1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cập nhật chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày sớm 2015

10 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 374,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiên lượng của ung thư dạ dày tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, do đó chẩn đoán sớm, khi còn có thể điều trị tiệt căn có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để chẩn đoán chính xác ung thư dạ dày sớm, cần có những hiểu biết căn bản về hình ảnh nội soi ánh sáng trắng, ánh sáng phổ màu tăng cường, nội soi nhuộm màu, nội soi phóng đại, siêu âm nội soi.

Trang 1

- Địa chỉ liên hệ: Trần Văn Huy, email: bstranvanhuy@gmail.com

- Ngày nhận bài: 28/12/2014 * Ngày đồng ý đăng: 5/1/2015 * Ngày xuất bản: 10/1/2015

tổng quan:

CẬP nHẬt CHẨn ĐOÁn VÀ ĐIỀu tRỊ ung tHƯ DẠ DÀY SỚM 2015

Tổng hợp và dịch: Trần Văn Huy, Trần Quang Trung

Trường Đại học Y Dược Huế

Tóm tắt

Tiên lượng của ung thư dạ dày tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, do đó chẩn đoán sớm, khi còn có thể điều trị tiệt căn có ý nghĩa vô cùng quan trọng Để chẩn đoán chính xác ung thư dạ dày sớm, cần có những hiểu biết căn bản về hình ảnh nội soi ánh sáng trắng, ánh sáng phổ màu tăng cường, nội soi nhuộm màu, nội soi phóng đại, siêu âm nội soi Và quan trọng là bệnh nhân phải được nội soi sớm, một thống

kê về kết quả nội soi sàng lọc trên 40.000 bệnh nhân công bố đầu 2015 cho thấy nội soi sàng lọc giúp phát hiện nhiều trường hợp có tổn thương tiền ung thư và ung thư dạ dày sớm Điều trị ung thư dạ dày sớm bằng các thủ thuật nội soi xâm nhập tối thiểu đã trở thành phương pháp có rất nhiều ưu việt Bên cạnh kỹ thuật cắt hớt niêm mạc qua nội soi (EMR) thì kỹ thuật mới là phẫu tích dưới niêm mạc qua nội soi (ESD) gần đây đã được triển khai, nhân rộng ở nhiều trung tâm trên thế giới Thời gian qua, thực sự chiến lược triển khai ESD đã được đẩy mạnh, nhiều phương tiện, dụng cụ đã được phát triển, chỉ định cũng được

mở rộng hơn và ngày càng có nhiều báo cáo về tính an toàn và kết quả theo dõi lâu dài Ngoài ra, người

ta cũng đã triển khai các phương pháp điều trị phối hợp giữa nội soi và ngoại tiêu hóa Rõ ràng rằng, số bệnh nhân được làm ESD sẽ ngày một tăng và với sự phát triển không ngừng của các kỹ thuật nội soi, không những tiên lượng của bệnh nhân ung thư dạ dày sẽ cải thiện đáng kể mà chất lượng sống sau điều trị của họ cũng được đảm bảo gần như bình thường

Từ khóa: Ung thư dạ dày, ung thư dạ dày sớm, nội soi, chẩn đoán

Summary

UPDATE ON THE DIAGNOSIS AND MANAGEMENT OF EARLY GASTRIC CANCER

Tran Van Huy, Tran Quang Trung Hue University of Medicine and Pharmacy

The prognosis of gastric cancer depends principally upon an early diagnosis An early and accurate diagnosis of gastric cancer needs some basic knowledges about the endoscopic characteristics of white light endoscopy, chromoendoscopy, magnified endoscopy, FICE and NBI…A strategy of screening is also a key factor for early diagnosis The treatment of early gastric cancer by endoscopy techniques have showed more and more advantages Beside of EMR, the technique of ESD is now applied more widely and lead to a very good prognosis and nearly a curative treatment for the patients with early gastric cancer

Key words: Gastric cancer, early gastric cancer, endoscopy, diagnosis

1 GIỚI THIỆU

Mặc dù cả tỉ lệ mắc và tử vong của ung thư dạ

dày đang có xu hướng giảm, bệnh lí này vẫn còn

là một trong những nguyên nhân gây tử vong do

ung thư hàng đầu trên toàn cầu [1, 2] Tỉ lệ ung thư

dạ dày khác nhau giữa các khu vực, vùng Đông

Á, gồm Nhật Bản và Hàn Quốc có tỉ lệ cao hơn hẳn các nước Tây phương Ở Nhật Bản, kể từ sau khi chương trình sàng lọc ung thư dạ dày bằng chụp đối quang kép dùng barit, rồi sau đó là sự phát triển của nội soi, ung thư dạ dày đã được chẩn đoán sớm, từ khi chưa có triệu chứng lâm sàng với

Trang 2

tỉ lệ ngày càng cao [3] Hiện nay, có tới khoảng

một nửa số ca ung thư dạ dày ở quốc gia này được

điều trị ở giai đoạn sớm [4]

Ngược lại, ở phương Tây, ung thư dạ dày vẫn

còn thường được chẩn đoán muộn, dẫn đến tiên

lượng xấu Tiên lượng phụ thuộc vào giai đoạn

bệnh được chẩn đoán và chỉ có loại bỏ khối u hoàn

toàn mới điều trị được

Kết quả sống 5 năm với tỉ lệ trên 90% sau điều

trị ở cả phương Tây và Nhật Bản sau điều trị ung thư

dạ dày sớm cho thấy vai trò quan trọng của việc phát

hiện tổn thương càng sớm càng tốt [5,6] Hơn nữa,

cùng với việc nâng cao tỉ lệ chẩn đoán ung thư dạ

dày sớm ở Nhật Bản là sự mở rộng của các phương

pháp điều trị xâm nhập tối thiểu qua nội soi đường

miệng như cắt hớt niêm mạc (EMR), sau đó là phẫu

tích dưới niêm mạc (ESD) Phương pháp này được

sự đồng thuận của đông đảo các nhà nội soi tiêu hóa,

kể cả ở phương Tây và nâng số ca ung thư dạ dày được điều trị qua nội soi đường miệng tăng lên rất nhanh [7, 8] Bài tổng quan này nhằm nhìn nhận lại, cập nhật thêm các vấn đề hiện tại trong chẩn đoán, điều trị của ung thư dạ dày sớm và đề cập một số hướng phát triển trong tương lai

