Nghiên cứu có mục tiêu xác định độ chính xác của SpO2 so với SaO2 và tìm các yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác này ở bệnh nhi đang hồi sức sốc sốt xuất huyết dengue. Nghiên cứu thực hiện trên tất cả bệnh nhi sốc sốt xuất huyết dengue nhập khoa hồi sức tích cực BV Nhi Đồng 1 từ tháng 9/2010 đến tháng 1/2011.
Trang 1ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA ĐỘ BÃO HÒA OXY MÁU (SpO2)
TRÊN BỆNH NHI SỐC SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
Nguyễn Ngọc Huyền Mi*, Bạch Văn Cam*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định độ chính xác của SpO 2 so với SaO 2 và tìm các yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác này ở bệnh nhi đang hồi sức sốc sốt xuất huyết Dengue
Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang khảo sát trên tất cả bệnh nhi sốc sốt xuất huyết Dengue nhập khoa
Hồi sức tích cực BV Nhi Đồng 1 từ tháng 9/2010 đến tháng 1/2011 Độ chính xác được phân tích bằng cả 2 phương pháp thống kê: hệ số tương quan Pearson và phép so sánh Bland – Altman Sự ảnh hưởng của các yếu tố sinh lý bệnh trên độ chênh lệch (SpO 2 – SaO 2 ) được phân tích so sánh dưới nhóm
Kết quả: Có mối tương quan khá cao giữa SpO 2 và SaO 2 với hệ số tương quan Pearson là 0,66 trên tất cả
230 bệnh nhi Ở nhóm đã ra sốc, mối tương quan giữa 2 phép đo cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chưa
tương đồng (-3 ; +5,2%) Kết quả độ chênh lệch (± độ lệch chuẩn) xét riêng ở nhóm đã ra sốc và nhóm chưa ra sốc lần lượt là 0,9% (± 1,4%) và 1,2% (± 2,3%) Suy hô hấp nặng (SaO 2 ≤ 90%) làm tăng sai số của SpO 2 có ý nghĩa
hô hấp nặng (p = 0,004) Khi biên độ nảy đèn thấp sai số sẽ gia tăng Trong khi đó, các yếu tố khác như chi lạnh, phù ngoại vi, thiếu máu, tăng lactat máu, toan máu và sử dụng thuốc vận mạch không ảnh hưởng trên độ chính xác của oxy kế theo mạch đập
Kết luận: Đây là 1 kỹ thuật học thích hợp Tại những vùng không trang bị thiết bị khí máu động mạch, các
sốc sốt xuất huyết Dengue, do SpO 2 cao hơn SaO 2 trung bình là 1,1% (± 2,1%) Tuy nhiên trong trường hợp sốc SXH-D kèm dấu hiệu suy hô hấp hoặc kèm biên độ nảy đèn thấp cần thận trọng và nên chỉ định thêm khí máu động mạch
Từ khóa: độ bão hòa oxy máu theo mạch đập, độ bão hòa oxy máu động mạch, oxy kế theo mạch đập, sốc sốt
xuất huyết Dengue
ABSTRACT
THE ACCURACY OF PULSE OXIMETRY IN INTENSIVE CARE UNIT CHILDREN WITH DENGUE
SHOCK SYNDROME
Nguyen Ngoc Huyen Mi, Bach Van Cam
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 55 - 61
Objectives: To determine the accuracy of pulse oximetry relative to SaO 2 obtained from ABG in ICU children with Dengue shock syndrome; and to assess the impact of specific pathophysiologic factors on this accuracy.
Methods: This cross-sectional analysis consisted of consecutive patients who were admitted to pediatric ICU,
Nhi Dong 1 Hospital with Dengue shock syndrome between September 2010 and January 2011 Accuracy was
* Bộ môn Nhi - Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Ngọc Huyền Mi ĐT: 0918222466 Email: huyenmi_1987@yahoo.com
Trang 2analyzed by both of 2 methods: Pearson’s correlation coefficient and Bland – Altman method The effects of pathophysiologic factors on bias were subgroup analysed
Results: There is a good correlation between SpO 2 and SaO 2 with Pearson’s correlation coefficient at 0.66 for all 230 patients In the group out-of-shock patients, SpO 2 and SaO 2 have shown to correlate significantly better to compare with the being-shock children The mean difference (SpO 2 – SaO 2 ) was 1.1% (±2.1%) and limits of agreement (-3 ; +5.2%) The mean difference (± SD) in specific out-of-shock and being-shock patients were 0.9% (±1.4) and 1.2% (±2.3), respectively Severe hypoxemia (SaO 2 ≤ 90%) significantly affected pulse oximeter accuracy The mean difference was 0.98% in non-hypoxemic patients and 5.43% in hypoxemic patients (p=0.004) Though pulse oximeter accuracy was not affected by cold extrimities, peripheral edema, anemia, hyperlactatemia, acidosis and vasoactive drugs
Conclusions: Pulse oximetry overestimates ABG-determined SaO 2 by a mean of 1.1% in ICU children with
needs to be determined with a high degree of accuracy in patients with DSS and hypoxemia are recommended
Key words: pulse oxygen saturation, arterial oxygen saturation, pulse oximetry, Dengue shock syndrome
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, bệnh sốt xuất huyết Dengue
(SXH-D) vẫn đang là bệnh có tỷ lệ mắc rất cao
và tỷ lệ tử vong trung bình vào khoảng 2,5%, và
nếu không được điều trị, con số này có thể lên
điều trị tích cực có thể hạn chế tỷ lệ tử vong
xuống dưới 1% Sốc kéo dài mà trong đó suy hô
hấp là biến chứng thường đi kèm là nguyên
nhân chính gia tăng tỷ lệ tử vong tại các khoa
hồi sức nhi khoa Hiện nay, các nhà lâm sàng
đánh giá tình trạng oxy hóa máu và đưa ra các
chỉ định phương pháp hỗ trợ hô hấp dựa trên
nhịp thở, dấu rút lõm ngực,… và đặc biệt phổ
đập
theo mạch đập Chỉ số này được xem như “dấu
hiệu sinh tồn thứ 5” nhờ tính liên tục, nhanh
chóng, tiện lợi, rẻ tiền và đặc biệt là không xâm
lấn (12) Tuy nhiên, vì dựa vào tín hiệu mạch
ngoại vi nên một số giả thuyết cho rằng nó có
những hạn chế khi tưới máu ngoại vi kém hay
co mạch ngoại vi(6,12)
phân tích khí máu động mạch Được xem là tiêu
chuẩn vàng vì không bị ảnh hưởng bởi mức độ
tưới máu và co mạch ngoại vi Tuy nhiên, vì đây
là một xét nghiệm xâm lấn, dễ có các biến chứng
do tiêm chích động mạch mà cần phải tránh trên
lúc này trở thành phép thay thế trên lâm sàng Nhưng trong bệnh cảnh hồi sức sốc SXH-D khi
có nhiều yếu tố ảnh hưởng mức độ tưới máu và
lúc này có còn đảm bảo
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá độ chính xác của thiết bị oxy kế theo mạch đập trên bệnh nhi sốc SXH-D tại khoa Hồi sức tích cực, BV Nhi đồng 1, từ tháng 9/2010 đến tháng 1/2011
Mục tiêu chuyên biệt
Xác định trên bệnh nhi sốc SXH-D:
Mối tương quan giữa SpO2 và SaO2
Độ chính xác của oxy kế theo mạch đập qua
độ chênh lệch trung bình giữa SpO2 và SaO2 Các yếu tố có thể ảnh hưởng lên độ chính xác này: chi lạnh, phù chi, thiếu máu, toan máu, tăng nồng độ lactat máu và thuốc vận mạch
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tất cả bệnh nhi sốc SXH-D nhập khoa HSTC, BV Nhi Đồng 1 và được chỉ định xét nghiệm khí máu động mạch (KMĐM) từ 9/2010 đến 1/2011
Nghiên cứu cắt ngang tiền cứu đánh giá sự
Trang 3tương đồng với cỡ mẫu tối thiểu được tính dựa
theo công thức dùng cho các nghiên cứu đánh
giá độ chính xác bằng hệ số tương quan Chọn:
Sai lầm α = 0,05 và độ mạnh nghiên cứu 95% Hệ
số tương quan r=0,36 là chỉ số nhỏ nhất qua các
y văn để đảm bảo nghiên cứu có đủ đối tượng
Số cỡ mẫu tối thiểu là 96
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Các bệnh nhi ≤ 15 tuổi điều trị tại khoa ít
nhất 24 giờ với chẩn đoán sốc SXH-D theo tiêu
chuẩn chẩn đoán của Tổ chức y tế thế giới năm
nghiệm khí máu động mạch (KMĐM)
Tiêu chuẩn loại trừ
SaO2 = 100%; các bệnh lý tim, phổi, bất
thường hemoglobin Phân chia 2 nhóm “chưa ra
sốc” và “đã ra sốc” SXH-D dựa theo các tiêu
chuẩn trên lâm sàng, với định nghĩa “đã ra sốc”
là khi trẻ tỉnh táo, tay chân ấm, mạch và huyết
áp trong giới hạn bình thường và lượng nước
tiểu trên 1ml/kg/giờ
Trong vòng 24 giờ nhập khoa, mỗi BN tham
gia nghiên cứu và có 1 cặp số liệu SpO2 và SaO2
Nghiên cứu không can thiệp trên số lần xét
nghiệm KMĐM cũng như phương cách điều trị
nên không vi phạm y đức Hai phép đo được
ghi nhận cùng thời điểm Quy ước cách thu thập
SpO2: đầu dò ngón tay, loại dán, chỉ số SpO2 ổn
định nhất và biên độ nảy đèn tối đa (trên tổng
cộng 10 vạch) trong vòng 1 phút đặt máy Cách
và được gửi phân tích kết quả ngay
Phương pháp thống kê
Xử lý thống kê bằng SPSS 16 Hai phương
pháp thống kê chính được sử dụng để đánh giá
độ chính xác của phép đo: (1) hệ số tương quan
để đánh giá độ mạnh của tương quan 2 phép
đo; (2) phương pháp so sánh Bland-Altman
thông qua độ chênh lệch trung bình (và độ lệch
chuẩn) với hiệu số quy ước (SpO2 – SaO2) và
khoảng giới hạn tương đồng là khoảng tin cậy
95% của độ chênh lệch trung bình Độ chênh
tế trong máu, và ngược lại Sự ảnh hưởng của các yếu tố nghiên cứu được so sánh dưới nhóm
Do trung bình độ chênh lệch của các nhóm nhỏ
Kolmogorov-Smirnov) nên được so sánh bằng kiểm định Mann-Whitney (2 nhóm) hoặc Kruskall-Wallis (nhiều nhóm) Ngưỡng ý nghĩa thống kê p=0,05
KẾT QUẢ
Tổng cộng 232 bệnh nhi nhập khoa HSTC BVNĐ1 do sốc SXH-D, trong đó 2 bệnh nhi bị loại khỏi nghiên cứu vì kết quả xét nghiệm là khí máu tĩnh mạch Độ tuổi trung bình là 6,7 (± 2,3) tuổi và số trường hợp sốc còn bù cao gấp 3 lần số sốc mất bù Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của 230 bệnh nhi được trình bày lần lượt trong bảng 1 và 2
Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng
Hỗ trợ hô hấp: Oxy cannula
NCPAP Thở máy
118
87
23
51,3 37,8
10
Độ bão hòa oxy máu SpO2 và SaO2 trung bình và độ lệch chuẩn (ĐLC) được trình bày ở
bảng 3
Bảng 2: Đặc điểm cận lâm sàng
Không có trường hợp bệnh nhi đang sốc nặng không bắt được mạch hay huyết áp không
đo được (mạch = 0, huyết áp = 0)
Bảng 3: Độ bão hòa oxy trung bình
Trang 4TB a ĐLC b TB a ĐLC b
a: trung bình ; b: độ lệch chuẩn
Độ bão hòa oxy máu SpO2 và SaO2 nhìn
chung là cao (>95%) vì trong vòng 24 giờ đầu,
99,1% bệnh nhi đã được điều trị hỗ trợ hô hấp
tích cực
cho thấy mối tương quan cao theo chiều thuận
với hệ số tương quan Pearson là 0,66 và sơ đồ
phân tán được trình bày ở hình 1
86
88
90
92
94
96
98
100
SaO2
Hình 1: Mối tương quan giữa SpO 2 và SaO 2 chung
Trên cả 2 nhóm bệnh nhi chưa ra sốc và đã
ra sốc, hệ số tương quan lần lượt là 0,61 và 0,78
và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,022)
Bước thứ hai, đánh giá độ chính xác của
SpO2 biểu đồ Bland-Altman biểu diễn độ khác
biệt và khoảng giới hạn tương đồng xét chung
trên toàn bộ mẫu và riêng cho từng nhóm được
trình bày lần lượt ở hình 2, 3 và 4
-8
-6
-4
-2
0
2
4
6
8
Trung bình SpO2 và SaO2
1.1
-1.96 SD -3.0
+1.96 SD 5.2
Hình 2: đồ thị Bland-Altman toàn bộ mẫu NC
-8 -6 -4 -2 0 2 4 6 8
Trung bình SpO2 và SaO2
1.2
-1.96 SD -3.4
+1.96 SD 5.8
Hình 3: đồ thị Bland-Altman đánh giá ở nhóm chưa
ra sốc
-8 -6 -4 -2 0 2 4 6 8
Trung bình SpO2 và SaO2
0.9 -1.96 SD -1.9
+1.96 SD 3.6
Hình 4: đồ thị Bland-Altman ở nhóm đã ra sốc
Xét trên toàn bộ bệnh nhân đang hồi sức sốc
bình là 1,1%, khoảng giới hạn tương đồng giữa
2 phép đo từ -3% đến 5,2% Có một xu hướng tuyến tính trên đồ thị này cho thấy độ chênh lệch 2 phép đo bị thay đổi theo giá trị độ bão hòa oxy máu trung bình Sự thay đổi này theo
xu hướng gia tăng độ chênh lệch khi độ bão hòa oxy máu càng thấp gợi ý yếu tố suy hô hấp
Ở nhóm chưa ra sốc, SpO2 cao hơn SaO2
trung bình là 1,2% (±2,3) Ở nhóm đã ra sốc, các giá trị này lần lượt là 0,9% (±1,4) Độ chênh lệch 2 phép đo của nhóm này không khác nhau có ý nghĩa thống kê (p=0,3, Mann-Whitney test) Khoảng giới hạn tương đồng ở nhóm chưa ra sốc và đã ra sốc lần lượt là (-3,4% ; 5,8%) và (-1,9% ; 3,6%)
r = 0,66 (0,58-0,72)
Trang 5Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến độ
chính xác SpO2 được trình bày ở bảng 4
Bảng 4: Độ chênh lệch (SpO 2 - SaO 2 ) trung bình
trong các phân nhóm
Yếu tố Phân nhóm n
Độ chênh lệch
± độ lệch chuẩn
p
Nhiệt độ
chi
p = 0,69
Phù
p = 0,34
Lactat máu
p = 0,66
p = 0,77
0,004
Yếu tố suy hô hấp nặng (SaO2 ≤ 90%) ảnh
hưởng đến độ chênh lệch giữa 2 phép đo theo
xu hướng tuyến tính (hình 5) Với trục tung là
giá trị tuyệt đối của độ chênh lệch giữa SpO2 và
SaO2, khi SaO2 càng cao, độ chênh lệch 2 phép
đo càng ít, và ngược lại Sự tương quan có ý
nghĩa thống kê (r = -0,61, p<0,0001) cho thấy sự
liên quan khá chặt chẽ theo chiều nghịch Khi
SaO2 càng thấp, độ sai biệt 2 phép đo càng lớn
0
1
2
3
4
5
6
7
8
SaO2 (%)
Hình 5: Mối tương quan giữa SaO 2 và độ chênh lệch tuyệt đối
độ nảy đèn tối đa là 10 nấc Khi biên độ nảy đèn
là 4 nấc, 50% (9/18) trường hợp có độ chênh lệch tuyệt đối (SpO2 - SaO2) >2% Khi số nấc nảy đèn
từ mức 4 trở xuống, sai lệch càng tăng Mối tương quan giữa biên độ nảy đèn tối đa của thiết bị với độ chênh lệch tuyệt đối của 2 phép
đo được trình bày ở hình 6
Hình 6 cho thấy hệ số tương quan r = -0,57 (p<0,05) cho thấy giữa biên độ nảy đèn và độ chênh lệch (giá trị tuyệt đối) tương quan khá cao theo chiều nghịch có ý nghĩa thống kê
0 1 2 3 4 5 6 7 8
Hình 6: Tương quan giữa biên độ nảy đèn và độ
chênh lệch tuyệt đối
BÀN LUẬN
Oxy kế theo mạch đập khá chính xác trong việc đo lường độ bão hòa oxy trong máu trên bệnh sốc SXH-D trong cả 2 nhóm chưa ra sốc và
đã ra sốc thể hiện qua kết quả đạt mức khá tốt của đồ thị Bland–Altman với độ chênh lệch trung bình nằm trong khoảng chấp nhận được SpO2 và SaO2 tương quan khá cao r = 0,66 (KTC 95%: 0,58–0,72) theo chiều thuận, tức là sự
đo ở ngoại vi Kết quả này tương tự các nghiên cứu trước đây trên các đối tượng bệnh nặng khi chỉ ra rằng tương quan giữa 2 phép đo nằm trong mức từ khá cao đến cao(8,10) Tuy nhiên, so với các nghiên cứu trên người tình nguyện khỏe mạnh bình thường thì hệ số tương quan của
Biên độ nảy đèn của máy
Trang 6nghiên cứu chúng tôi lại thấp hơn, nhưng lại
cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Văn Sinh(9) thực hiện trên bệnh nhân nặng tại
khoa Hồi sức tích cực BV An Giang Sự khác
nhau giữa các nghiên cứu này có thể do sự khác
nhau về đối tượng chọn mẫu Tuy nhiên, hệ số
tương quan Pearson trong đánh giá 2 đo lường
không giúp trả lời một cách trọn vẹn sự chính
xác của phép đo, mà chỉ nói lên sự tương quan
(nếu có) giữa chúng(1)
Thông qua phương pháp Bland-Altman, độ
chênh lệch trung bình (SpO2 - SaO2) là 1,1 ± 2,1%,
giới hạn tương đồng là từ -3% đến 5,2% Như
vậy, SpO2 ước lượng cao hơn độ bão hòa oxy
SaO2 thực tế trong máu trung bình là 1,1%, và
thấp hơn 3% đến cao hơn giá trị thực 5,2% Có 2
xu hướng qua các y văn: Trong khi một số tác
giả chỉ ra rằng SpO2 thấp hơn SaO2 thực tế(2,4,10),
thì một vài nghiên cứu gần đây trên đối tượng
tình nguyện và trên một số bệnh cảnh sốc, bệnh
lý nặng hồi sức (3,13) kết luận ngược lại Không có
nghiên cứu nào trên đối tượng bệnh nhi sốc
SXH-D, nên kết quả của chúng tôi chưa có giá trị
tham chiếu Nhìn chung, câu trả lời của chúng
tôi cũng tương tự các tác giả khác ở chỗ độ
chênh lệch trung bình nằm trong khoảng ±2%
Theo thông số của nhà sản xuất máy SpO2 và
theo phân tích tổng hợp(7) thì khoảng chênh lệch
này là chấp nhận được Tuy nhiên, đây chỉ là
phép so sánh thống kê mang giá trị tham khảo,
còn kết luận và quyết định là tùy thuộc vào các
bác sĩ thực hành và tình huống lâm sàng
Để trả lời câu hỏi là tình trạng sốc ảnh
nghiên cứu phân thành 2 nhóm: nhóm chưa ra
sốc và đã ra sốc Nhóm chưa ra sốc có khoảng
giới hạn tương đồng rộng hơn nhóm đã ra sốc,
gợi ý rằng khi tình trạng lâm sàng bệnh nhân
chưa ra sốc thì cần cẩn trọng trong việc tiên
có ý nghĩa thống kê nên tình trạng sốc trên lâm
sàng không gây ảnh hưởng đến độ chính xác
của SpO2 Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng độ chính xác của SpO2 Về mặt lý thuyết, những yếu tố ảnh hưởng đến độ tưới máu ngoại vi hay ảnh hưởng đến kháng lực mạch ngoại vi thì có khả năng gây sai lầm cho thiết bị đo SpO2, một phương pháp ước lượng độ bão hòa oxy máu phụ thuộc tín hiệu mạch Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa chứng minh được các yếu tố như chi lạnh, phù chi, thuốc vận mạch ảnh hưởng tới kết quả
máu dường như không gây sai lệch đo lường SpO2
Đã có các bằng chứng cho rằng tình trạng thiếu máu nặng gây nhiễu trên SpO2(11), nhưng chúng tôi không tìm ra được điều đó trên BN sốc SXH-D, có thể do phần lớn bệnh nhân sốc SXH-D chỉ thiếu máu nhẹ, vừa hoặc không thiếu máu Từ kết quả này, chúng tôi gợi ý rằng trên bệnh nhi SXH-D mà không kèm thiếu máu nặng, ta có thể tin tưởng ở chỉ số SpO2 đo được,
và khi trẻ kèm một bệnh lý huyết học gây thiếu máu nặng hoặc kèm xuất huyết nặng thì cần KMĐM trong đánh giá suy hô hấp
Tình trạng suy hô hấp là biến số quan trọng trong hầu hết các nghiên cứu liên quan đến
theo mạch đập là nhằm phát hiện sớm tình trạng thiếu oxy máu Với phương pháp Bland – Altman kết quả của chúng tôi cũng ủng hộ kết luận chung của hầu hết y văn Khi SaO2 >90 % sai số giữa 2 phép đo chỉ dưới 1%, ngược lại, độ sai biệt này gia tăng quá ngưỡng chấp nhận
tuyệt đối của 2 phép đo cho thấy oxy kế theo mạch đập không còn đủ độ chính xác khi kèm
tình trạng suy hô hấp nặng Jensen(7) giải thích sự gia tăng sai số này là do: (1) thuật toán cài đặt trong các thiết bị này được dựa trên các nghiên cứu trên các đối tượng “bình thường” SaO2>70%; (2) trong giai đoạn thiếu oxy máu, nồng độ Hb không bão hòa gia tăng nên làm thay đổi nhiều lên tỷ lệ hấp thụ ánh sáng từ đầu
Trang 7dò
Giữa độ nảy đèn và độ chênh lệch tuyệt đối
2 phép đo có một tương quan trung bình theo
chiều nghịch (r = -0,57, p<0,05) gợi ý rằng khi độ
và SaO2 càng gia tăng Nếu thanh đèn hiển thị
tối đa từ 3 nấc trở xuống thì nên kiểm tra ngay
các sai sót do kỹ thuật: đầu dò gắn quá chặt,
băng đo huyết áp đang bơm căng, bệnh nhân cử
động nhiều, … Sau khi đã kiểm tra các tác nhân
này mà đèn tín hiệu vẫn nảy thấp thì tốt hơn
Tóm lại, nghiên cứu này cho thấy chỉ số
được ứng dụng rộng rãi tại những nơi chưa
được trang bị máy phân tích khí máu động
mạch trong theo dõi bệnh nhân sốc SXH-D
KẾT LUẬN
Nhìn chung trên bệnh nhân sốc SXH, chỉ
dù bệnh nhân có chi lạnh, phù, tăng lactat
máu, thiếu máu, toan máu, điều trị thuốc vận
mạch thì không gây ảnh hưởng đến độ chính
xác của SpO2 Được xem như “dấu hiệu sinh
tồn thứ 5”, SpO2 đóng vai trò quan trọng
không thể thay thế trong việc theo dõi tình
trạng bệnh nhân Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy thiết bị oxy kế theo mạch
đập đủ độ chính xác trong theo dõi bệnh nhi
sốc SXH do độ sai lệch này nằm trong giới
hạn chấp nhận được Tuy nhiên, các nhà thực
hành lâm sàng nên lưu tâm đến độ chênh lệch
(SpO2 - SaO2) và sự gia tăng sai số trong tình
huống có kèm suy hô hấp nặng SaO2 ≤ 90%
hoặc khi biên độ nảy đèn tín hiệu ở mức thấp dưới 4 nấc Chúng tôi khuyến cáo cần tham khảo thêm kết quả KMĐM trên các đối tượng này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bland JM, Altman DG (1986) Statistical methods for assessing agreement between two methods of clinical measurement Lancet.1(8476):307-10
2 Chhajed PN, Miedinger D, Baty F, Bernasconi M, Heuss LT, Leuppi JD, et al (2010) Comparison of combined oximetry and cutaneous capnography using a digital sensor with arterial blood gas analysis Scand J Clin Lab Invest.70(1):60-4
3 Choi JH, Park WS (1991) Correlation between pulse oximetry oxygen saturation (SpO2) and measured arterial oxygen saturation (SaO2) and arterial oxygen tension (PaO2) in neonates The Seoul Journal of Medicine.32(1):17-25
4 Comber JT, Lopez BL (1996) Evaluation of pulse oximetry in sickle cell anemia patients presenting to the emergency department in acute vasoocclusive crisis Am J Emerg Med.14(1):16-8
5 Dengue and dengue haemorrhagic fever (database on the Internet) WHO March 2009 (cited Available from: http://www.who.int/mediacentre/factsheets/fs117/en/
6 Ibanez J, Velasco J, Raurich JM (1991) The accuracy of the Biox
3700 pulse oximeter in patients receiving vasoactive therapy Intensive Care Med.17(8):484-6
7 Jensen LA, Onyskiw JE, Prasad NG (1998) Meta-analysis of arterial oxygen saturation monitoring by pulse oximetry in adults Heart Lung.27(6):387-408
8 Nguyễn Thị Quý, Hoàng Thị Thanh Hằng (2009) Ích lợi của việc theo dõi độ bảo hòa O2 máu động mạch trong và sau mổ trên các trẻ em bệnh tim bẩm sinh Yhocnet
9 Nguyễn Văn Sinh (2009) Mối tương quan giữa SpO2 và
SaO2.41-5
10 Perkins GD, McAuley DF, Giles S, Routledge H, Gao F (2003) Do changes in pulse oximeter oxygen saturation predict equivalent changes in arterial oxygen saturation? Crit Care.7(4):R67
11 Ramsing T, Rosenberg J (1992) Pulse oximetry in severe anaemia Intensive Care Med.18(2):125-6
12 Van de Louw A, Cracco C, Cerf C, Harf A, Duvaldestin P, Lemaire
F, et al (2001) Accuracy of pulse oximetry in the intensive care unit Intensive Care Med.27(10):1606-13
13 Wilson BJ, Cowan HJ, Lord JA, Zuege DJ, Zygun DA (2010) The accuracy of pulse oximetry in emergency department patients with severe sepsis and septic shock: a retrospective cohort study BMC Emerg Med.10:9