1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng viêm xương tủy xương đường máu giai đoạn cấp tính ở trẻ em và kết quả điều trị bằng phương pháp khoan xương tưới rửa kháng sinh liên tục

6 79 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 162,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm xương tuỷ xương đường máu (VXTXĐM) giai đoạn cấp tính ở trẻ em và kết quả điều trị bằng phương pháp khoan xương tưới rửa kháng sinh liên tục. Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VIÊM XƯƠNG TỦY XƯƠNG ĐƯỜNG MÁU GIAI ĐOẠN CẤP TÍNH Ở TRẺ EM VÀ

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHOAN XƯƠNG

TƯỚI RỬA KHÁNG SINH LIÊN TỤC

Thái Văn Bình*; Nguyễn Ngọc Hưng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh viêm xương tuỷ xương đường

máu (VXTXĐM) giai đoạn cấp tính ở trẻ em và kết quả điều trị bằng phương pháp khoan xương

tưới rửa kháng sinh liên tục Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang

theo dõi dọc92 bệnh nhân (BN) chẩn đoán VXTXĐM giai đoạn cấp, điều trị tại Bệnh viện Sản

Nhi Nghệ An từ tháng 1 - 2010 đến 12 - 2014 Kết quả: VXTXĐM gặp ở trẻ > 6 tuổi (59,8%),

nam nhiều hơn nữ (1,4/1), nông thôn 91,3%; thành thị 8,7% Vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là tụ

cầu vàng (91,3%) Triệu chứng sốt cao 100%; đau vùng chi tổn thương 93,9%; sưng nề 90,2%;

hạn chế vận động 84,8% Thường gặp nhất ở xương cẳng chân (45,7%), xương đùi (23,9%)

Bạch cầu tăng 74,6%; máu lắng tăng 97,7% Triệu chứng X quang xuất hiện muộn sau 10 ngày

(64,1%) Phẫu thuật khoan xương tưới rửa kháng sinh 37,0% (34 BN) Kết quả: tốt 88,2%;

trung bình 8,8%; kém 3,0% Thời gian nằm viện trung bình 14,45 ngày Kết luận: phẫu thuật

khoan xương tưới rửa kháng sinh cho kết quả tốt, rút ngắn thời gian điều trị, hạn chế tái phát

* Từ khóa: Viêm xương tủy xương đường máu; Trẻ em; Khoan xương; Tưới rửa kháng sinh

Clinical, Paraclinical Characteristics of Acute Hematogenous

Ostepmyelitis in Children and Treatment Results of Bone Drilling

and Continuous Antibiotic Irrigation

Summary

Objectives: To study clinical, paraclinical features of acute hematogenous osteomyelitis in children

and treatment results of bone drilling and continuous antibiotics irrigation Subjects and methods:

A cross-sectional descriptive study was carried out on 92 patients diagnosed as acute hematogenous

osteomyelitis, who were treated by bone drilling and antibiotics irrigation Results: Hematogenous

osteomyelitis was seen in children upper 6 years old (59.8%) Boys more than girls (1.4/1) Rural

areas 91.3% and urban areas 8.7% Bacteria were mainly S aureus (91.3%) Early symptoms were

high fever (100%), pain in the region of injury (93.9%), swelling (90.2%), limited movement (84.8%)

The most common sites were in the tibia (45.7%), the femur (23.9%) Tests: WBC increased

(74.6%); VSS increased (97.7%) Symptoms appeared in X-ray were usually after 10 days (64.1%)

Drilling bone and antibiotic irrigation accounted for 37.0% (34 patients) Good results 88.2%;

average 8.8%; bad 3.0% The average hospital stay was 14.45 days Conclusions: Drilling bone and

antibiotic irrigation gets better results, shortening the treatment duration, limiting recurrence

* Key words: Acute hematogenous osteomyelitis; Children; Drilling bone; Antibiotic irrigation

* Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An

** Bệnh viện Nhi TW

Người phản hồi (Corresponding): Thái Văn Bình (binhbvn@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 24/03/2016; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 16/05/2016

