

Mô tả phương pháp phẫu thuật

Bệnh nhân nằm ngửa, đầu hơi quay sang

bên đối diện Đường rạch da gần như đường mổ

căng da mặt nhưng từ mỏm chũm kéo dài

xuống phía dưới và trước, theo bờ dưới xương

hàm dưới cho đến sừng lớn xương móng Bóc

tách vùng mặt trước xương chũm ở góc nhị diện

của mỏm chũm và xương nhĩ để tìm thân chung

của dây VII vừa thóat ra khỏi lỗ trâm chũm Bóc

tách về phía trước cho đến chỗ dây này chia hai

Cắt dây VII sát lỗ trâm chũm và chuyển xuống

phía dưới, chuẩn bị nối với dây XII Phẫu tích

tìm và bộc lộ dây XII từ vùng sau trâm đến sừng

nhỏ xương móng

+Trong kỹ thuật nối toàn phần dây XII-VII

Cắt ngang, gọn dây XII ở khoảng cân chung

cơ nhị thân rồi quay ngược đầu gần lên trên, nối

tận tận với dây VII Trong 2 trường hợp, cắt và

nối tận quai hạ thiệt với đầu xa của dây XII

+Trong kỹ thuật nối bán phần dây XII – VII

Dùng kính hiển vi tách đôi dây XII theo

chiều dọc một khoảng khá dài rồi cắt rời nửa dưới của dây này ở khoảng cân chung cơ nhị thân Chiều dài của đoạn dây XII được tách đủ

để xoay lên trên và nối với đầu xa của dây VII Chỗ nối không được căng Dùng chỉ nylon

10 O khâu nối tận tận hai dây thần kinh Thường kích thước của một nửa dây XII khít với dây VII Chỗ nối có thể được che phủ bằng một đoạn tĩnh mạch Đóng da và băng ép nhẹ

Phương pháp đánh giá

Kết quả của phẫu thuật được đánh giá theo những thang điểm sau:

Tính cường cơ mặt

Cho từ 0 đến 2 điểm với khoảng cách là 0,5 điểm

Vận động cơ mặt

Theo thang điểm của House- Brackmann(5) Theo Darouzet(2): định lượng bằng cách cho điểm từ 0 đến 3 với khoảng cách là 0,5 điểm theo từng nhóm cơ: cơ trán, cơ vòng mi

cơ nhăn mũi, cơ cười (cơ gò má), cơ vòng môi (cơ cằm (trề môi)

Độ đồng vận (synkinesis) của các cơ mặt

Chức năng của lưỡi

Quan sát độ teo của lưỡi Mức độ rối loạn các chức năng nhai nói, nuốt Mức độ rối loạn được cho từ + đến 3+(3)

Kết quả

Nhóm bệnh của chúng tôi gồm 11 bệnh nhân bị liệt VII hoàn toàn : 3 VII sau mổ tai, 6 do

vỡ xương đá sau tai nạn giao thông và 2 bệnh nhân sau mổ u thần kinh VIII

Năm bệnh nhân được mổ nối dây VII-XII toàn phần, với thời gian theo dõi lần lượt là 8 năm, 5 năm và 3 năm

Sáu bệnh nhân được mổ nối VII và bán phần XII có thời gian theo dõi trung bình là 2 – 3 năm

Tính cường cơ

Sự hồi phục độ căng của cơ mặt được ghi nhận rất sớm Thường khoảng 3 tháng sau mổ thì khuôn mặt đã bắt đầu dần trở nên đối

Trang 4

xứng Dường như tính cường cơ hồi phục

sớm hơn ở những bệnh nhân được nối toàn

phần dây XII- VII Đại đa số bệnh nhân (7/8)

lấy lại được tính cường cơ gần bình thường

Điểm trung bình 1.5 / 2

Vận động tự ý của cơ mặt

Theo phân loại của Brackmann, có 4 bệnh

nhân được xếp loại III (50%), 6 bệnh nhân loại

IV (37%) và 1 loại V (13%)

Cơ vùng miệng có độ hồi phục tốt nhất,

điểm trung bình là 2/3 điểm

Cơ vòng môi khép tốt trong 5/8 trường hợp

Cơ vòng mắt có điểm chung là 1.5 / 3

Mức độ hồi phục gần như đạt mức tối đa

sau 8-9 tháng Sau thời gian này, sự hoạt động

của cơ mặt thường không tiến triển gì thêm Cơ

trán hồi phục kém điểm chung 0,5 / 3

Chức năng lưỡi

+ Nhóm nối dây XII – VII toàn phần : một

bên lưỡi bị liệt, cơ lưỡi bị teo gây khó chịu cho

bệnh nhân khi nói và nhai Thưòng bệnh nhân

cũng chấp nhận được những rối loạn này và

quen dần Họ nhai bên lành Sự phát âm bị ảnh

hưởng nhất là khi nói nhanh

+ Nhóm nối bán phần dây XII-dây VII :

