1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

28 đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị áp xe gan

8 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 364,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ 01/2008 đến 12/2012, gồm các bệnh nhân điều trị tại khoa ngoại tiêu hóa, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, có chẩn đoán ra viện là áp xe gan. Bài viết nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả các phương pháp điều trị áp xe gan.

Trang 1

VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ ÁP XE GAN 

Hồ Đặng Đăng Khoa*, Chung Hoàng Phương**, Nguyễn Văn Hải** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả các phương pháp điều trị áp xe gan. 

Đối tượng và phương pháp: Hồi cứu mô tả cắt ngang từ 01/2008 đến 12/2012, gồm các bệnh nhân điều 

trị tại Khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, có chẩn đoán ra viện là áp xe gan. 

Kết quả: Có 105 bệnh nhân, trong đó 61 nam và 44 nữ, tuổi trung bình là 49,2 ± 18,4. Đặc điểm lâm sàng 

gồm:  sốt  (61,9%),  đau  vùng  gan  (83,8%),  dấu  rung  gan  (39,0%),  ấn  kẽ  sườn  đau  (34,3%),  sờ  thấy  gan  to  (26,7%). Bạch cầu tăng trên 9000/mm3 (89,5%), bạch cầu đa nhân trung tính trên 70% (70,5%). Siêu âm bụng  cho thấy  áp xe gan 1 ổ ở 69,5% trường hợp, 60,6% áp xe ở gan phải, 70,5% có kích thước ổ áp xe > 40mm.  MSCT bụng cho thấy áp xe gan 1 ổ ở 74,3% trường hợp, 66,7% ở gan phải, 79,1% kích thước ổ áp xe > 40mm.  Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang gián tiếp cho kết quả dương tính với amip ở 30,8%, với sán lá gan ở 37,5%.  Điều trị nội khoa đơn thuần được chỉ định cho 39% bệnh nhân, cần phối hợp chọc hút dưới hướng dẫn của siêu 

âm ở 44,8% bệnh nhân, trong khi 16,2% bệnh nhân cần phải mổ. Thành công của điều trị đạt được ở 97,1%.  

Kết luận: Tam chứng Fontan chỉ có ở khoảng 1/3 số bệnh nhân áp xe gan. Do vậy, siêu âm bụng và/hoặc 

chụp CT bụng trở nên rất cần thiết để chẩn đoán áp xe gan. Trừ trường hợp có biến chứng vỡ, điều trị áp xe gan  hiện nay chính yếu vẫn là nội khoa đơn thuần hay phối hợp chọc hút mủ.  

Từ khoá: Áp xe gan, điều trị nội khoa, chọc hút mủ dưới siêu âm, phẫu thuật mở và nội soi. 

ABSTRACT 

CLINICAL, PARACLINICAL FEATURES AND RESULTS OF TREATMENT FOR LIVER ABSCESS 

Ho Dang Dang Khoa, Chung Hoang Phuong, Nguyen Van Hai  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 6 ‐ 2013: 172 ‐ 179 

Objectives: To describe clinical, paraclinical features and results of treatment for liver abscess. 

Subjects and methods: This is a cross‐sectional retrospective study from 01/2008 to 12/2012. All patients 

treated at GI surgical department of Giadinh hospital with diagnosis at discharge as liver abscess. 

Results: There were 105 patients, including 61 male and 44 female. The mean age was 49.2 ± 18.4. Clinical 

features included fever (61.9%), pain in hepatic region (83.8%), pain with hepatic percussion (39.0%), pain with  intercostal  press  (34.3%),  hepatomegaly  (26.7%).  WBC  ≥  9000/mm3  (89.5%),  neutrophiles  ≥  70%  (70.5%).  Ultrasound showed one  abscess in 69.5% of patients, 60.6% in the right lobe, size of abscess > 40mm in 70.5%.  Abdominal MSCT showed one abscess in 74.3% of patients, 66.7% in the right lobe, size of abscess > 40mm in  79.1%. Indirect immunofluorescence tests for Entamoeba was positive in 30.8%, for liver fluke was positive in  37.5%.  Medical  treatment  was  indicated  in  39.0%,  aspiration  under  ultrasound  guidance  in  44.7%,  while  surgery was indicated in 16.2%. Overall successful rate of treatment was 97.1%. 

Conclusion:  Fontan  triad  present  only  in  one  third  of  patients  with  liver  abscess.  Therefore,  abdominal 

ultrasonography and/or CT become essential in making diagnosis of liver abscess. With the exception of ruptured  abscess, conservative treatment with or without pus aspiration has been still the main treatment for liver abscess. 

* Khoa Ngoại Tiêu hóa ‐ Bệnh viện Nhân Dân Gia Định  

Tác giả liên lạc: BS. Hồ Đặng Đăng Khoa   ĐT : 0903.822.001     Email : hodangdangkhoa@yahoo.com

Trang 2

Keywords:  Liver  abscess,  medical  treatment,  pus  aspiration  under  ultrasound,  open  surgery  and 

laparoscopy. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Áp xe gan là một bệnh phổ biển ở các nước 

vùng  nhiệt  đới  trong  đó  có  Việt  Nam(20,14,13,26). 

Theo  số  liệu  của  WHO(17,30),  tỷ  lệ  người  trưởng 

thành mang mầm bệnh amip không triệu chứng 

trên  thế  giới  khoảng  10%.  Ở  Việt  nam,  tỷ  lệ 

người lành mang kén amip khoảng 2,3‐15%(1). 

Mặc dù việc chẩn đoán áp xe gan đã có thay 

đổi  tích  cực  trong  những  năm  qua  nhờ  những 

tiến  bộ  về  xét  nghiệm  và  chẩn  đoán  hình  ảnh 

(siêu  âm,  chụp  cắt  lớp)  nhưng  một  chiến  lược 

điều  trị  hiệu  quả  vẫn  chưa  hoàn  chỉnh  ở  thời 

điểm hiện tại(27). Tỷ lệ chẩn đoán nhầm vẫn còn 

dao động từ 16 đến 60%(15,28) và tỷ lệ tử vong vẫn 

còn đáng kể (4,4‐16,7%)(23,20,14,13). 

Lựa  chọn  phương  pháp  điều  trị  áp  xe  gan 

tuỳ thuộc vào giai đoạn của bệnh(4,14,13). Điều  trị 

nội khoa bằng kháng sinh (kể cả kháng sinh đặc 

trị)  thường  là  bước  khởi  đầu  và  xuyên  suốt, 

nhưng có khi, tiến triển tốt chỉ đạt được khi phối 

hợp  chọc  hút  dưới  siêu  âm  hay  thậm  chí  phải 

phẫu thuật (7,3,9,10,6,14,13,11,12) .  

Tài  liệu  trong  nước  gần  đây  ít  đề  cập  đến 

những  lĩnh  vực,  trong  khi  đó  những  kinh 

nghiệm  trong  chẩn  đoán  và  đều  trị  áp  xe  gan 

rất  cần  được  tổng  kết.  Nghiên  cứu  này  được 

tiến hành với mục đích cập nhật đặc điểm lâm 

sàng, cách tiếp cận chẩn đoán và kết quả điều 

trị áp xe gan. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu. 

Tất cả bệnh nhân (BN) được điều trị tại khoa 

Ngoại  Tiêu  hóa,  bệnh  viện  Nhân  dân  Gia  định 

từ 01/2008 đến 12/2012 với chẩn đoán ra viện là 

áp xe gan. 

Phương pháp nghiên cứu 

Hồi  cứu  cắt  ngang,  mô  tả  từ  01/2008  đến 

12/2012. 

Thu thập số liệu từ hồ sơ bệnh án, các lưu ý 

chính là: thời gian bệnh, các triệu chứng của tam 

chứng  Fontan,  số  lượng  bạch  cầu  và  tỉ  lệ  bạch  cầu đa nhân trung tính trong máu, kết quả siêu 

âm và CT bụng, kết quả chọc hút mủ làm kháng  sinh  đồ  (nếu  có),  phương  pháp  điều  trị  và  kết  quả của từng phương pháp. 

KẾT QUẢ  Đặc điểm chung 

Trong  thời  gian  nghiên  cứu,  có  105  BN,  trong đó 61 nam và 44 nữ. Tuổi trung bình là  49,2 ± 18,4. Tuổi thấp nhất là 16 tuổi, tuổi cao  nhất là 87 tuổi. 

Đặc điểm lâm sàng 

Triệu chứng lâm sàng 

Triệu  chứng  lâm  sàng  ở  105  BN  gồm:  sốt  (61,9%);  đau  vùng  gan  (83,8%);  dấu  rung  gan  (39,0%), ấn kẽ sườn đau (34,3%); gan to (26,7%).  

Cận lâm sàng 

BN có bạch cầu/máu tăng cao trên 9000/mm3  chiếm 89,5%, đa nhân trung tính tăng trên 70% 

chiếm 70,5%. 

78  BN  được  xét  nghiệm  huyết  thanh  chẩn  đoán amip, tỷ lệ dương tính là 30,8%. Bên cạnh 

đó, xét nghiệm tìm sán lá gan trên 64 bệnh nhân, 

tỷ lệ dương tính là 37,5%. 

Bảng 1. Xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán 

Huyết thanh chẩn đoán Số BN

Amip

Tổng 78/105 Sán lá gan

Tổng 64/105 Khác

Toxocara 2 Strongyloides 2 Echinococcus 2 Tất cả 105 BN đều được siêu âm và ghi nhận 

1 ổ áp xe ở 69,5%, 2 ổ áp xe ở 1,9%, 3 ổ áp xe ở  2,9%,  hơn  3  ổ  áp  xe  ở  12,4%,  và  14  BN  (13,3%)  trên  siêu  âm  không  phát  hiện  được  ổ  áp  xe,  nhưng MSCT phát hiện được. 

Bên cạnh đó, chúng tôi ghi nhận 9 BN có đa 

Trang 3

gan phải, áp xe gặp nhiều nhất ở hạ phân thuỳ 

VII–VIII, chiếm 25,7%; sau đó là ở hạ phân thuỳ 

V–VI, chiếm 15,2%. Ở gan trái, áp xe gặp nhiều ở 

hạ  phân  thuỳ  II–III  (11,4%).  Tỷ  lệ  ổ  áp  xe  gan 

phải so với trái là: 63/19=3,3. 

Bảng 2. Kích thước ổ áp xe trên siêu âm(mm) 

Kích thước (mm) ≤ 40 41–70 71–100 > 100

16,2 70,5 Các  ổ  áp  xe  có  kích  thước  >  40mm  chiếm 

74/105 (70,5%), 17 BN có kích thước ổ áp xe dưới 

40 (16,2%). Ổ áp xe gan có kích thước nhỏ nhất 

trên  siêu  âm  phát  hiện  được  là  20x20mm,  lớn 

nhất là 157x100 mm. 

Chúng tôi thực hiện MSCT trên 105 BN và 

ghi nhận có 1 ổ áp xe (74,3%), 2 ổ áp xe (5,7%), 

3  ổ  áp  xe  (2,9%),  và  hơn  3  ổ  áp  xe  (17,1%).  17 

BN  có  đa  ổ  áp  xe  ở  cả  gan  trái  và  gan  phải 

(16,2%). Ở gan phải, áp xe gặp nhiều nhất ở hạ 

phân  thuỳ  VII  –  VIII  (25,7%);  sau  đó  là  ở  hạ 

phân thuỳ V – VI (18,1%) và VI – VII (18,1%). 

Ở gan trái, áp xe gặp nhiều ở hạ phân thuỳ II – 

III (9,5%). Tỷ lệ ổ áp xe gan phải so với trái là: 

70 / 18 = 3,9. Chúng tôi ghi nhận có 1 BN có ổ 

áp xe gan ở hạ phân thùy I. 

Bảng 3. Kích thước ổ áp xe gan trên MSCT(mm) 

≤40 41-70 71-100 > 100

20,9 79,1

Các  ổ  áp  xe  có  kích  thước  >  40mm  chiếm 

83/105 (79,1%); 22 BN có kích thước ổ áp xe dưới 

40mm, chiếm 20,9%. Ổ áp xe gan có kích thước 

nhỏ nhất trên MSCT phát hiện là 10x10mm, lớn 

nhất là 180x100mm. 

Kết quả cấy mủ không mọc của chọc hút là 

38/49  (77,5%),  của  phẫu  thuật  là  7/17  (41,2%). 

Với  chọc  hút,  đa  số  kết  quả  dương  tính  với 

Klebsiella ESBL (‐) là 24%, với phẫu thuật kết quả 

dương tính với Klebsiella ESBL (‐) là 35,3%. Có 1 

BN chọc hút cấy mủ vừa có Proteus vừa có E.coli.  

Bảng 4. Kết quả cấy mủ 

Không mọc 38 7

Bảng 5. Các phương pháp phẫu thuật 

Mở Nội soi

Số BN Số BN

Trong 17 BN được chỉ định phẫu thuật, có 

14 BN được mổ mở và 3 BN được mổ nội soi. 

Phương pháp mổ chủ yếu là dẫn lưu áp xe và  dẫn  lưu  ổ  bụng  (82,3%).  Chúng  tôi  cũng  ghi  nhận có 1 BN được cắt gan trái; 1 BN được cắt  gan trái và mở ống mật chủ đặt dẫn lưu Kehr 

do  BN  có  kèm  sỏi  gan  trái  và  sỏi  OMC;  1  BN  được  cắt  ổ  áp  xe  và  cắt  đường  rò,  vì  tiền  căn 

BN có chọc dẫn lưu ổ áp xe gan, sau đó dò ra 

da dai dẳng. 

Bảng 6. Kết quả điều trị 

Phần  lớn  BN  (102/105)  đều  khỏi  bệnh  (97,1%),  không  còn  sốt,  siêu  âm  trước  khi  xuất  viện cho thấy ổ áp xe không còn dịch và đang tái  tạo, bạch cầu đa phần trở về bình thường.  

Có 3 BN đang điều trị nội khoa đơn thuần,  thì xin về không đồng ý điều trị tiếp tục, nhưng  xuất  viện  với  tình  trạng  không  sốt,  không  đau  bụng. Có 1 BN đã được chọc hút, sau đó hết đau  hết sốt, sau đó xin về. Có 1 BN sau chọc hút mủ 

áp xe gan thì hết sốt hết đau bụng, thì xin về.  

Có 1 BN đang đều trị nội khoa đơn thuần thì  nặng hơn do lớn tuổi, suy kiệt, suy hô hấp, viêm  phổi,  tai  biến  mạch  máu  não  cũ,  áp  xe  gan  bội  nhiễm;  1  BN  đang  điều  trị  nội  khoa  đơn  thuần  nặng  hơn  do  nhiễm  khuẩn  huyết,  viêm  phổi, 

Trang 4

COPD,  teo  não,  lao  phỗi  cũ,  áp  xe  gan  bội 

nhiễm.  Có  1  BN  sau  phẫu  thuật  áp  xe  gan  thì 

chuyển biến nặng hơn do choáng nhiễm khuẩn 

nhiễm  độc  nặng,  viêm  phổi  nặng,  suy  hô  hấp 

cấp. Cả 3 trường hợp đều tử vong. 

BÀN LUẬN 

Đặc điểm lâm sàng. 

Theo kinh điển, chẩn đoán áp xe gan thường 

không  khó  khăn  lắm  khi  dựa  vào  tam  chứng 

Fontan (đau vùng gan, sốt, gan to và đau). Đau 

thường là ở hạ sườn phải nhưng đôi khi chỉ đau 

ở  vùng  thượng  vị  làm  nhầm  với  đau  của  hội 

chứng loét dạ dày tá tràng. Sốt thường có trước 

đau, đôi khi sốt cao kèm rét run, làm nhầm với 

bệnh  sốt  rét  hay  sốt  do  nhiễm  siêu  vi,  nhiều 

trường  hợp  BN  tự  mua  thuốc  hạ  sốt  uống  cho 

đến  khi  nặng  hơn  mới  đến  bệnh  viện.  Triệu 

chứng  gan  to  và  đau  trong  nghiên  cứu  của 

chúng tôi chỉ ghi nhận ở 26,7% trường hợp, như 

vậy,  chỉ  khoảng  1/3  số  trường  hợp  có  đủ  tam 

chứng  Fontan.  Theo  Beyrouti(1),  tam  chứng 

Fontan  chỉ  gặp  ở  28%  trường  hợp  áp  xe  gan. 

Zibari(31)  cũng  nhận  thấy  triệu  chứng  lâm  sàng 

thường  có  ở  BN  áp  xe  gan  là  sốt  và  đau.  Tuy 

vậy,  một  số  tác  giả  khác  như  Samaniego(20)  và 

P.V.Lình(14,13) ghi nhận  tam chứng này có ở trên 

82‐90% bệnh nhân áp xe gan. Khác  biệt  về  tỉ  lệ 

có tam chứng Fontan có lẽ do giai đoạn diễn tiến 

của áp xe gan và nguyên nhân áp xe gan trong 

các nghiên cứu khác nhau. 

Đặc điểm cận lâm sàng 

Đa  số  BN  có  số  lượng  bạch  cầu  tăng  trên 

9000/mm3  kèm  tỷ  lệ  bạch  cầu  đa  nhân  trung 

tính  tăng  trên  70%.  Theo  P.V.Lình(15,16),  trên 

90%  BN  áp  xe  gan  có  bạch  cầu  tăng,  đa  số 

trường  hợp  bạch  cầu  tăng  từ  10000  đến 

15000/mm3.  Theo  Đ.K.Sơn(23,  bạch  cầu  cao 

chiếm  93%.  P.D.Hiển(8)  nhận  thấy  trong  áp  xe 

gan,  bạch  cầu  thường  tăng  cao,  có  khi  đến 

18000‐25000/mm3, chủ yếu là tăng bạch cầu đa 

nhân trung tính. Xét nghiệm bạch cầu và công 

thức bạch cầu có giúp ích trong chẩn đoán áp 

xe  gan  nhưng  rõ  ràng  là  không  đặc  hiệu  vì 

bạch cầu tăng và tỉ lệ đa nhân trung tính tăng  cũng gặp trong nhiều bệnh nhiễm khuẩn khác. 

Về hình ảnh, siêu âm là phương tiện không  xâm lấn đầu tay có thể giúp chẩn đoán có áp xe  gan  hay  không,  số  lượng  ổ,  mức  độ  hóa  lỏng,  tình trạng bệnh gan mật đi kèm, nhưng đôi khi 

bỏ sót những ổ áp xe quá nhỏ. Về số lượng ổ áp 

xe, kết quả siêu âm của chúng tôi cho thấy gần  70%  trường  hợp  chỉ  có  1  ổ  áp  xe  đơn  độc.  Nghiên cứu của N.Đ.Hối(9,10), ghi nhận tỷ lệ áp xe  gan  chỉ  có  1  ổ  đến  92,6%.  Đ.K.Sơn(23)  cũng  ghi  nhận  74%  chỉ  có  1  ổ.  Singh,  Srivastara(21)  nhận  xét áp xe gan đa ổ hay gặp ở áp xe do vi khuẩn,  còn áp xe gan amip thường là 1 ổ đơn độc.  Siêu âm cũng giúp xác định vị trí các ổ áp 

xe  trên  các  hạ  phân  thuỳ  của  gan,  đa  số  tập  trung nhiều ở gan phải, nhất là ở HPT VII‐VIII;  còn ở gan trái, áp xe gan trái chủ yếu ở HPT II‐ III. Ít khi phát hiện được áp xe ở hạ phân thuỳ 

I. Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với ghi  nhận của nhiều tác giả khác. Theo  Đ.K.Sơn(23), 

áp  xe  gan  phải  chiếm  82%.  Theo  N.Đ.Hối(9,10) 

áp  xe  gan  phải  chiếm  74,1%.  Theo  Samaniego(20), áp xe gan ở thuỳ phải chiếm 60‐ 84%. Vị trí ít gặp nhất là áp xe gan HPT I, chỉ  chiếm 0,6 – 0,9%.  

Siêu âm còn giúp đo kích thước các ổ áp xe  gan. Chúng tôi có 70,5% kích thước lớn nhất của 

ổ  áp  xe  >40mm,  16,2%  dưới  40mm.  Theo  P.V.Lình(14,13), tỉ lệ ổ áp xe >40mm là 86,6%. Theo  T.Kiên(12),  tỉ  lệ  ổ  áp  xe  lớn  >40mm  là  77,2%.  Singh(21) nhận xét áp xe gan đơn độc thường có  kích thước trên 50mm, còn có áp xe gan đa ổ do 

vi khuẩn thường có kích thước nhỏ hơn. 

Tất  cả  BN  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  đều được chụp MSCT bụng có cản quang. Đây 

là kỹ thuật hình ảnh mới giúp chẩn đoán áp xe  gan  cũng  như  theo  dõi  diễn  tiến  điều  trị.  Theo  nhiều  tác  giả(31,1,7),  MSCT  tỏ  ra  ưu  việt  hơn  siêu 

âm, nó có độ nhạy hơn 95% và có thể xác định  được  ổ  áp  xe  nhỏ  khoảng  10mm.  MSCT  còn  giúp phát hiện những bệnh trong ổ bụng có thể  liên quan đến chẩn đoán và chẩn đoán phân biệt  như: di căn gan do ung thư tuỵ, ung thư đại trực 

Trang 5

tràng;  áp  xe  do  viêm  túi  thừa  đại  tràng,  viêm 

ruột thừa dưới gan,  

Kết  quả  chụp  MSCT  trong  lô  nghiên  cứu 

của chúng tôi cũng gần giống với kết quả của 

siêu âm về phân bố vị trí áp xe. Đáng lưu ý là 

có 14 BN siêu âm không ghi nhận tổn thương, 

nhưng trên MSCT lại phát hiện được những ổ 

áp xe nhỏ rải rác trên gan. BN có ổ áp xe gan ở 

hạ  phân  thùy  I  cũng  chỉ  được  phát  hiện  nhờ 

chụp MSCT bụng.   

Nguyên nhân 

Do  hạn  chế  của  phương  pháp  hồi  cứu, 

chúng  tôi  không  có  được  đủ  các  thông  tin  về 

khảo sát vi khuẩn và ký sinh trùng ở 105 BN. 

Với  BN  được  xét  nghiệm  huyết  thanh  chẩn 

đoán amip, tỷ lệ dương tính là 31,8%. Đáng lưu 

ý là xét nghiệm tìm sán lá gan cũng dương tính 

ở  37,3%  trong  số  bệnh  nhân  được  chỉ  định  xét 

nghiệm  huyết  thanh  chẩn  đoán  sán  lá  gan. 

Ngoài ra, chúng tôi có một số BN mang những 

chủng  ký  sinh  trùng  ít  gặp  khác  như:  Tocaxara, 

Strongyloides, Echinococcus, Gnathostoma…  

Theo  Đ.K.Sơn(23),  xét  nghiệm  huyết  thanh 

chẩn đoán amip dương tính ở 100% (9/9 BN) áp 

xe  gan  amip.  Michel(17)  cho  rằng,  kết  hợp  đặc 

điểm lâm sàng, siêu âm có ổ áp xe và xét nghiệm 

huyết thanh xác nhận amip dương tính là đủ các 

yếu  tố  để  chẩn  đoán  áp  xe  gan  amip  và  tiến 

hành  ngay  việc  điều  trị.  Xét  nghiệm  miễn  dịch 

huỳnh  quang  là  một  xét  nghiệm  có  giá  trị  để 

chẩn  đoán  xác  định  áp  xe  gan  amip  với  tỷ  lệ 

chính xác cao. 

Theo  chúng  tôi,  hiện  nay,  sán  lá  gan  cũng 

như một số ký sinh trùng ít gặp khác cũng nên 

được  quan  tâm  tầm  soát  trước  1  bệnh  nhân  áp 

xe gan để có hướng điều trị phù hợp. 

Trong  64  BN  áp  xe  gan  được  can  thiệp 

ngoại  khoa  (chọc  hút  và/hoặc  phẫu  thuật), 

chúng tôi ghi nhận kết quả cấy mủ không mọc 

đến 67,2%.  Trong số các trường hợp cấy có kết 

quả  dương  tính,  Klebsiella  ESBL  (‐)  chiếm  15 

BN  (23,4%);  trong  đó  có  3  BN  vừa  chọc  hút 

vừa phẫu thuật, 3 BN được phẫu thuật, 11 BN 

được  chọc  hút.  Đồng  thời  chúng  tôi  cũng  ghi 

nhận các vi khuẩn khác như Acinobacter (1 BN  được  cấy  lúc  phẫu  thuật),  Proteus  (1  BN  được  cấy lúc chọc hút mủ), E. coli (1 BN chọc hút và 

1 BN phẫu thuật), và Streptococcus (2 BN phẫu 

thuật).  Tỉ  lệ  cấy  mủ  không  mọc  vi  khuẩn  cao 

có thể do phần lớn bệnh nhân đã được điều trị  kháng sinh trước khi lấy mẫu. 

Điều trị nội khoa 

Điều trị nội khoa ở BN áp xe gan đã được đề  cập  trong  nhiều  nghiên  cứu.  Với  các  áp  xe  gan 

do  ký  sinh  trùng,  có  thể  dùng  thuốc  đặc  hiệu  diệt  amip,  hoặc  sán  lá,  có  hay  không  dùng  kháng sinh phối hợp. Chúng tôi có 11 BN được 

sử  dụng  thuốc  đơn  trị,  đều  cho  kết  quả  tốt  với  các  ổ  áp  xe  nhỏ,  chủ  yếu  là  sử  dụng  thuốc  đặc  hiệu  trị  giun  sán  (Albendazole,  Mekozentel,  Triclendazole)  và  thuốc  trị  vi  khuẩn  kỵ  khí  và  amip  (Metronidazole).  Reed  cũng  cho  thuốc  được  lựa  chọn  điều  trị  hàng  đầu  đối  với  áp  xe  gan  amip  là  Metronidazole,  lợi  ích  là  thời  gian  điều  trị  ngắn.  Các  thuốc  hàng  thứ  hai  như  Emetine và Cloroquine càng tránh dùng càng tốt 

vì Emetine có thể có tác dụng phụ về tim mạch 

và  dạ  dày,  ruột,  còn  Cloroquine  thì  có  tỷ  lệ  tái  phát  cao.  Không  có  bằng  chứng  nào  cho  thấy  phối hợp hai thuốc thì công hiệu hơn dùng một  thuốc đơn độc. Nhiều tác giả nghiên cứu điều trị 

áp  xe  gan  amip,  đều  có  chung  nhận  xét  Metronidazole  hiện  nay  là  thuốc  được  ưa  chuộng  vì  tác  dụng  tốt.  Tuy  nhiên,  Metronidazole  cũng  có  vài  tác  dụng  phụ  như  buồn nôn, nôn vì thuốc có vị tanh của kim loại,  đôi khi có co giật hay bệnh thần kinh ngoại vi.  Trong điều trị bệnh do amip nói chung và áp 

xe gan do amip nói riêng thì việc sử dụng phối  hợp kháng sinh hay không còn có nhiều ý kiến  khác  nhau.  Có  tác  giả  cho  rằng  chỉ  cần  dùng  thuốc diệt amip còn dùng kháng sinh là vô ích,  hay  không  cần  sử  dụng  thêm  kháng  sinh  nếu  không có nhiễm khuẩn kết hợp ngay cả khi BN  được  điều  trị  bằng  thủ  thuật  chọc  dò  hay  mổ  dẫn  lưu  ổ  mủ.  Chúng  tôi  sử  dụng  kháng  sinh  phối  hợp  ở  89,5%  trường  hợp,  chủ  yếu  là  sử 

Trang 6

Có  tác  giả(7,5,9,10,6,11)  cho  rằng  nên  phối  hợp  với 

kháng sinh phổ rộng đặc biệt là tác dụng trên vi 

khuẩn gram (‐) khi nghi ngờ bội nhiễm. Do mối 

quan hệ về độc lực giữa vi khuẩn đường ruột và 

amip đang hoạt động nên ngoài việc dùng thuốc 

diệt amip thì việc sử dụng  thêm  kháng  sinh  có 

tác dụng diệt các tạp khuẩn ở ruột. Trên thực tế, 

tỷ lệ cấy mủ áp xe gan amip có vi khuẩn mọc rất 

thấp,  nhưng  nhiều  tác  giả  vẫn  sử  dụng  kháng 

sinh với mục đích dự phòng bội nhiễm. 

Chọc hút dưới hướng dẫn siêu âm 

Chọc hút mủ áp xe gan dưới hướng dẫn của 

siêu âm là một phương pháp hiện đại để điều trị 

áp  xe  gan.  Ở  Việt  Nam,  nhiều  tác  giả 

(Đ.K.Sơn(23),  N.Đ.Hối(9,10),  T.Kiên(12), 

P.V.Lình(14,13)…) cũng đã áp dụng phương pháp 

này  để  đều  trị  áp  xe  gan  amip  và  đều  đạt  kết 

quả tốt. 

Trong  47  BN  được  điều  trị  bằng  phương 

pháp chọc hút, chúng tôi chọc hút sớm vào ngày 

đầu tiên nhập viện cho 12 BN (23,1%), ngày thứ 

2 cho 14 BN (26,9%).  Chúng  tôi  có  1  BN  từ  khi 

nhập viện đến khi chọc hút là 13 ngày, do ổ áp 

xe  chưa  hoá  lỏng,  nên  được  đều  trị  nội  khoa 

trước. Trong giai đoạn sớm, dù kích thước ổ áp 

xe bao nhiêu cũng chỉ nên điều trị nội khoa. Có 

tác  giả  vẫn  điều  trị  nội  khoa  cho  áp  xe  >  10cm 

nếu  ổ  áp  xe  đang  giai  đoạn  sớm  chưa  hoá  mủ 

hoàn  toàn.  P.V.Lình(14,13)  đã  chọc  hút  thử  cho  6 

BN  áp  xe  gan  giai  đoạn  sớm,  đến  viện  sau  khi 

khởi phát bệnh khoảng 5 ngày; tác giả đã nhận 

xét  rằng  chọc  hút  ở  giai  đoạn  này  BN  rất  đau, 

mủ  đặc  lẫn  máu  và  tổ  chức  hoại  tử  đễ  làm  tắc 

kim, hút rất khó, lượng mủ hút được rất ít so với 

kích  thước  trên  siêu  âm.  Reed(19)  cũng  chủ 

trương  điều  trị  nội  khoa  áp  xe  gan  amip  ở  giai 

đoạn sớm, việc chọc hút mủ chỉ đặt ra khi điều 

trị nội khoa thất bại. Matthew(16) thì chủ trương 

chọc hút bằng kim cho BN áp xe gan không đáp 

ứng với điều trị đặc hiệu sau 3‐5 ngày. 

Các phương pháp phẫu thuật 

Trong  17  BN  được  chỉ  định  phẫu  thuật, 

phương pháp mổ chủ yếu là dẫn lưu mủ (80%), 

trong đó 14 BN được mổ mở và 3 BN được phẫu  thuật nội soi. Đa phần chỉ định mổ là do áp xe  gan vỡ (9 BN), chọc hút dẫn lưu không hiệu quả  (5 BN). Chúng tôi có 1 BN được cắt gan trái do 

áp xe gan trái vỡ; 1 BN được cắt gan trái và mở  ống mật chủ đặt dẫn lưu Kehr do BN có kèm sỏi  gan trái và sỏi OMC; 1 BN được cắt ổ áp xe và  cắt đường rò, vì tiền căn BN có chọc dẫn lưu ổ 

áp xe gan, sau đó dò ra da kéo dài. 3 BN được  chỉ định mổ nội soi do áp xe gan nghi vỡ.   Phẫu thuật mở bụng để dẫn lưu ổ mủ được 

áp dụng từ thời kỳ chưa có Emetine, nhưng kết  quả thời đó có nhiều hạn chế do tính chất phẫu  thuật  lớn,  nhiều  ống  dẫn  lưu  nên  dễ  bị  bội  nhiễm, tỷ lệ tai biến và biến chứng cao; hơn nữa, 

có những ổ mủ nằm sâu trong nhu mô gan dễ bị 

bỏ sót và khó giải quyết do phải rạch qua nhiều  nhu mô gan lành gây chảy máu, thời gian điều  trị thường kéo dài.  

Hiện nay, phẫu thuật cũng chỉ được chỉ định  trong trường hợp ổ áp xe gan có biến chứng vỡ  vào  ổ  phúc  mạc(25,14,13,19),  hoặc  khi  các  phương  pháp khác thất bại. Chỉ định mổ cũng gần như 

là bắt buộc đối với các áp xe gan do sỏi mật (áp 

xe gan đường mật). Với nghiên cứu của Tan và  cộng  sự(24),  80%  áp  xe  đa  ổ  ≥  50mm  và  24%  có  nguyên  nhân  từ  đường  mật,  tác  giả  thấy  phẫu  thuật dẫn lưu là tốt hơn so với chọc hút. Điều trị  bằng phẫu thuật ít thất bại, tổng thời gian nằm  viện  ngắn  hơn,  nhưng  rõ  ràng  đây  là  phương  pháp điều trị xâm lấn, có thể có biến chứng liên  quan  đến  phẫu  thuật.  Một  số  tác  giả  cho  kích  thước và số ổ áp xe là yếu tố tiên đoán sự thất  bại  của  phương  pháp  chọc  hút  để  chuyển  qua 

mổ. 

Chỉ định cắt gan trong áp xe gan rất hạn chế.  Theo  N.D.Quang(21),  thường  là  cắt  gan  không  điển  hình  khi  ổ  áp  xe  quá  to,  chứa  nhiều  mủ,  đẩy nhu mô gan lành sang đối diện. Singh(21) cho  rằng chỉ nên đề cập đến cắt gan một phần khi có 

sự phá huỷ gan nghiêm trọng do áp xe gan, hay  khi có biến chứng vỡ ổ áp xe gan gây chảy máu  lớn khó cầm. Tỷ lệ tử vong của cắt gan thường  cao hơn phương pháp khác. 

Trang 7

Chúng  tôi  tìm  trên  PUBMED  được  một 

nghiên cứu tổng kết 53 BN áp xe gan được điều 

trị bằng phẫu thuật nội soi(29,22). Tỷ lệ thành công 

là  90,5%  và  cho  thấy  có  ưu  thế  hơn  mổ  mở  và 

chọc  hút,  thời  gian  hồi  phục  nhanh,  thời  gian 

nằm hậu phẫu ngắn hơn, ít bị nhiễm khuẩn vết 

mổ và ít tốn kém hơn. Với tính chất ”đơn giản” 

của phẫu thuật dẫn lưu áp xe gan và ổ bụng (khi 

áp  xe  gan  vỡ)  thì  hiện  nay,  dẫn  lưu  áp  xe  gan 

qua nội soi có thể được chỉ định nếu thất bại với 

điều trị nội khoa hay chọc hút.  

Kết quả điều trị 

Tỷ lệ khỏi bệnh của những BN được điều trị 

nội  khoa  đơn  thuần  là  95,1%.  Tỷ  lệ  khỏi  bệnh 

của  những  BN  được  chọc  hút  mủ  dưới  hướng 

dẫn siêu âm là 100%. Có 3 BN chọc hút dẫn lưu 

áp xe gan không hiệu quả, nhưng sau đó được 

phẫu  thuật  và  đều  khỏi  bệnh.  Tỷ  lệ  khỏi  bệnh 

của nhóm BN được phẫu thuật là 16/17 (94,1%). 

Một BN chuyển biến nặng hơn do choáng nhiễm 

khuẩn nhiễm độc nặng, viêm phổi nặng, suy hô 

hấp cấp. 

Tỷ  lệ  tử  vong  chung  của  chúng  tôi  là  3/105 

(2,9%).  Điều  này  cũng  phù  hợp  với  số  liệu  của 

nhiều tác giả như: Tarcoveanu(25) (2,8%), Cosme(5) 

(4,4%).  So  sánh  giữa  các  phương  pháp  điều  trị, 

điều  trị  chọc  hút  mủ  dưới  hướng  dẫn  của  siêu 

âm  cho  kết  quả  tốt  100%,  không  có  tử  vong; 

trong khi điều trị phẫu thuật có tỷ lệ tử vong là 

5,9%,  điều  trị  nội  khoa  đơn  thuần  có  tỷ  lệ  tử 

vong là 4,9%. P.Dương(6) cũng nhận thấy điều trị 

nội khoa và chọc hút cho kết quả tốt 100%, còn 

phẫu thuật có tỷ lệ tử vong là 4%.  

Như vậy, phương pháp chọc hút mủ qua da 

dưới hướng dẫn của siêu âm kết hợp điều trị nội 

khoa  hiện  vẫn  đóng  vai  trò  quan  trọng  trong 

điều trị áp xe gan,  phẫu thuật chỉ được chỉ định 

khi điều trị nội khoa hay chọc hút thất bại hoặc 

khi áp xe gan đã có biến chứng. 

KẾT LUẬN 

Qua nghiên cứu 105 BN được chẩn đoán và 

điều trị áp xe gan, tại khoa Ngoại Tiêu hóa, Bệnh 

viện  Nhân  dân  Gia  Định  từ  01/01/2008  đến 

31/12/2012, chúng tôi nhận thấy: 

Về lâm sàng: đau vùng gan và sốt gặp ở đa 

số bệnh nhân (62‐84%) nhưng gan to, ấn kẽ sườn  đau,  rung  gan  đau  chỉ  gặp  ở  khoảng  1/3  số  trường hợp (26,7‐39%). 

Về  cận  lâm  sàng:  siêu  âm  bụng  là  phương  pháp  hình  ảnh  đơn  giản,  không  xâm  hại,  giúp  phát hiện ổ áp xe, xác định số lượng, vị trí, kích  thước ổ áp xe cũng như hướng dẫn chọc hút khi  cần.  Tuy  nhiên,  chụp  MSCT  mới  có  thể  giúp  phát hiện các ổ áp xe nhỏ cũng như định vị áp 

xe tốt hơn. 30,8% BN được thử xét nghiệm miễn  dịch  chẩn  đoán  amip  cho  kết  quả  dương  tính,  37,5% BN được thử xét nghiệm miễn dịch chẩn  đoán sán lá gan dương tính.  

Điều trị áp xe gan thành công 97,1%, tử vong  2,9%.  Trong  số  các  trường  hợp  điều  trị  thành  công: 39,0% chỉ điều trị nội, 44,8% phải phối hợp  chọc hút và 16,2% phải phẫu thuật. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Beyrouti MI et al (2006). Pyogenic liver abscesses: a study of 25  cases. Tunis Med, May, 84(5), pp.282‐285. 

2 Blessmann  J,  Linh  PV.,  Phuong  Anh  TN,  Hao  DT  (2002).  Epidemiology  of  amebiasis  in  a  region  of  high  incidence  of  amebic  liver  abscess  in  central  Viet  nam.  Am.  J.  Trop.  Med.  Hyg, 66, pp. 578‐583. 

3 Chí NH (2001). Áp xe gan amip. Các bệnh nhiễm trùng thường  đường tiêu hoá thường gặp. NXB TP.Hồ Chí Minh, tr. 297‐315. 

4 Cornet  L,  Richard  M  (1988).  Indications  chirurgicales  actuelles  dans les abces amibiens du foie. A  propos  d’une  serie  DE  270  CAS. Anales de chirurgie, 41, pp. 519‐524. 

5 Cosme A et al (2010). Pyogenic versus amoebic liver abscesses. 

A comparative clinical study in a series of 58 patients. Rev Esp  Enferm Dif. Feb, 102(2), pp. 90‐99. 

6 Dương P, Chí PHC, Anh NM (1991). Phác đồ điều trị áp xe gan 

do amip. Báo cáo khoa học. Hội thảo ngoại khoa Cần thơ – Hậu  giang, tr. 89‐98. 

7 Graw‐Hill  M  (2000).  Hepatic  abscess.  Principlesof  Surg,  7,  pp.  1398‐1401. 

8 Hiển PD (1993). Áp xe gan. Bài giảng bệnh học ngoại khoa sau  đại học. Học viện Quân y, 2, tr. 68‐82. 

9 Hối NĐ (1986). Điều trị áp xe gan. Bài giảng điều trị học ngoại  khoa. NXB Y học, 1, tr. 329‐339. 

10 Hối NĐ, Diệp NT (1991). Áp xe gan amip: chẩn đoán và điều  trị. Báo cáo khoa học. Hội thảo ngoại khoa Cần thơ – Hậu giang, 

tr. 62‐70. 

11 Kayalabi S, Yilmaz et Gurel M (1975). Abces du foie, pyogenes 

et amibiens. Etudes stastique de 86 cas operes. Lyon chirurgie, 

71, pp. 295‐296. 

12 Kiên T, Dũng NV (1991). Điều trị áp xe gan amip bằng phương  pháp chọc hút mủ qua hướng dẫn của siêu âm. Báo cáo khoa  học. Hội nghị ngoại khoa Cần thơ – Hậu giang, tr. 35‐39. 

13 Lình PV (1992). Góp phần nghiên cứu ứng dụng siêu âm trong 

Trang 8

mô và theo dõi kết quả sau điều trị. Luận án PTS khoa học Y 

dược, HVQY. 

14 Lình PV, Ha NM, Hung NK (1992). Nhận xét biến chứng áp xe 

gan. Tập san NCKH. Đại học Y Huế, 1, tr. 37‐43. 

15 Maltz  G,  Knaner  M  (1991).  Amebic  liver  abscess:  a  15  year 

experience. A. J. Gastroenteol, 86, pp. 704‐709. 

16 Matthew J, Hyer MD, Scott JMD (1992). Liver abscess. Surgical 

Therapy, pp. 266‐269. 

17 Michel  R  (1997).  Hepatic  infection  and  acute  hepatice  failure. 

Surg scientific principles and practice, pp. 95‐960. 

18 Quang ND  (1991).  Áp  xe  gan  amip.  Bách  khoa  toàn  thư  bệnh 

học, 1, tr. 7‐14. 

19 Reed  SL  (1984).  Amebiasis  and  infection  with  free  living 

amebas. Harrison’s principles of internal Medicine, pp. 883‐887. 

20 Samaniego  L,  Calderon  J  (1992).  Amebic  liver  abscess  in 

Tarapoto Peru. Rev. Gastroenterol Peru, 12, pp. 135‐145. 

21 Singh VP, Srivastava SN, Vaish SK, Soman PN (1973). Amoebic 

liver abscess in Eastern Uttar Pradesh India. Trop. Dis. Bull, 71, 

pp. 258. 

22 Siu  WT,  Chan  WC,  Hou  SM,  Li  MK  (1997).  Laparoscopic 

manage‐  ment  of  ruptured  pyogenic  liver  abscess.  Surg 

Laparosc Endosc. 1997;7, pp. 426–428. 

23 Sơn ĐK, Khánh TG, Quyết NT (1985). Kết quả điều trị áp xe gan 

amip nhân 334 trường hợp từ 1978 – 1983. Tạp chí ngoại khoa, 

3, tr. 10‐19. 

24 Tan YM, Chung YFA, Chow PKH, et al (2005). An apparaisal of 

surgical  and  percutaneous  drainage  for  pyogenic  liver  abscess  larger than 5cm. Ann Surg 2005, 241,pp. 485‐490. 

25 Tarcoveanu  E  et  al  (2008).  Pyogenic  liver  abscesses.  Chirugia  (bucur), Jul‐Aug, 103(4), pp.417‐427 

26 Thanh VD, Thang N.D. (1973). 50 trường hợp chẩn đoán áp xe  gan to trong 18 năm ở bệnh viện 108. Công trình NCKH, Bệnh  viện TWQĐ 108. 

27 Tùng BS (1995). Nhận xét chẩn đoán và điều trị áp xe gan nhu 

mô qua 145 trường hợp, kết quả nghiên cứu ứng dụng siêu âm.  Luận văn Chuyên khoa cấp II, HVQY. 

28 Vinh NX (1991). Áp xe gan amip: chẩn đoán và điều trị. Báo cáo  khoa học. Hội thảo ngoại khoa Cần thơ – Hậu giang, tr. 41‐45. 

29 Wang LT (1974). Pleuropulmonary complication of amebiasis in  Taiwan. Trop. Dis. Bull, 71, pp. 1028. 

30 World  Health  Organization  (1997).  Amoebiasis.  WHO  Wkly  Epidemio Rec, 72, pp. 97‐100. 

31 Zibari  GB  et  al  (2000).  Pyogenic  liver  abscesses.  Surg  Infect  (Larchmt), 1(1), pp. 15‐21 

 

  Ngày nhận bài báo         15/8/2013 

Ngày phản biện nhận xét bài báo     23/9/2013 

10/12/2013 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 16:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w