Ngày bài báo được đăng: 06/07/2016

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm xương tủy xương đường máu trẻ

em là bệnh hay gặp Bệnh khởi phát ở

hành xương viêm sinh mủ lan ra toàn bộ

xương Tỷ lệ mắc bệnh cao ở các nước

đang phát triển VXTXĐM thường gặp ở

các xương dài (83 - 84%) Tiên lượng

bệnh phụ thuộc vào chẩn đoán sớm hay

muộn, khả năng điều trị Nếu chẩn đoán

sớm, điều trị đúng, kịp thời, bệnh có thể

khỏi 90 - 100% Chẩn đoán muộn, điều trị

sai, bệnh chuyển sang giai đoạn mạn tính

và để lại nhiều di chứng nặng nề Đã có

nhiều công trình nghiên cứu chẩn đoán

sớm bằng siêu âm, chọc hút hành xương,

CT-scanner, chụp đồng vị phóng xạ, cộng

hưởng từ… Điều trị VXTXĐM giai đoạn

cấp tính ở trẻ em bằng kháng sinh, phẫu

thuật làm giảm áp lực ống tủy, dẫn lưu,

mở cửa sổ xương Khoan xương tưới rửa

kháng sinh điều trị VXTXĐM giai đoạn

cấp tính được thực hiện tại Bệnh viện Nhi

TW từ năm 1984 Tại Bệnh viện Sản Nhi

Nghệ An, phương pháp này được thực

hiện từ nhiều năm nay Nghiên cứu này

nhằm: Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận

lâm sàng bệnh VXTXĐM giai đoạn cấp

tính ở trẻ em và kết quả điều trị bằng

phương pháp khoan xương tưới rửa

kháng sinh liên tục

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

92 BN được chẩn đoán VXTXĐM giai

đoạn cấp tính, điều trị tại Khoa Chấn

thương Chỉnh hình - Bỏng, Bệnh viện Sản

Nhi Nghệ An từ tháng 1 - 2010 đến

12 - 2014

* Tiêu chuẩn lựa chọn: BN < 16 tuổi,

chẩn đoán VXTXĐM giai đoạn cấp tính

* Tiêu chuẩn loại trừ: viêm xương tuỷ xương do chấn thương, giang mai, VXTXĐM cấp tính, nhưng không điều trị phẫu thuật Không đủ hồ sơ bệnh án và

phim X quang BN ≥ 16 tuổi

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc, không nhóm chứng

* Các bước nghiên cứu:

- Thăm khám lâm sàng, thu thập thông tin về tuổi, giới, nơi ở, ngày vào viện, ngày ra viện, triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, tiền sử và bệnh kết hợp

- Thăm khám cận lâm sàng: chụp phim

X quang xương ở chi bị viêm, xét nghiệm công thức máu, tốc độ máu lắng, cấy máu

và cấy dịch mủ làm kháng sinh đồ

- Điều trị kháng sinh toàn thân

- Phẫu thuật: khoan xương lưu mủ và tưới rửa kháng sinh liên tục áp dụng xương đùi, xương chày

- Bất động bột ở tư thế cơ năng

- Đánh giá kết quả phẫu thuật khoan xương tưới rửa kháng sinh theo tiêu chuẩn của Bernard F Morrey [7]

16.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

Trong thời gian từ 1 - 2010 đến

12 - 2014, 92 BN bị VXTXĐM giai đoạn cấp tính vào điều trị tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình - Bỏng, Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An, chiếm 0,21% số BN nhập viện; 1,02% số BN của khoa

Trang 3

1 Tuổi và giới

* Phân bố bệnh theo nhóm tuổi

(n = 92):