2 PHÂN lOẠI UNG THƯ DẠ DÀY SỚM

Ung thư dạ dày sớm được định nghĩa là tổn thương ác tính còn khu trú ở lớp niêm mạc hoặc dưới niêm mạc của dạ dày, không tính đến tình trạng di căn hạch bạch huyết [9] Phân loại ung thư dạ dày

về mặt đại thể của Nhật Bản được sử dụng rộng rãi, chia ung thư dạ dày sớm làm 3 típ chính (0-I, 0-II, và 0-III), trong đó 0-II được chia nhỏ thành 3 dưới típ (0-IIa, 0-IIb và 0-IIc) (Hình 1 và 2)

Típ 0-IIb

Típ 0-I

Típ 0-IIa

Típ 0-IIc

Típ 0-III

Hình 1 Phân loại đại thể ung thư dạ dày sớm

Hình 2 Minh họa phân loại ung thư sớm: (a) típ 0-I (dạng polyp); (b) típ 0-IIa (dạng lồi nhẹ);

(c) típ 0-IIb (dạng dẹt); (d) típ 0-IIc (dạng trợt lõm); (e) type-III (dạng loét nông)

Trang 3

Típ ung thư dạ dày sớm thường gặp nhất là:

0-IIc [10] Nếu có hai dạng tổn thương phối hợp

thì dạng nào chiếm chủ yếu sẽ được ghi trước Tại

hội thảo Quốc tế tổ chức ở Pari năm 2002, các

chuyên gia đã đưa ra phân loại Pari, dựa trên phân

loại của Nhật Bản, thống nhất về phân loại ung thư

bề mặt ống tiêu hóa [11]

Mặc dù ung thư là chẩn đoán mô học, nhưng

chưa có sự chuẩn hóa và thống nhất giữa các nhà

giải phẫu bệnh Nhật Bản và phương Tây [12] Ở

các nước Âu, Mỹ, ung thư được xác định khi khối

u đã xâm nhập ít nhất là sâu quá lớp màng đáy,

đến lớp cơ niêm hoặc dưới niêm mạc Trong khi

đó, ở Nhật Bản, chẩn đoán ung thư dựa vào sự bất

thường tế bào và cấu trúc mô học, không kể độ

xâm lấn Mặc dù sự chưa nhất quán này đã giảm

đi sau khi có phân loại Vienna nhưng tổn thương

được chẩn đoán là ung thư trong niêm mạc ở Nhật

thì vẫn chỉ được xem là loạn sản nặng ở châu Âu

(phân loại Vienna 4.1) [13] Tuy nhiên, trên 40%

tổn thương mức 3 hoặc 4.1 theo phân loại Vienna

theo chẩn đoán từ mẫu sinh thiết trước mổ đã được

xác định là ung thư ở bệnh phẩm sau phẫu tích nội

soi, đồng thời cũng có một tỉ lệ nhỏ đã xâm lấn qua

lớp dưới niêm mạc [14, 15] Do đó, để đánh giá

khả năng điều trị tiệt căn ung thư dạ dày sớm, cần

phân tích kỹ về mặt giải phẫu bệnh của khối u sau

khi đã được tách bỏ qua đường nội soi

Khác với ung thư tiến triển, ung thư dạ dày

sớm thường khó phát hiện qua nội soi vì mới chỉ

có những thay đổi rất nhỏ trên bề mặt niêm mạc

Để tránh bỏ sót ung thư dạ dày sớm, nhà nội soi

cần hiểu rõ các đặc điểm của bệnh lí này và thực

hiện qui trình nội soi một cách kỹ lưỡng, qui chuẩn

[16] Bên cạnh nội soi thường qui bằng ánh sáng

trắng thì các phương tiện, phương pháp hiện đại

hơn như nội soi nhuộm màu, dùng ánh sáng màu

tăng cường, nội soi phóng đại và siêu âm nội soi

đã làm tăng khả năng và độ chính xác trong chẩn

đoán ung thư dạ dày sớm

2.1 Nội soi bằng ánh sáng trắng

Để chẩn đoán chính xác ung thư dạ dày sớm,

nhà nội soi cần thực hiện việc soi dạ dày kỹ lưỡng

và quan sát hiệu quả, nắm chắc các đặc trưng của

thương tổn gợi ý bệnh lí này Trên ánh sáng trắng,

cần chú ý những điểm rất nhỏ như thay đổi nhẹ

màu sắc, mất mạng mạch máu dưới niêm, nếp niêm

mạc mất liên tục, chảy máu tự nhiên… Những thay đổi này thường không dễ thấy, do đó, cần rửa thật sạch niêm mạc, bơm đủ hơi và quan sát hết các vùng trong dạ dày Khi phát hiện thương tổn, cần điều chỉnh lượng hơi, quan sát ở nhiều góc độ khác nhau để đánh giá độ nhiễm cứng, nhận định

độ xâm lấn Độ chính xác của nội soi thường qui trong phân biệt tổn thương đang ở niêm mạc hay dưới niêm mạc có thể lên tới 72% - 84% [17-19] Ngoài ra, sự phát triển của các phương tiện nội soi tăng cường đã nâng cao khả năng phát hiện

và giúp chẩn đoán ung thư dạ dày sớm chính xác hơn [20]

2.2 Nội soi nhuộm màu

Khi nhận thấy niêm mạc có những thay đổi kín đáo như đã mô tả trên đây, phương pháp nhuộm màu sẽ giúp quan sát chi tiết hơn và chẩn đoán chính xác hơn Thông thường, chúng ta dùng indigo carmine 0,1% để xịt trực tiếp lên bề mặt niêm mạc Ung thư dạ dày sớm được phát hiện khi so sánh với vùng niêm mạc xung quanh, do

đó, khi nhuộm, cần xịt thuốc lên một vùng rộng bao gồm tổn thương Phương pháp này làm nổi bật tổn thương, nâng cao chất lượng chẩn đoán và xác định chính xác hơn độ lan rộng và độ ăn sâu của thương tổn [21, 22] Lưu ý là niêm nhầy dính vào

bề mặt niêm mạc sẽ làm cho hình ảnh sau nhuộm không rõ ràng, do dó, cần rửa sạch bề mặt niêm mạc trước khi xịt thuốc nhuộm [23]