3/6 trường hợp bị teo rất nhẹ bên lưỡi

3/6 trường hợp lưỡi teo nhẹ, có thể nhận

thấy trên lâm sàng nhưng không rối loạn

chức năng

Các dấu hiệu về điện cơ ký(6)

Những dấu hiệu cho biết có sự tái lập các

xung thần kinh xuất hiện đồng thời với sự hồi

phục của tính cường cơ ở vùng mặt, thường vào

khoảng tháng thứ 3-4

Nhóm được nối bán phần có thời gian hồi

phục chậm hơn (4-5 tháng) so với nhóm được

nối toàn phần

Xét về góc độ phục hồi chức năng, thì kết

quả trên cả hai nhóm dùng toàn phần hay dùng

bán phần dây XII đều như nhau Nhưng dùng

bán phần dây VII thì tránh được di chứng liệt,

teo một bên lưỡi cùng những hậu quả của nó

Một trường hợp có thời gian từ khi bị tổn thương đến khi phẫu thuật (nối bằng phương pháp kinh điển) là 13 tháng Bệnh nhân này có thời gian đáp ứng chậm (9 tháng) và mức độ hồi phục không cao (độ V của Brackmann)

BÀN LUẬN

Một khi đã bị tổn thương, hiếm khi thần kinh mặt hồi phục hoàn toàn Ngay cả một chấn thương nhẹ nhất trên một nhánh, không đứt lià, cũng gây tình trạng yếu cơ mặt vùng đó hay những rối loạn chức năng khác như co thắt hay hoạt động cộng hưởng Việc chọn lựa phương pháp phục hình tùy thuộc vào khả năng sống của đoạn gần của thần kinh VII

Nếu biết chắc chắn là đoạn gần của dây VII không còn dùng được nữa (như trong trường hợp phải hy sinh dây VII khi mổ u dây VIII) thì nên phẫu thuật nối hay ghép ngay

Khi mà sự liên tục của đoạn thần kinh còn

bị nghi ngờ (như sau chấn thương xương đá) thì nên chờ đợi ít nhất là 3 tháng trước khi quyết định mổ tạo hình Thời gian chờ đợi này không nên quá lâu vì các cơ mặt sẽ dần teo và mất chức năng khi không còn được nuôi bởi xung thần kinh

Không một phương thức nào thích hợp cho mọi liệt VII

Sau đây là thứ tự ưu tiên các phẫu thuật được chọn tùy theo tình trạng của đoạn gần dây VII:

Khi đường dẫn truyền thần kinh chỉ bị gián đoạn: Khi đường dẫn truyền

+Giảm áp thần kinh +Nối thần kinh tận tận +Đổi đường và nối thần kinh tận tận +Ghép thần kinh

-Ghép thân thần kinh -Ghép mạng thần kinh

Trang 5

Khi đoạn gần của dây VII không sử dụng

được nữa

Nối đoạn xa của dây VII với nguồn vận

động của một thần kinh khác:

- Thần kinh hoành, thần kinh XI, thần

kinh XII

- Thần kinh mặt bên đối diện

Khi đoạn xa dây VII và các cơ mặt không

còn hoạt động:

+Chuyển vạt cơ vận động: cơ thái dương

hay cơ nhai

+Treo chỉnh hình mặt: fascia lata

+ Ghép tự do phức hợp cơ mạch máu - thần

kinh: cơ lưng rộng, cơ gracilis (14)

Ngoài ra cần xét đến những yếu tố ảnh

hưởng đến thời điểm và phương pháp tái tạo:

+ Cần bảo vệ mắt

+ Sự hồi phục từng phần của thần kinh?

+ Sự toàn vẹn của đoạn xa và gần của dây VII

+ Mức độ sống của dây VII (viability)

+Tình trạng của thần kinh cho

+Thời gian từ khi bị chấn thương Golden

period (72 giờ)

+Tuổi tác, dinh dưỡng

+Tiểu đường, bệnh biến dưỡng / mạch máu

khác

Nói chung không có nhiều lựa chọn trong

phẫu thuật phục hồi dây VII khi đoạn gần

không còn sử dụng được Trong các nguồn

thần kinh cho, dùng thần kinh XII có lợi nhất

và để lại ít di chứng nhất và là phương pháp

thường được chọn với các lợi điểm sau:

• Xuất phát từ một nhóm thần kinh trong

thân não

• Đáp ứng phản xạ chung với kích thích từ tk V

• vị trí gần nhau, trong cùng một phẫu trường

• Ít gây thương tật hơn dùng thần kinh

Còn vài điểm bất lợi:

-Thiếu vận động cảm xúc của vùng mặt -Những hoạt động đồng thời của các cơ vùng mặt

-Rối loạn vận động lưỡi

Nối chéo thần kinh VII-VII từng được đề cao

vì cho rằng sẽ phục hồi được khả năng diễn cảm vốn có của các cơ vùng mặt Tuy nhiên mức dộ hồi phục kém của phương pháp này đã làm thất vọng các ủng hộ viên (25%, Trần Bá Huy, Conley) Lee và Terzis cố gắng hoàn hảo hóa phẫu thuật nối VII-VII bằng cách kết hợp nối đồng thời XII-VII cùng với thì đầu của phẫu thuật này như là một hỗ trợ trong khi chờ đợi nguồn thần kinh đầy diễn cảm từ bên đối diện mọc sang Tuy nhiên, đa số bệnh nhân từ chối

mổ tiếp thì 2 của phẫu thuật nối VII-VII vì họ đã bằng lòng với những kết quả của phẫu thuật nối XII-VII

Rối loạn vận động lưỡi gần như được khắc phục bởi kỹ thuật nối bán phần XII-VII

Có hai điểm cần lưu ý để có thể vừa bảo tồn được chức năng của lưỡi vừa phục hồi được cơ mặt:

Tách, lấy một phần dây XII vừa đủ Lấy nhiều quá sẽ gây liệt lưỡi Lấy ít quá, dây VII sẽ hồi phục kém

Lấy nửa dưới của dây XII để nối với dây VII Phần này chủ yếu nuôi các cơ dưới móng nên ít

có ảnh hưởng đến vận động của lưỡi

Cusimano dùng điện kích thích 2 phần của dây XII sau khi tách đôi và quan sát sự co giật của lưỡi Nhánh ít gây co giật lưỡi được dùng

để nối với dây VII

Về một vài thay đổi trong kỹ thuật, M May chuyển luồng thần kinh vận động từ dây XII đến dây VII bằng một đoạn ghép thần kinh Kỹ thuật này đòi hỏi hai chỗ nối thần kinh tận tận

và trục thần kinh mới phải vuợt qua hai chỗ nối

và một đoạn ghép mới đến được dây VII

Trang 6

Darouzet(2) thay thế đoạn thần kinh ghép bằng

cách bộc lộ và dùng luôn đoạn II và III của dây

VII trong xương chũm để đến được dây XII

Cách này đòi hỏi thêm một phẫu thuật trên

xương chũm, tạo thêm một khoang xương rỗng

trong hố mổ dễ đưa đến nhiễm trùng

Chúng tôi chọn cách kinh điển Các bó sợi

thần kinh được thấy dưới kính hiển vi, dây XII

được tách đôi không mấy khó khăn

Nối bán phần dây XII - dây VII còn là một

chỉ định rất tốt trong những trường hợp bệnh

nhân bị yếu liệt thêm những thần kinh sọ khác(1)

Nên mổ cho bệnh nhân trước 9 tháng tính từ

thời điểm bị liệt nếu có chỉ định Nếu chắc chắn

là thần kinh liệt hoàn toàn thì nên mổ ngay

Thời gian vàng: 72 giờ Thời gian chờ mổ tốt

nhất tính từ khi thần kinh bị liệt là từ 3 - 6 tháng

Để quá lâu, các thớ cơ và tấm động của cơ mặt

bị teo, khả năng phục hồi sẽ kém Nếu mất hẳn

nguồn thần kinh, các cơ mặt sẽ teo hoàn toàn

trong vòng 18 tháng, lúc đó không còn chỉ định

nối thần kinh mà nên làm phẫu thuật treo (sling)

hay chuyển vạt cơ

Dùng vạt cơ thái dương cùng bên là một

phương pháp đáng tin cậy, chúng tôi sẽ trình

bày kinh nghiệm riêng trong một bài khác

Gần đây việc sử dụng vạt cơ tự do có nối

mạch máu và thần kinh đã đươc chấp nhận rộng

rãi trên thế giới để chữa những liệt mặt lâu

ngày Cơ lưng rộng, gracilis là những cơ thông

dụng Cơ lưng rộng dần được dùng nhiều hơn

vì có cuống thần kinh dài đủ để nối một thì với

thần kinh mặt bên đối diện

Hoạt động cộng hưởng của các cơ mặt

thường có và trầm trọng hơn trên những bệnh

nhân được nối toàn phần XII-VII Theo Mark

May, trong kỹ thuật này, toàn bộ các sợi thần

kinh của dây XII (vốn lớn hơn dây VII nhiều) bị

dồn vào trong bao thần kinh VII tạo thuận lợi

cho sự xuất hiện hiện tương này Lý luận trên

hỗ trợ cho việc nên dùng bán phần dây XII Vật lý trị liệu dường như không có giúp gì trong việc rút ngắn thời gian hồi phục và tăng chất lượng hoạt động dây VII nhưng có lợi trong việc không chế hoạt động cộng hưởng của các cơ Bệnh nhân phải được tập luyện và tự tập luyện thường xuyên để điều khiển riêng rẽ từng nhóm cơ cũng như có thể chuyển những hoạt động thực chất là của lưỡi thành những vận động diễn cảm của khuôn mặt