≤ 30 ngày: 3 BN (3,2%): > 30 ngày -

< 6 tuổi: 34 BN (37,0%); ≥ 6 tuổi: 55 BN

(59,8%) Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, nhỏ

nhất 24 ngày tuổi, lớn nhất 15 tuổi Phạm

Văn Yên [5] nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi

TW, tỷ lệ VXTXĐM gặp ở độ tuổi < 6

chiếm 57%

* Giới: trong số 92 BN nghiên cứu,

54 BN nam (58,7%) và 38 BN nữ

(14,3%) Tỷ lệ giữa nam và nữ là 1,4/1

Phạm Văn Yên [5] gặp tỷ lệ này là 2/1

Theo chúng tôi đây là điều rất đáng lưu ý

đối với các thầy thuốc khi khám và chẩn

đoán bệnh trong giai đoạn đầu, khi hình

ảnh X quang xương hoàn toàn chưa có

những tổn thương đặc hiệu

91,3% trẻ em sống ở nông thôn, ở thành

thị 8,7%

* Tiền sử trước khi bị bệnh: không rõ

tiền sử trước khi bị VXTXĐM chiếm 27,2%

2 Chẩn đoán và điều trị của tuyến

trước

- 48,9% BN được chẩn đoán đúng từ

tuyến trước, chẩn đoán nhầm 18,4%;

chưa có chẩn đoán 32,6%

- 54,5% BN chưa điều trị

3 Triệu chứng lâm sàng trước khi

vào viện

- Thời gian BN đến viện trong tuần đầu

của bệnh chiếm tỷ lệ thấp (19,8%) Đa số

BN đến viện muộn từ tuần thứ 2 đến

ngày thứ 14 (77,2%)

- Triệu chứng khởi phát của bệnh rất

rầm rộ, 100% BN có triệu chứng sốt, đau

vùng chi viêm, sưng nề chi 97,8%, hạn chế vận động chi 95,5% Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Phạm Văn Yên [5], Uông Anh Tú [4]

4 Triệu chứng lâm sàng khi vào viện

- BN đến viện triệu chứng sốt chiếm 65,2% trường hợp, mặc dù trong bệnh sử 100% có sốt

- Đau ở quanh đầu chi tổn thương 93,9%; không đau 6,1% Những BN vào viện sớm trong vòng 2 tuần đầu, 100% có đau Kết quả này tương tự của Bonhoeffer J [6] với 95% BN vào viện có triệu chứng đau, có mối liên quan giữa triệu chứng đau với thời gian BN đến viện Những BN vào viện sớm trong vòng

2 tuần đầu triệu chứng đau chiếm 100%

- Sưng nề ở nơi tổn thương 90,2%, sưng nề không rõ ràng 9,8% Những BN nhập viện trong tuần đầu có biểu hiện sưng nề 100%, tuần thứ 2: 90,7% Nhận xét này giống kết quả của Uông Anh Tú [4], Phạm Văn Yên [5]

- Hạn chế vận động: 84,8% BN có hạn chế vận động Trong đó số BN vào viện trong 2 tuần đầu, triệu chứng này > 90%; tuần thứ 2: 81,0%

- Vị trí xương viêm: xương cẳng chân gặp nhiều nhất (45,7%), sau đó đến xương đùi (23,9%) Theo Nguyễn Ngọc Hưng [2], vị trí xương bị viêm xếp theo tần suất thường gặp là: xương đùi, xương chày, xương chậu, xương cánh tay; theo Phạm Văn Yên [5]: xương đùi chiếm 46,7%; xương chày 35%; xương cánh tay 12,6% Nghiên cứu của Bonhoeffer J [6]: tổn thương xương đùi 24%; xương chày 18%; xương chậu 13%;

Trang 4

xương cánh tay 5% Như vậy, tần suất

chi bị viêm xương trong nghiên cứu của

chúng tôi khác kết quả của Phạm Văn

Yên [5]

- Bệnh phối hợp: 9,3% BN có bệnh

phối hợp, trong đó VXTXĐM kết hợp với

viêm phổi 6,1%

5 Triệu chứng cận lâm sàng

- Số lượng bạch cầu tăng so với tuổi

chiếm 74,6% Trị số trung bình của bạch

cầu 15.978,7 ± 647,5/mm3

- Tốc độ máu lắng tăng chiếm đa số

trường hợp (97,7%) Kết quả của chúng

tôi tương đương với nghiên cứu của

Phạm Văn Yên [5], Bonhoeffer J và CS

[6]

- Kết quả cấy máu: trong 26 ca cấy

máu, 15 ca (56,1%) cho kết quả dương

tính và 43,9% âm tính

- Kết quả cấy mủ: trong 26 ca cấy mủ,

19 ca (71,4%) dương tính và 28,6%

âm tính

cấy máu và mủ (n = 34)

Proteus, Bacillus, Pseudo 3 8,7

Trong 34 mẫu bệnh phẩm được nuôi

cấy từ máu và mủ dương tính, kết quả

31 BN (91,3%) có tụ cầu vàng

Chúng tôi nhận thấy số BN đến trong

10 ngày đầu của bệnh, 100% chưa thấy

các dấu hiệu tổn thương xương trên phim

X quang Từ ngày thứ 10 đến sau 14 ngày,

64,1% BN có hình ảnh tổn thương xương trên phim X quang

Như vậy, hình ảnh tổn thương xương trên phim X quang của VXTXĐM giai đoạn cấp không điển hình, không thể dựa vào để xác định có viêm xương hay không Hình ảnh tổn thương xuất hiện chủ yếu sau tuần thứ 2 (82,1%) Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với nhận xét của Uông Anh Tú [4], Bonhoeffer J và CS [6]

6 Điều trị VXTXĐM

- 100% BN được điều trị kháng sinh toàn thân, trong đó dùng ceftriaxone theo kết quả kháng sinh đồ chiếm 61,3%

Số còn lại dùng ceftriaxone kết hợp với gentamycin hoặc kháng sinh cùng nhóm cephalosporin kết hợp với nhóm aminozid

Bảng 2: Phương pháp điều trị phẫu thuật (n = 92)

Khoan xương tưới rửa kháng sinh, dẫn lưu

Đục mở cửa sổ nạo ổ viêm, dẫn lưu, tưới rửa kháng sinh

Rạch dẫn lưu mủ dưới màng xương, bất động không mổ dùng kháng sinh

Phẫu thuật có khoan xương nhỏ giọt tưới rửa kháng sinh áp dụng cho các thân xương đùi, xương chày và xương cánh tay

Phạm Văn Yên [5] đánh giá kết quả điều trị của hai phương pháp này cho thấy phương pháp khoan xương và tưới

Trang 5

rửa kháng sinh liên tục đem lại kết quả

cao hơn (94,6%) so với phương pháp

nạo ổ viêm và dẫn lưu đơn thuần

(50,8%)

Phương pháp khoan xương đặt hệ

thống nhỏ giọt tưới rửa kháng sinh liên

tục có tác dụng làm giảm áp lực trong ống

tuỷ, khi ổ áp xe ở hành xương và dưới

màng xương, nên hạn chế thương tổn

mạch máu nuôi dưỡng cho xương, đồng

thời giúp tái tạo các mạch máu tân tạo

cho xương Tiếp tục làm sạch tổ chức

viêm, trong quá trình phẫu thuật không

thể làm sạch triệt để [8]

Khi dẫn lưu ổ viêm đơn thuần, quá

trình này không triệt để vì các cục máu

đông có thể làm tắc một phần hoặc hoàn

toàn ống dẫn lưu, gây ứ đọng dịch viêm

Khi săn sóc không tốt, vi khuẩn qua ống

dẫn lưu lên gây nhiễm trùng ngược dòng

tới xương Chúng tôi đã lấy dịch ra từ ống

dẫn ra của hệ thống nhỏ giọt từ những

giọt đầu tiên ngay sau khi mổ Khi chưa

đưa kháng sinh tại chỗ, 4/34 bệnh phẩm

(11,8%) mọc vi khuẩn Vì vậy, mục đích

của đặt nhỏ giọt kháng sinh liên tục giải

quyết triệt để tổ chức viêm sau phẫu

thuật, hạn chế nhiễm khuẩn ngược dòng

bằng đưa kháng sinh liên tục 24/24 giờ,

đồng thời cũng chống tắc hệ thống nhỏ

giọt

Để thực hiện mục đích trên, chúng tôi

bơm rửa huyết thanh mặn đẳng trương

cho đến khi dịch trong ống tuỷ chảy ra

trong, làm sạch tổ chức viêm và máu

phần mềm Đặt catheter số 6 vào trong

ống tuỷ, ống dẫn dịch bằng dây truyền

huyết thanh có nhiều lỗ bên đặt trong và

ngoài màng xương, tuỳ theo mức độ tổn

thương để dẫn lưu ra máy hút liên tục

hoặc chai huyết thanh nhựa

7 Kết quả điều trị

92 BN ra viện với tình trạng 100% không sốt, bột cố định tốt, những BN mổ không có dấu hiệu nhiễm khuẩn vết mổ

* Kết quả khoan xương tưới rửa kháng sinh, dẫn lưu (n = 34): tốt: 30 BN (88,2%); trung bình: 3 BN (8,8%); kém: 1 BN (3,0%)

92 BN VXTXĐM điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An có thời gian nằm viện trung bình 14,45 ± 6,06 ngày, ít nhất 2 ngày, nhiều nhất 54 ngày Thời gian hết sốt sau mổ trung bình 4,2 ± 2,3 ngày, ít nhất 1 ngày, nhiều nhất 16 ngày

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 92 BN VXTXĐM giai đoạn cấp tính điều trị tại Bệnh viện Sản Nhi Nghệ An, chúng tôi rút ra kết luận:

- Bệnh VXTXĐM là một bệnh thường gặp ở trẻ em > 6 tuổi (59,8%) Nam nhiều hơn nữ (1,4/1) Tần suất gặp ở nông thôn cao hơn thành thị Vi khuẩn gây bệnh chủ yếu là tụ cầu vàng (92,5%)

- Các triệu chứng khởi phát gồm: sốt cao (100%), đau vùng chi tổn thương (93,9%), sưng nề (90,2%), hạn chế vận động (84,8%), hay gặp nhất là xương chày (45,7%), xương đùi (23,9%) Xét nghiệm máu: bạch cầu tăng (74,6%), máu lắng tăng (97,7%)

- Triệu chứng X quang thường có muộn sau 10 ngày (64,1%)

- Phẫu thuật khoan xương nhỏ giọt tưới rửa kháng sinh cho 34 BN (37,0%) với kết quả tốt 88,2%; trung bình 8,8%; kém 3,0% Thời gian nằm viện trung bình 14,45 ngày

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đặng Kim Châu Viêm xương trẻ em

Bách khoa toàn thư bệnh học Trung tâm biên

soạn từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam

Hà Nội 2003, tr.386-389

2 Nguyễn Ngọc Hưng Viêm xương tủy

xương Hướng dẫn chẩn đoán điều trị bệnh

trẻ em Nhà xuất bản Y học 2003, tr.525-528

3 Đỗ Lợi Cốt tuỷ viêm Bệnh học ngoại

khoa sau đại học, tập II Học viện Quân y

1993, tr.492-505

4 Uông Anh Tú Viêm xương tuỷ cấp ở trẻ

em, chẩn đoán và điều trị Công trình nghiên

cứu khoa học Ngoại Nhi toàn quốc lần thứ 2

tại Bệnh viện Nhi TW 2003, tr.199-207

5 Phạm Văn Yên. Nhận xét kết quả điều trị VXTXĐM trẻ em bằng phương pháp khoan xương và tưới rửa kháng sinh tại Bệnh viện Nhi TW Luận văn Thạc sỹ Y học Đại học Y khoa Hà Nội 1999

6 Bonhoeffer J et al. Diagnosis of acute haematogenous osteomyelitis and septic arthritis:

20 years experience at the University Children's

Hospital Basel Swiss Med Wkly 2001, 131, p.575

7 Bernard F Morrey. Hematogenous

pyogenic osteomyelitis in children Orthopedic Clinics of North America 1975, 6 (4), pp.935-949

8 Dahl LB, Hoyland AL, Dramsdahl H et al.

Acute osteomyelitis in children: a population

based retrospective study 1965 to 1994

Scand J Infect Dis 1998, 30, pp.573-577

Ngày đăng: 22/01/2020, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w