2.3 Nội soi dùng hình ảnh băng tần dải hẹp (NBI)

Đây là phương tiện nội soi phối hợp dải ánh sáng hẹp màu xanh dương và xanh lục để làm nổi bật cấu trúc bề mặt và mạng mạch máu của lớp niêm mạc

Nội soi phóng đại tích hợp NBI giúp quan sát được chi tiết vi cấu trúc bề mặt và mạch máu của niêm mạc dạ dày Yao và cộng sự (cs) kết hợp những sự thay đổi trong hình ảnh phóng đại và việc có hay không ranh giới của tổn thương để đưa ra nhận định về bệnh lí ác tính dạ dày, gọi là phân loại VS (Hình 3) [24] Phương pháp này đã được minh chứng trong thực hành lâm sàng trên 2 phương diện:

- Thứ nhất, giúp phân biệt được tổn thương ung thư dạ dày nhỏ và viêm dạ dày đơn thuần mà thường khó nếu chỉ dùng nội soi thường qui Một

Trang 4

nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tiến cứu cho thấy

khả năng phân biệt các tổn thương trợt lõm < 1cm

là ác hay lành tính của nội soi phóng đại có tích

hợp NBI vượt xa nội soi thường qui với ánh sáng

trắng đơn thuần [25] Trong nghiên cứu này, sau

khi đã nội soi thông thường, bệnh nhân được soi

thêm bằng máy nội soi phóng đại tích hợp NBI,

khả năng chẩn đoán hơn hẳn với độ chính xác,

độ nhạy và độ đặc hiệu đều trên 95% Do đó, kỹ

thuật này giúp tránh được những sinh thiết không

cần thiết

- Thứ hai, nội soi phóng đại có tích hợp NBI

giúp xác định chính xác rìa thương tổn trước khi

can thiệp nội soi Trong khi nội soi thường hoặc

nhuộm màu có thể khó khăn để xác định được viền

an toàn khi phẫu tích trong khoảng 20% trường

hợp [26, 27] Nhất là đối với loại tổn thương

phẳng như 0-IIb thì nội soi phóng đại kết hợp NBI

làm tăng rõ rệt khả năng xác định viền thương tổn

[26,28]

Để phát huy được ưu điểm của NBI, đòi hỏi có kiến thức và kỹ năng cần thiết liên quan Các nhà nội soi cần ý thức rằng NBI không phải là phương pháp toàn diện Ví dụ, vì lòng dày thì rộng, mà NBI không có phóng đại lại làm tối màn hình, do

đó sẽ hạn chế khả năng bao quát và các ứng dụng của máy phóng đại Điều này có nghĩa là, NBI không phù hợp để phát hiện tổn thương trong dạ dày Hơn nữa, trong khi NBI rất hữu ích để xác định viền của ung thư biệt hóa tốt thì lại hạn chế đối với ung thư kém biệt hóa Ung thư biệt hóa kém thường nằm ở cổ tuyến trong màng đáy của niêm mạc, và bề mặt khối u vẫn còn được bao phủ bởi biểu mô bình thường Trong những trường hợp này, nội soi phóng đại kết hợp NBI cũng sẽ không thu được các hình ảnh bất thường trong vi cấu trúc

bề mặt và mao mạch ở niêm mạc Do đó, để xác định độ lan rộng của ung thư biệt hóa kém, cần ít nhất 4 mảnh sinh thiết âm tính xung quanh thương tổn [24, 26]

Hình 3 (a) Ung thư dạ dày sớm, biệt hóa tốt, típ 0-IIa Hình ảnh nội soi phóng đại với NBI cho thấy

(b) ranh giới rõ giữa vùng bình thường bên trái và vùng ung thư bên phải và (c) đặc điểm mạng vi mạch

bất thường cùng với sự biến mất các pit bề mặt

2.4 Siêu âm nội soi

Điều quan trọng trước khi quyết định can thiệp

nội soi để điều trị ung thư dạ dày sớm là phải xác

định độ xâm lấn theo chiều sâu của thương tổn

[29] Như đã đề cập ở trên, mặc dù nội soi thông

thường có thể chẩn đoán độ sâu chính xác tới 80%,

việc xác định bề sâu thương tổn có thể khó khăn

trong nhiều trường hợp Hơn nữa, chẩn đoán độ

sâu dựa vào các đặc điểm trên nội soi thông thường

mang tính chủ quan, còn hình ảnh siêu âm nội soi

(SANS) lại khách quan Thông thường, mục đích

chính của (SANS) trong chẩn đoán ung thư dạ dày

sớm là để xác định xem liệu bệnh nhân có thể điều

trị được bằng nội soi qua đường miệng hay không

Để xác định độ xâm lấn theo từng lớp của thành

dạ dày, thông thường cần dùng đầu dò cao tần 20 MHz, riêng với tổn thương típ 0-I thì dùng đầu

dò 12 MHz Độ chính xác của chẩn đoán độ sâu

là 65% – 86% trong nội soi thường và có thể đạt 92% khi làm SANS [30–33] Tuy nhiên, khả năng này hạn chế với tổn thương loét trợt, ung thư kém biệt hóa, tổn thương có vi xâm lấn xuống dưới niêm mạc, típ 0-I và thương tổn ở 1/3 trên của dạ dày Theo đó, trong trường hợp khó chẩn đoán độ sâu ngay cả khi đã làm SANS, chúng ta vẫn có thể tiến hành phẫu tích qua nội soi nếu không có

Trang 5

dấu hiệu nào gợi ý xâm lấn dưới niêm mạc; nhưng

phải luôn luôn lưu ý phân tích kỹ kết quả giải phẫu

bệnh để xác định xem tổn thương đã được cắt bỏ

hoàn toàn hay chưa Bên cạnh khả năng xác định

độ sâu, người ta còn ứng dụng SANS để đánh giá

mạng mạch máu dưới niêm mạc nhằm tiên lượng

và dự phòng biến chứng xuất huyết trong quá trình

can thiệp nội soi [34]

3 ĐIỀU TRỊ NỘI SOI VÀ cÁc cHỈ ĐỊNH

Ở Nhật Bản, tỉ lệ sống 5 năm sau phẫu thuật

điều trị ung thư dạ dày sớm sau khi đã loại trừ

các nguyên nhân gây tử vong khác là 99% đối với

ung thư trong niêm mạc và 96% đối với ung thư

dưới niêm mạc [35] Tỉ lệ di căn hạch bạch huyết

ở những bệnh nhân này là 3% đối với ung thư trong

niêm mạc và 20% đối với ung thư dưới niêm mạc

[36] Do đó, khi nguy cơ di căn hạch bạch huyết cao

thì cần chỉ định mổ cắt dạ dày kết hợp nạo vét hạch

Chỉ định điều trị nội soi cần phải được xác định chặt

chẽ vì phương pháp này chỉ can thiệp bóc tách khối u

tại chỗ Do đó, tổn thương chưa có di căn hạch là chỉ

định tốt nhất cho can thiệp nội soi tại chỗ Phương

pháp này có ưu điểm vượt trội so với phẫu thuật

vì chỉ xâm nhập tối thiểu và bảo tồn được dạ dày

Kể từ 1984, phương pháp cắt hớt niêm mạc

(EMR) đầu tiên sử dụng ống soi hai kênh ra đời

[37], đã có nhiều phương pháp EMR được phát

triển và áp dụng, bao gồm cả phương pháp dùng

mũ chụp đầu ống soi (EMRC) Những cách điều

trị này được dùng rộng rãi ở các nước phương Tây

cũng như Nhật Bản [7] Dựa trên các kết quả xét

nghiệm theo dõi, đánh giá về lâm sàng bệnh học

của các ca mà nguy cơ di căn hạch rất thấp, Hội

ung thư dạ dày Nhật Bản đã đưa ra chỉ định điều

trị nội soi cho ung thư dạ dày sớm [38, 39] Về

mặt nguyên tắc, các tổn thương được chỉ định điều trị nội soi cần có kích thước, vị trí có thể bóc tách toàn bộ nguyên khối và hầu như không có nguy cơ

di căn hạch Đặc biệt, tổn thương phải là:

- (1) Ung thư biệt hóa tốt, trong niêm mạc, nhỏ hơn 2cm

- (2) Ung thư biệt hóa tốt trong niêm mạc có trợt lõm nhỏ hơn 1cm và không có loét Tuy nhiên, do kỹ thuật EMR dùng thòng lọng nên mỗi lần chỉ có thể cắt được một tổn thương nhỏ, tổn thương càng lớn thì nguy cơ phải cắt vụn từng phần và khả năng tái phát càng cao [5, 40] Do đó, kỹ thuật phẫu tích dưới niêm mạc (ESD) được phát triển để bóc tách nguyên khối thương tổn chính xác hơn Thực sự ESD đã giúp bóc tách toàn bộ các tổn thương lớn hơn, tổn thương

có loét, và tổn thương tái phát sau EMR nhờ vào việc phẫu tích trực tiếp lớp dưới niêm mạc sử dụng các dao chuyên dụng cao tần [5, 41 – 44]

Sau khi triển khai kỹ thuật này, các chỉ định mở rộng cho ESD cũng đã được đề cập Năm 2000, Gotoda và cs đã phân tích 5265 ca ung thư dạ dày sớm, điều trị bằng phẫu thuật và thấy rằng: nguy

cơ di căn hạch sẽ gần như không có trong các trường hợp:

(1) ung thư biệt hóa tốt, trong niêm mạc, không

có loét, không kể kích thước (2) ung thư biệt hóa tốt, trong niêm mạc,

<3 cm có loét và (3) ung thư biệt hóa tốt có vi xâm lấn xuống dưới niêm mạc (<500m dưới lớp

cơ niêm) nhỏ hơn 3 cm [45] Sau đó, chỉ định ESD đã được mở rộng cho những trường hợp này Ngoài ra, qua tổng hợp nhiều ca, người ta cũng thấy nếu ung thư sớm biệt hóa kém mà kích thước dưới 2 cm, không loét thì nguy cơ di căn hạch cũng rất thấp và cũng có thể chỉ định ESD (Bảng 1) [46]

Bảng 1 Chỉ định điều trị ung thư dạ dày sớm

Ung thư trong niêm mạc Ung thư dưới niêm mạc

Trang 6

Mặc dù ESD có nguy cơ biến chứng cao hơn

EMR, đa số các trường hợp thủng hoặc chảy máu

đều có thể xử trí tại chỗ bằng phương tiện nội

soi, số ca bị đe dọa tính mạng rất ít [47, 48] Do

khả năng bóc tách nguyên khối cao, tỉ lệ tái phát

thấp, các phân tích tổng hợp cho thấy ESD ưu việt

hơn EMR [49] Sự phát triển, cải tiến liên tục của

các dụng cụ nội soi chuyên dụng và các kỹ thuật

cũng như việc tổ chức các hội thảo có trình diễn

trực tiếp kỹ thuật ESD ngày một nhiều sẽ làm cho

ESD ngày càng khả dụng và sẽ phát triển nhanh

chóng ở qui mô quốc gia [8] Ngoài ra, đối với tổn

thương dưới 5 mm thì khả năng điều trị, tên lượng

tái phát của EMR và ESD là như nhau, khi đó, nếu

làm ESD cần cân nhắc lợi hại dựa trên khả năng

nhân, vật lực thực tế [50] Mặc dù ngày nay, ESD

cũng đã được thực hiện ở các nước phương Tây,

vẫn còn ít ca ung thư dạ dày sớm được chỉ định

điều trị nội soi tại chỗ ở những nước này; Có lẽ

cần thêm thời gian để kỹ thuật này được phổ biến

rộng rãi [51, 52]

4 SAU ĐIỀU TRỊ NỘI SOI

Điều trị sau ESD: nhịn đói vào ngày phẫu

thuật, ngày sau có thể uống nước cháo loãng và ăn

sớm nhất vào ngày thứ 2 sau phẫu tích Trung bình

cần 6-8 tuần để điều trị lành vết loét sau ESD [53]

Ức chế bơm proton (PPIs) hiệu quả hơn kháng H2

[54], và gần đây có nhiều báo cáo cho thấy dùng

các thuốc hỗ trợ và bảo vệ niêm mạc kết hợp PPIs

có tác dụng làm liền vết thương tốt hơn [55, 56]

Kết quả theo dõi lâu dài các trường hợp điều trị

bằng EMR theo đúng chỉ định thì tỉ lệ sống sau 5

năm và 10 năm đều có thể đạt tới 99% [57] Điều

đó có nghĩa rằng nếu ung thư dạ dày sớm được cắt

hớt hoàn toàn và đúng chỉ định thì nguy cơ tái phát

tại chỗ là rất hiếm nhưng chúng ta vẫn phải theo

dõi hằng năm để phát hiện các tổn thương ung thư

ở vị trí khác có thể xuất hiện Tỉ lệ cộng dồn xác

suất xuất hiện ung thư khác sau EMR/ESD 3 năm

là 5,9%, với thời gian phát hiện trung bình là 3,1 ±

1,7 năm [58] Các kết quả theo dõi cũng cho thấy

không có sự khác nhau về tỉ lệ sống sau 5 năm

giữa nhóm chỉ định tuyệt đối và nhóm chỉ định mở

rộng ESD [48, 59] Tuy nhiên, hiện nay chưa có đủ

bằng chứng về kết quả theo dõi dài hơi hơn để xác

định tỉ lệ tiệt căn đối với nhóm chỉ định ESD mở

rộng, các bệnh nhân này cần được theo dõi định kì

6 tháng đến 1 năm bằng nội soi và CT bụng hoặc siêu âm nội soi trong ít nhất 3 năm để phát hiện

di căn hạch xa Khi kết quả giải phẫu bệnh sau ESD cho thấy tổn thương chưa được cắt bỏ hoàn toàn thì phẫu thuật bổ sung kèm vét hạch là rất cần thiết Ở Nhật Bản, mổ cắt bán phần dạ dày qua nội soi ổ bụng có độ an toàn và tính dung nạp khá cao, được cho là điều trị bổ sung đầu tay sau can thiệp nội soi tại chỗ qua đường miệng [60–63] Ngay cả với nhóm bệnh nhân già trên 75 tuổi thì điều trị bằng mổ nội soi cũng có tiên lượng sống tốt hơn nhóm không can thiệp gì Do đó nếu tình trạng sức khỏe chung cho phép thì vẫn có thể mổ nội soi cắt

dạ dày cho bệnh nhân già bị ung thư cơ quan này khi không thể can thiệp triệt để bằng nội soi qua miệng [64]

5 HƯỚNG PHÁT TRIỂN TƯƠNG lAI

Chúng ta vẫn đang tiếp tục theo dõi kết quả lâu dài của nhóm được làm ESD theo chỉ định mở rộng, trong đó đáng lưu ý nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng của Hội Ung thư lâm sàng Nhật Bản Nếu nghiên cứu này chứng minh được tính an toàn

và hiệu quả thì chỉ định mở rộng sẽ sớm trở thành chỉ định tuyệt đối

Mặc dù số lượng ca ung thư dạ dày sớm có thể điều trị nội soi đang tăng lên, nhưng với những thương tổn quá chỉ định thì điều trị phẫu thuật là căn bản và cần thiết Có một khoảng cách khá lớn trong độ xâm nhập giữa hai phương pháp can thiệp

và chúng ta đang nghiên cứu cải tiến để thu hẹp khoảng cách này Một trong những hướng đi là ESD phối hợp vét hạch bằng nội soi ổ bụng và đánh giá lại bằng giải phẫu bệnh [65] Kết quả lâu dài đang tiếp tục được đánh giá thêm nhưng bước đầu cho thấy đây có thể là lựa chọn trong trường hợp mà di căn hạch chưa thể xác định rõ ràng và cũng không loại trừ được, trong khi bệnh nhân cần được can thiệp tối thiểu [66] Hơn nữa, mặc dù ESD đang ngày càng phổ biến nhưng các thương tổn xơ hóa nhiều và ở vị trí khó như tâm phình

vị, bờ cong thân vị… sẽ khó để thực hiện ESD

Do đó, nhiều trường hợp trong tình huống này vẫn được chỉ định mổ cắt dạ dày qua nội soi ổ bụng [67–70] Khi phương pháp “cắt bỏ hạch giữ cửa” được áp dụng cho ung thư dạ dày thì phẫu thuật vi

Trang 7

xâm lấn sẽ có thêm bước tiến mới.

6 KẾT lUẬN

Chẩn đoán và điều trị ung thư dạ dày sớm có ý

nghĩa rất quan trọng Nội soi đóng vai trò chủ yếu

trong phát hiện ung thư dạ dày sớm nhưng đòi hỏi

kỹ năng của bác sĩ Điều quan trọng đầu tiên là nhà

nội soi cần thực hiện cuộc soi chuẩn, quan sát cẩn

thận và luôn ý thực rằng ung thư sớm chỉ là những

thương tổn rất nhỏ, dễ bỏ sót; phải luôn nắm chắc

các dấu hiệu nghi ngờ ung thư dạ dày sớm trên

ánh sáng trắng Ngoài ra, các phương pháp nội soi

tiên tiến hơn như nhuộm màu, dùng ánh sáng màu

tăng cường hình ảnh, nội soi phóng đại sẽ giúp

chẩn đoán chính xác hơn Các phương pháp điều trị xâm nhập tối thiểu đang là lựa chọn tốt cho ung thư dạ dày sớm, đặc biệt EMR đã trở nên thường qui Hiện nay, ESD đang trở nên phổ biến ở nhiều nước bên cạnh Nhật Bản, với nhiều ưu điểm vượt trội và khả năng điều trị tiệt căn Trong tương lai, với sự phát triển của các phương tiện và kỹ thuật, điều trị bằng nội soi tiêu hóa và nội soi phối hợp phẫu thuật sẽ ngày càng phổ biến Phẫu thuật cắt triệt để dạ dày có thể điều trị triệt để ung thư dạ dày sớm khi quá chỉ định can thiệp nội soi nhưng điều quan trọng là cần tiếp tục cải tiến các phương pháp can thiệp tối thiểu song song với việc đánh giá tính an toàn và khả năng tiệt căn

TÀI lIỆU THAM KHẢO

[1] A Jemal, R Siegel, J Xu, and E Ward,

“Cancer statistics, 2010,” CA Cancer Journal for

Clinicians, vol.60,no.5, pp.277–300, 2010

[2] J Ferlay, H R Shin, F Bray, D Forman,

C Mathers, and D M Parkin, “Estimates

of worldwide burden of cancer in 2008:

GLOBOCAN 2008”, International Journal of

Cancer,vol.127, no 12, pp 2893–2917, 2010

[3] C Hamashima, D Shibuya, H Yamazaki

et al., “The Japanese guidelines for gastric

cancer screening”, Japanese Journal of Clinical

Oncology, vol.38,no.4, pp.259–267,2008

[4] K Maruyama, M Kaminishi, K I Hayashi et al.,

“Gastric cancer Treated in 1991 in Japan: data

analysis of nation wide registry”, Gastric Cancer,

vol.9, no.2, pp.51–66, 2006

[5] H.Ono, H.Kondo, T.Gotoda et al.,“Endoscopic

mucosal resection for treatment of early gastric

cancer,”Gut,vol.48,no.2,pp 225–229, 2001

[6] F.J.Oliveira, H.Ferrao,E.Furtado, H.Batista, and

L.Conceicao, “Early gastric cancer: report of 58

cases,”Gastric Cancer, vol.1, no 1, pp 51–56,

1998

[7] R.Soetikno, T.Kaltenbach, R.Yeh, andT

Gotoda,“Endoscopic mucosal resection for

early cancers of the upper gastrointestinal tract,”

Journal of Clinical Oncology,vol.23,no.20,

pp.4490–4498, 2005

[8] K.Hotta, T.Oyama, T.Akamatsuetal.,“Acomp

arisonofoutcomes of Endoscopic Submucosal

Dissection (ESD) for early gastric neoplasms

between high-volume and low-volume centers:

multi-center retrospective questionnaire

study conducted by the Nagano ESD Study Group,”Internal Medicine, vol.49, no 4, pp 253–259, 2010

[9] Japanese Gastric Cancer Association, “Japanese classification of gastric carcinoma-2nd English edition,”Gastric Cancer, vol.1, no 1, pp 10–24, 1998

[10] H Katai and T Sano, “Early gastric

management,”International Journal of Clinical Oncology, vol 10, no 6, pp 375–383, 2005 [11] “The Paris endoscopic classification of superficial neoplastic lesions: esophagus, stomach, and colon: November 30 to December

1, 2002,”Gastrointestinal Endoscopy, vol.58, supplement 6, pp S3–S43, 2003

[12] R J Schlemper, M Itabashi, Y Kato et al.,

“Differences in diagnostic criteria for gastric carcinoma between Japanese and Western pathologists,”The Lancet, vol.349, no.9067, pp.1725– 1729, 1997

[13] R J Schlemper, R H Riddell, Y Kato et al., “The Vienna classification of gastrointestinal epithelial neoplasia,”Gut,vol.47,no 2, pp.251–255, 2000 [14] M Kato, T Nishida, S Tsutsui et al., “Endoscopic submucosal dissection as a treatment for gastric noninvasive neoplasia: a multi center study by Osaka University ESD Study Group, Journal

of Gastroenterology, vol.46, no.3, pp.325– 331,2011

[15] K Miwa, H Doyama, R Ito et al., “Can magnifying endoscopy with narrow band imaging

be useful for low grade adenomas in preoperative

Trang 8

biopsy specimens?”Gastric Cancer, vol.15, no.2,

pp.170–178, 2012 8 Diagnostic and Therapeutic

Endoscopy

[16] K.Sugano, K.Sato, and K.Yao,“New diagnostic

approaches for early detection of gastric

cancer,”Digestive Diseases,vol.22,no 4, pp

327–333, 2004

[17] T Sano, Y Okuyama, O Kobori, T Shimizu, and

Y Morioka, “Early gastric cancer: endoscopic

diagnosis of depth of invasion,”Digestive

Diseases and Sciences, vol.35, no.11, pp.1340–

1344, 1990

[18] S Abe, I Oda, T Shimazu et al.,

“Depth-predicting score for differentiated early gastric

cancer,”Gastric Cancer, vol.14, no.1, pp 35–40,

2011

[19] J.Choi, S.G.Kim, J.P.Im, J.S.Kim, H.C.Jung,

and I.S.Song, “Endoscopic prediction

of tumor invasion depth in early gastric

cancer,”Gastrointestinal Endoscopy, vol.73,

no.5, pp.917–927, 2011

[20] H Toyoizumi, M Kaise, H Arakawa et al.,

“Ultrathin endoscopy versus high-resolution

endoscopy for diagnosing superficial gastric

neoplasia,”Gastrointestinal Endoscopy, vol.70,

no.2, pp 240–245, 2009

[21] H Tajiri, A Ohtsu, N Boku et al., “Routine

endoscopy using electronic endoscopes for

gastric cancer diagnosis: retrospective study of

inconsistencies between endoscopic and biopsy

diagnoses,”Cancer Detection and Prevention,

vol.25,no.2,pp 166–173, 2001

[22] Y Kawahara, R Takenaka, H Okada et

al., “Novel chromoendoscopic method

using an acetic acid-indigocarmine mixture

for diagnostic accuracy in delineating the

margin of early gastric cancers,”Digestive

Endoscopy,vol.21,no.1,pp.14–19, 2009

[23] M Dinis-Ribeiro, “Chromoendoscopy for early

diagnosis of gastric cancer,”European Journal

of Gastroenterology & Hepatology,vol.18,no.8,

pp.831–838,2006

[24] K Yao, G K Anagnostopoulos, and K Ragunath,

“Magnifying endoscopy for diagnosing and

delineating early gastric cancer,” Endoscopy,vo

l.41,no.5,pp.462–467,2009

[25] Y Ezoe, M Muto, N Uedo et al., “Magnifying

narrowband imaging is more accurate than

conventional white-light imaging in diagnosis of

gastric mucosal cancer,” Gastroenterology, vol

141, no 6, pp 2017.e3–2025.e3, 2011

[26] T.Nagahama, K.Yao, S.Makietal.,“Usefulnessof magnifying endoscopy with narrow-band imaging for determining the horizontal extent of early gastric cancer when there is an unclear margin by chromoendoscopy (with video),”Gastrointestinal Endoscopy, vol.74, no.6, pp.1259–1267, 2011 [27] S Yoshinaga, T Gotoda, and I Oda, “Clinical imaging of early gastric cancers—conventional endoscopy: including chromoendoscopy using indigo carmine,”Stomach Intestine, vol.44, pp.650–662, 2009

[28] S Kiyotoki, J Nishikawa, M Satake et al.,

“Usefulness of magnifying endoscopy with narrow-band imaging for determining gastric tumor margin,”Journal of Gastroenterology and Hepatology, vol 25, no 10, pp 1636–1641, 2010

[29] S Yoshinaga, I Oda, S Nonaka, R Kushima, and Y Saito, “Endoscopic ultrasound using ultrasound probes for the diagnosis of early esophageal and gastric cancers,”World Jour nal of Gastrointestinal Endoscopy, vol.4, no.6, pp.218–226, 2012

[30] H Yanai, Y Matsumoto, T Harada et al.,

“Endoscopic ultrasonography and endoscopy for staging depth of invasion in early gastric cancer:

a pilot study,”Gastrointestinal Endoscopy, vol.46, no.3, pp.212–216, 1997

[31] K Akahoshi, Y Chijilwa, S Hamada et al.,

“Pretreatment staging of endoscopically early gastric cancer with a 15 MHz ultrasound catheter probe,”Gastrointestinal Endoscopy,vol.48,no 5,

pp 470–476, 1998

[32] G H Kim, D Y Park, M Kida et al., “Accuracy

of high-frequency catheter-based endoscopic ultrasonography according to the indications for endoscopic treatment of early gastric cancer,” Journal of Gastroenterology and Hepatology, vol.25, no.3,pp 506–511, 2010

[33] T Tsuzukr, H Okada, Y Kawahara et al.,

“Usefulness and problems of endoscopic ultrasonography in prediction of the depth of tumor invasion in early gastric cancer,”Acta Medica Okayama, vol.65, no.2, pp.105–112, 2011

[34] D Kikuchi, T Iizuka, S Hoteya et al.,

“Usefulness of endoscopic ultrasound for the prediction of intraoperative bleeding of endoscopic submucosal dissection for gastric

Trang 9

neoplasms,”Journal of Gastroenterology and

Hepatology, vol.26, no.1, pp.68–72, 2011

[35] M.Sasako, T.Kinoshita, and K.Maruyama,

“Prognosis of early gastric cancer,” Stomach

Intestine, vol.28,pp.139–146,1993

[36] T Sano, O Kobori, and T Muto, “Lymph node

metastasis from early gastric cancer: endoscopic

resection of tumour,”The British Journal of

Surgery,vol.79, no.3, pp.241–244,1992

[37] M Tada, M Karita, H Yanai, and T Takemoto,

“Endoscopic therapy of early gastric cancer by

strip biopsy,”Japanese Journal of Cancer &

Chemotherapy,vol.15, no.4, part2-3, pp.1460–

1465, 1988

[38] S Tsujitani, S Oka, H Saito et al., “Less invasive

surgery for early gastric cancer based on the low

probability of lymphnode metastasis,”Surgery,

vol.125,no.2, pp.148–154,1999

[39] Japanese Gastric Cancer Association,Guidelines

For the Treatment of Gastric Cancer, Kanehara,

Tokyo, Japan, 2001

[40] M Matsushita, K Hajiro, K Okazaki, and H

Takakuwa, “Endoscopic mucosal resection of

gastric tumors located in the lesser curvature of

the upper third of the stomach,”Gastrointestinal

Endoscopy, vol.45, no.6, pp.512–515,1997

[41] H Yamamoto, H Kawata, K Sunada et al.,

“Successful en-bloc resection of large superficial

tumors in the stomach and colon using sodium

hyaluronate and small-caliber-tip transparent ho

od,”Endoscopy,vol.35,no.8,pp.690–694,2003

[42] T Oyama, A Tomori, K Hotta et al.,

“Endoscopic submucosal dissection of early

esophageal cancer,”Clinical Gastroenterology

and Hepatology, vol 3, no 7, supplement 1, pp

S67–S70, 2005

[43] N Yahagi, M Fujishiro, N Kakushima et al.,

“Endoscopic submucosal dissection for early

gastric cancer using the tip of an electrosurgical

snare (thin type),”Digestive Endoscopy,vol.16,

no 1, pp 34–38, 2004

[44] C Yokoi, T Gotoda, H Hamanaka, and I Oda,

“Endoscopic submucosal dissection allows

curative resection of locally recurrent early gastric

cancer after prior endoscopic mucosal resection”,

Gastrointestinal Endoscopy,vol.64,no.2,pp.212–

218, 2006

[45] T Gotoda, A Yanagisawa, M Sasako et al.,

“Incidence of lymph node metastasis from early

gastric cancer: estimation with a large number of

cases at two large centers,”Gastric Cancer,vol.3,

no 4, pp 219–225, 2000

[46] T Hirasawa, T Gotoda, S Miyata et al., “Incidence

of lymph node metastasis and the feasibility

of endoscopic resection for undifferentiated-type early gastric cancer,”Gastric Cancer,vol 12,no.3,pp.148–152,2009

[47] I Oda, T Gotoda, H Hamanaka et al.,

“Endoscopic submucosal dissection for early gastric cancer: technical feasibility, operation time and complications from a large consecutive series,” Digestive Endoscopy, vol.17, no.1, pp.54–58,2005 Diagnostic and Therapeutic Endoscopy 9

[48] H Isomoto, S Shikuwa, N Yamaguchi et al., “Endoscopic submucosal dissection for early gastric cancer: a large-scale feasibility study,”Gut,vol.58,no.3, pp.331–336,2009

J.M.Kim,“Theeffectiveness and safety of endoscopic submucosal dissection compared with endoscopic mucosal resection for early gastric cancer: a systematic review and metaanalysis,”Surgical Endoscopy,vol.25,no.8,

pp 2666–2677, 2011

[50] S Nakamoto, Y Sakai, J Kasanuki et al.,

“Indications for the use of endoscopic mucosal resection for early gastric cancer in Japan: a comparative study with endoscopic submucosal dissection,”Endoscopy,vol.41,no.9, pp.746–750,2009

[51] F Catalano, A Trecca, L Rodella et al.,

“The modern treatment of early gastric cancer: our experience in an Italian cohort,” Surgical Endoscopy and Other Interventional Techniques,vol.23, no.7, pp.1581–1586,2009 [52] M O Othman and M B Wallace, “Endoscopic mucosal resection (EMR) and endoscopic submucosal dissection (ESD) in 2011, a Western perspective,”Clinics and Research in Hepatology and Gastroenterology, vol 35, no 4, pp 288–

294, 2011

[53] N Kakushima, N Yahagi, M Fujishiro et al., “The healing process of gastric artificial ulcers after endoscopic submucosal dissection,”Digestive Endoscopy,vol.16, no.4, pp.327–331,2004 [54] N Uedo, Y Takeuchi, T Yamada et al., “Effect

of a proton pump inhibitor or an H2-receptor antagonist on prevention of bleeding from ulcer after endoscopic submucosal dissection of early

Trang 10

gastric cancer: a prospective randomized controlled

trial,”The American Journal of Gastroenterology,vo

l.102,no.8,pp.1610– 1616, 2007

[55] T Kato, H Araki, F Onogi et al., “Clinical trial:

rebamipide promotes gastric ulcer healing by

proton pump inhibitor after endoscopic submucosal

dissection-a randomized controlled study,”Journal

of Gastroenterology,vol.45,no.3,pp.285–290, 2010

[56] T Inaba, S Ishikawa, T Toyokawa et al., “Basal

protrusion of ulcers induced by Endoscopic

treatment with proton pump inhibitors, and the

suppressive effects of

polaprezinc,”Hepato-Gastroenterology,vol.57,no 99-100, pp 678–684,

2010

[57] N Uedo, H Iishi, M Tatsuta et al., “Longterm

outcomes after endoscopic mucosal resection for

early gastric cancer,”Gastric Cancer, vol 9, no 2,

pp 88–92, 2006

[58] T Nakajima, I Oda, T Gotoda et al., “Metachronous

gastric cancers after endoscopic resection: how

effective is annual endoscopic surveillance?”Gastric

Cancer,vol.9,no.2,pp.93– 98, 2006

[59] T.Gotoda,M.Iwasaki,C.Kusano,S.Seewald,and

I.Oda, “Endoscopie resection of early gastric cancer

treated by guideline and expanded National Cancer

Centre criteria,”The British Journal of Surgery,vol

97,no.6,pp.868–871,2010

[60] H H Kim, W J Hyung, G S Cho et al., “Morbidity

and mortality of laparoscopic gastrectomy versus

open gastrectomy for gastric cancer: an interim

report-a phase III multicenter, prospective,

randomized trial (KLASS trial),”Annals of

Surgery,vol 251, no 3, pp 417–420, 2010

[61] H Ohtani, Y Tamamori, K Noguchi et al., “A

meta-analysis of randomized controlled trials that

compared laparoscopy-assisted and open distal

gastrectomy for early gastric cancer”, Journal of

Gastrointestinal Surgery,vol 14, no.6, pp.958–964,

2010

[62] X Jiang, N Hiki, H Yoshiba et al.,

“Laparoscopy-assisted gastrectomy in patients with previous

endoscopic resection for early gastric cancer,”The

British Journal of Surgery,vol.98,no 3, pp.385–

390,2011

[63] H Tonouchi, Y Mohri, M Kobayashi, K Tanaka,

M Ohi, and M Kusunoki, “Laparoscopy-assisted

distal gastrectomy with laparoscopic sentinel lymph

node biopsy after endoscopic mucosal resection for

early gastric cancer”, Surgical Endoscopy and Other

Interventional Techniques,vol.21,no.8,pp.1289–

1293, 2007

[64] C Kusano, M Iwasaki, T Kaltenbach, A Conlin,

I Oda, and T Gotoda, “Should elderly patients undergo additional surgery after non-curative endoscopic resection for early gastric cancer? long-term comparative outcomes,” The American Journal of Gastroenterology,vol.106,no.6,pp.1064– 1069,2011

[65] N.Abe,T.Mori,H.Takeuchietal.,“Laparosco piclymphnode dissection after endoscopic submucosal dissection: a novel and minimally invasive approach to treating early-stage gastric cancer,”American Journal of Surgery,vol.190,no 3,pp.496–503, 2005

[66] N.Abe, H.Takeuchi, A.Ohkietal.,“Long-termoutcomesof combination of endoscopic submucosal dissection and laparoscopic lymph node dissection without gastrectomy for early gastric cancer patients who have a potential risk of lymph node metastasis,”Gastrointestinal Endoscopy, vol.74,no.4,pp.792–797, 2011

[67] N Hiki, Y Yamamoto, T Fukunaga et al.,

“Laparoscopic and endoscopic cooperative surgery for gastrointestinal stromal tumor dissection,”Surgical Endoscopy and Other Interventional Techniques,vol.22,no.7, pp.1729–1735,2008

[68] S Nunobe, N Hiki, T Gotoda et al., “Successful application of laparoscopic and endoscopic cooperative surgery (LECS) for a lateral-spreading mucosal gastric cancer,” Gastric Cancer,vol 15, no

3, pp 338–342, 2012

[69] H Inoue, H Ikeda, T Hosoya et al., “Endoscopic mucosal resection, endoscopic submucosal dissection, and beyond: fulllayer resection for gastric cancer with nonexposure technique (CLEAN-NET),” Surgical Oncology Clinics of North America, vol.21,no.1,pp.129–140,2012 [70] O Goto, T Mitsui, M Fujishiro et al., “New method

of endoscopic full-thickness resection: a pilot study

of non-exposed endoscopic wall-inversion surgery

in an ex vivo porcine model,” Gastric Cancer,vol.1 4,no.2,pp.183–187,2011

[71] Ji Hyuk Kang et al, Prevalence of Precancerous Conditions and Gastric Cancer Based upon the National Cancer Screening Program in Korea for 7 Years, Single Center Experience, Gastroenterology Research and Practice, Volume 2015, Article ID

571965

Ngày đăng: 22/01/2020, 15:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w