Cho đến nay, chưa có một phương pháp phục hồi nào là toàn hảo cho dây VII Sử dụng được đoạn gần của dây VII là lý tưởng Trong đó mổ giảm áp kịp thời cho kết quả gần hoàn toàn, kế tiếp là nối trực tiếp, ghép thân thần kinh Các phương pháp khác dù thành công nhất cũng chỉ phục hồi được một phần hoạt động của vùng mặt

KẾT LUẬN

Nối XII-VII là một kỹ thuật tốt để phục hồi vận động của vùng mặt trong trường hợp dây VII liệt hoàn toàn do tổn thương ở đoạn gần Phẫu thuật tương đối đơn giản, thực hiện một thì, cho kết quả khá tin cậy cùng một mức độ phục hồi chức năng chấp nhận được Dù áp dụng kỹ thuật kinh điển nối toàn phần XII-VII,

di chứng liệt một bên lưỡi cũng không gây những rối loạn chức năng quan trọng Dùng kỹ thuật cải tiến chỉ sử dụng một nửa dây XII đã tránh được di chứng trên

Chức năng phức tạp và cực kỳ tế nhị của dây thần kinh VII đã làm cho chưa một biện pháp phục hồi nào trở thành lý tưởng Tìm ra một phương thức hoàn hảo giúp trả lại được những nét sinh động tuyệt vời của khuôn mặt là một công việc thật khó khăn nhưng cũng vô cùng hấp dẫn mà tôi xin được theo đuổi cùng các đồng nghiệp

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

nerve Anastommosis For Reinnervation of the Paralyzed Face in

Patient with Lower Cranial Nerve Palsies: Technical Note

Neurosurgery 35: 532-534,

technique vers l’anastomose latéro-terminale avec du

déroutement du nerf facial intra-temporal (Technique de May

modifiée) Rev Laryngol Otorhinol 118, 3: 203-210,

NeuroChir (Wien), 92: 67-75

accesory nerve-facial nerve anastomosis J Neurosurg 77: 51-54

Otolaryngol Head Neck Surg;93: 146-147

Anastomosis: A clinical and electrophysical follow-up Journal of

Neurolory, Neurosurgery and Psychiatry 49: 588-590, Laryngol

Rhinol Otol.; 8:437-40

nervusfacialis auf den nervus hypoglossus Deutche Med

Wohnschr; 29: 293-5

Nerve Anastomosis Acta Otolaryngol (Stockh; Suppl 487: 80-84

nối dây thần kinh VII-XII Hội nghị chuyên ngành Tai Mũi họng và

Phẫu thuật Cổ Mặt phía Nam, Bệnh Viện Chợ Rẫy

nối bán phần dây thần kinh XII – VII Hội nghị Khoa Học Bệnh viện Lâm Đồng

interpositional-jump graft for Facial Reanimation without

Tongue Atrophy Otolaryngol Head Neck Surg.: 104: 818-825

Neurosurg 78: 312-313

nerve palsy following surgery for cerebello-pontine angle

tumors.J Neurosurg 77:724-731

Transplantation for the Treatment of Facial Paralysis Using the

Hypoglossal Nerve as a Recipient Motor Source.Plastic and

Reconstructive Surgery, November 808-816

Trang 8

ADVANTAGE OF INFRABROW EXCISION BLEPHAROPLASTY 59

Le Hanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 – 2011: 59 - 62 59

MIDFACE LIFT AND FIXATION BY RESORBABLE ENDOTINE DEVICE 63

Le Hanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 – 2011: 63 - 67 63

SERUM CONCENTRATIONS OF TNF-, IL-1, IL-6, IL-8 and IL-10 IN PATIENT WITH SEPSIS 68

Pham Thi Ngoc Thao* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 – 2011: 68 - 73 68

APPLICATION OF THE SEQUENTIAL ORGAN FAILURE ASSESSMENT SCORE IN PREDICTING OUTCOME IN ICU PATIENTS WITH SEVERE SEPSIS 74

Huynh Quang Dai, Truong Duong Tien, Pham Thi Ngoc Thao * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 – 2011: 74 - 78 74

SURGICAL REHABILITATION OF FACIAL NERVE PARALYSIS USING PARTIAL HYPOGLOSSAL TO FACIAL NERVE CROSSOVER 79

Le Hanh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 – 2011: 79 - 85 79

Ngày đăng: 22/01/2020, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm