1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát giá trị của adenosine deaminase (ADA) dịch não tủy trong chẩn đoán viêm màng não mủ và lao màng não

7 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 340,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được thực hiện với mục tiêu khảo sát giá trị của ADA dịch não tủy trong chẩn đoán viêm màng não mủ và lao màng não. Nghiên cứu thực hiện trên 30 bệnh nhân viêm màng não mủ và 30 bệnh nhân lao màng não nhập viện tại khoa Bệnh Nhiệt Đới - bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong thời gian từ 12/2010 đến 06/2011.

Trang 1

KHẢO SÁT GIÁ TRỊ CỦA ADENOSINE DEAMINASE (ADA)

DỊCH NÃO TỦY TRONG CHẨN ĐOÁN VIÊM MÀNG NÃO MỦ

VÀ LAO MÀNG NÃO

Lê Xuân Trường * , Trịnh Thị Tâm ** , Trần Quang Bính *** , Tăng Thị Bút Trà **** , Nguyễn Văn Vĩnh ***** ,

Bùi Thị Hồng Châu *

TÓM TẮT

Mở đầu: Chẩn đoán viêm màng não mủ (VMNM) hầu như chỉ dựa vào xét nghiệm dịch não tủy (DNT) Tuy nhiên, các thông số trong DNT thay đổi đa dạng trong một số trường hợp không điển hình Một tổn thương

hệ thần kinh trung ương khác cũng nghiêm trọng không kém là viêm màng não lao (lao màng não) Việc điều trị

và tiên lượng của hai thể bệnh này là hoàn toàn khác nhau Gần đây, Adenosine deaminase (ADA) được nhắc đến dùng để chẩn đoán phân biệt VMNM và LMN (8,9,3)

Mục tiêu: Khảo sát giá trị của ADA dịch não tủy trong chẩn đoán VMNM và LMN

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân VMNM và 30 bệnh nhân LMN nhập viện

tại khoa Bệnh Nhiệt Đới – bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong thời gian từ 12/2010 đến 06/2011 được chẩn đoán xác định theo tiêu chuẩn chọn bệnh

Kết quả: Về xét nghiệm hóa sinh DNT: Glucose DNT ở nhóm bệnh nhân VMNM (nhóm 1) là 46,43 ±

21,94mg/dL; ở nhóm LMN (nhóm 2) là 32,8 ± 18,32mg/dL Tỷ lệ glucose DNT/HT ở nhóm bệnh nhân VMNM

là 0,39 ± 0,19; ở nhóm LMN là 0,27 ± 0,15 Nồng độ clo DNT trung bình ở nhóm bệnh nhân VMNM là 113,7± 6,92mmol/L; ở nhóm LMN là 107 ± 9,07mmol/L Trong ba xét nghiệm (XN) này thì tỷ lệ glucose DNT/HT là có giá trị cao nhất trong chẩn đoán phân biệt VMNM và LMN với DTDĐC ROC là 0,772 Về XN tế bào trong DNT: SLBC, BCĐN, Lympho đều có giá trị trong chẩn đoán phân biệt VMNM và LMN nhưng BCĐN là có giá trị cao nhất trong chẩn đoán phân biệt VMNM và LMN với DTDĐC ROC là 0,817 Nồng độ trung bình của ADA DNT ở nhóm bệnh nhân LMN là 15,24 ± 13,78 U/L cao hơn nhiều so với nhóm bệnh VMNM 4,37 ± 2,64U/L (p < 0,01) Trong số các thay đổi về sinh hóa DNT, tế bào trong DNT, ADA là thông số có giá trị nhất trong chẩn đoán phân biệt LMN và VMNM với diện tích dưới đường cong ROC là 0,942; điểm ngưỡng là 8,7U/L; độ nhạy là 76,67%; độ đặc hiệu là 96,67%

Kết luận: ADA DNT là thông số có giá trị trong chẩn đoán phân biệt VMNM và LMN

Từ khóa: Adenosine deaminase (ADA)

ABSTRACT

THE VALUE OF CEREBROSPINAL FLUID ADENOSINE DEAMINASE (ADA) IN DIAGNOSIS

OF BACTERIAL MENINGITIS AND TUBERCULOUS MENINGITIS

Le Xuan Truong, Trinh Thi Tam, Tran Quang Binh, Tang Thi But Tra, Nguyen Van Vinh, Bui Thi Hong Chau * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 171 - 177

Background: Diagnosis in bacterial meningitis is almost based on the results in cerebrospinal fluid (CSF)

*BM Hóa sinh – ĐH Y Dược TP.HCM **BM Hóa sinh – Trường ĐH Y Dược Cần Thơ

***Khoa Bệnh Nhiệt Đới – BV Chợ Rẫy ****Khoa Hóa sinh – BVĐK Bình Định

***** Khoa Xét nghiệm – BVĐK Vĩnh Long

Tác giả liên lạc: TS.BS Lê Xuân Trường, ĐT: 01269872057, Email: lxtruong57@yahoo.com

Trang 2

However, parameters of CSF changes variation in the any not typical cases The other serious central nervous system disease is tuberculous meningitis The treatement and the prediction of these diseases are completely different Recently, adenosine deaminase (ADA) has been reminded to different diagnosis in bacterial meningitis and tuberculous meningitis (8,9,3)

Objective: To investigate the value of CSF adenosine deaminase (ADA) in diagnosis of bacterial meningitis

and tuberculous meningitis

Method: Cross-sectional descriptive study on 30 patients with bacterial meningitis and 30 patients with

tuberculous meningitis This study has been performed at Department of Tropical Diseases in Cho Ray hospital and Pham Ngoc Thach hospital from December 2010 to June 2011

Results: The biochemical tests of CSF: the CSF glucose in the group of bacterial meningitis (group 1): 46.43

± 21.94mg/dL; the group of tuberculous meningitis (group 2): 32.8 ± 18.32mg/dL The glucose of CSF /serum ratio group 1: 0.39 ± 0.19; group 2: 0.27 ± 0.15 Mean concentration of CSF clo group 1: 113.7 ± 6.92mmol/L; group 2: 107 ± 9.07mmol/L In these tests, the glucose of CSF /serum ratio is the highest value to different diagnosis in bacterial meningitis and tuberculous meningitis About the cell tests of CSF: white cell count, neutrophils, lymphocytes are high values but neutrophils is the highest value to different diagnosis in bacterial meningitis and tuberculous meningitis with the area under the curve was 0.817 Mean concentration of CSF ADA group 2: 15.24 ± 13.78 U/L is more higher than group 1: 4.37 ± 2.64U/L (p < 0.01) Among the changes of the biochemical tests of CSF, the cell tests of CSF ADA is the highest value to different diagnosis in bacterial meningitis and tuberculous meningitis with the area under the curve was 0.942; the threshold level was 8.7U/L with sensitivity 76.67%; specificity: 96.67%

Conclusion: Cerebrospinal fluid ADA has highly distinctive evaluation between bacterial meningitis and

tuberculous meningitis

Keywords: Adenosine deaminase (ADA)

MỞ ĐẦU

Chẩn đoán viêm màng não mủ (VMNM)

hầu như chỉ dựa vào xét nghiệm (XN) dịch não

tủy (DNT): Đạm tăng, đường giảm, bạch cầu

tăng mà bạch cầu đa nhân trung tính chiếm ưu

thế Tuy nhiên, các thông số trên thay đổi đa

dạng trong một số trường hợp không điển hình

(VMNM nhập viện sớm, công thức tế bào DNT

chưa nghiêng về đa nhân trung tính, hoặc

đường chưa giảm, VMN siêu vi giai đoạn

sớm,…) đặc biệt là đã dùng kháng sinh trước

đó

Một tổn thương hệ thần kinh trung ương

khác cũng nghiêm trọng không kém là viêm

màng não lao (lao màng não) Lao màng não

(LMN) là bệnh khó chẩn đoán vì triệu chứng

lâm sàng không đặc hiệu Tìm trực khuẩn lao

trong DNT bằng hai kỹ thuật soi tươi và nuôi

cấy giúp xác định chẩn đoán chắc chắn nhưng

thời gian vài tuần nên có thể làm chậm trễ việc chẩn đoán và điều trị PCR hiện nay được xem là kỹ thuật mới có độ nhạy cao và giúp chẩn đoán sớm bệnh LMN nhưng đòi hỏi phải có trang thiết bị và kỹ thuật tốt mới phát hiện được trực khuẩn lao Mặt khác, chi phí cho XN này cũng khá cao Việc điều trị và tiên lượng của hai thể bệnh này là hoàn toàn khác nhau Gần đây, Adenosine deaminase (ADA) được nhắc đến dùng để chẩn đoán phân biệt VMNM và LMN(8,9,3) Một số nghiên cứu về ADA trong máu ở Việt Nam đã được thực hiện nhưng chưa ghi nhận công trình ngiên cứu nào về ADA dịch não tủy Vì vậy chúng tôi đặt vấn đề thực hiện nghiên cứu này nhằm góp phần chẩn đoán phân biệt sớm VMNM

và LMN giúp hướng dẫn điều trị thích hợp, giảm tỷ lệ tử vong và di chứng cho bệnh nhân

Trang 3

Mục tiêu

Khảo sát giá trị của ADA dịch não tủy trong

chẩn đoán VMNM và LMN

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Lấy mẫu không ngẫu nhiên, tất cả bệnh

nhân viêm màng não mủ và lao màng não nhập

viện tại khoa Bệnh Nhiệt Đới – bệnh viện Chợ

Rẫy, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong thời

gian từ 12/2010 đến 06/2011 được chẩn đoán xác

định theo tiêu chuẩn chọn bệnh

Nhóm bệnh viêm màng não mủ

Chẩn đoán khi tính chất DNT thỏa một

trong các điều kiện sau: cấy DNT (+) với vi

khuẩn, soi tươi vi khuẩn (+), có > 5 bạch cầu/ml

và cấy máu (+) với vi khuẩn, biểu hiện lâm sàng

bệnh cảnh viêm màng não cấp Hoặc viêm màng

não phù hợp do nguyên nhân vi khuẩn sinh mủ

nhưng kết quả cấy hoặc soi tươi DNT âm tính

Nhóm lao màng não

Bệnh nhân có viêm màng não Tìm thấy

trực khuẩn lao trong DNT bằng phương pháp

soi tươi, cấy hoặc PCR DNT dương tính Nếu

không tìm thấy trực khuẩn lao trong DNT,

bệnh nhân có thể được đưa vào mẫu nghiên

cứu nếu đáp ứng 1 trong 3 điều kiện sau:

phim chụp X – quang phổi nghi lao; tìm thấy

trực khuẩn lao trong đàm hoặc dịch dạ dày,

dịch khớp, mủ,…hoặc chẩn đoán xác định lao

qua giải phẫu bệnh (sinh thiết hạch, lách,…);

có bằng chứng của lao ngoài phổi Nếu không

có các điều kiện trên, bệnh nhân cũng được

đưa vào lô nghiên cứu nếu đáp ứng 2 trong 4

điều kiện sau: có tiền sử lao, bệnh cảnh khởi

phát từ từ, glassgow < 15 điểm, có dấu hiệu

thần kinh khu trú Đáp ứng kém với điều trị

VMN, có đứng với điều trị thử bằng thuốc

kháng lao Và nếu có từ 2 trong 3 điều kiện

sau: DNT màu vàng, thành phần tế bào trong

DNT có > 50% là lympho, đường trong DNT <

50% đường máu

Tiêu chuẩn loại trừ

Các trường hợp VMN không thuộc tiêu chuẩn chọn bệnh Những bệnh nhân có huyết thanh chẩn đoán HIV (+) Lao màng não đã, đang được điều trị hơn 1 tháng trước

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Tất cả các bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh về lâm sàng sẽ được XN công thức máu, đường huyết cùng lúc chọc dò DNT Cấy máu Chọc dò DNT để xác định sự thay đổi

về sinh hóa (protein, glucose, clo); tế bào, công thức tế bào; vi khuẩn: cấy, soi tươi, nhuộm gram, latex tìm kháng nguyên hòa tan; PCR lao; ADA Các XN được thực hiện tại Khoa Hóa Sinh

BV Chợ Rẫy

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu

Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2010 đến 06/2011 có tổng cộng 60 bệnh nhân đáp ứng đủ tiêu chuẩn chọn bệnh, mỗi nhóm có 30 bệnh nhân với sự phân bố giới tính nữ là 38,33%, nam là 61,67%.Trong đó, tỷ

lệ bệnh nhân nam trong nhóm VMNM cao hơn tỷ lệ bệnh nhân nam trong nhóm LMN (66,7% so với 56,7%), tỷ lệ bệnh nhân nữ trong nhóm LMN cao hơn tỷ lệ bệnh nhân nữ trong nhóm VMNM (43,3% so với 33,3%) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (χ2 = 0,635; p = 0,43) Tuổi trung bình mắc bệnh của 2 nhóm bệnh nhân là khá tương đương nhau, VMNM là 44, nhóm LMN là 45

So sánh các xét nghiệm sinh hóa dịch não tủy ở hai nhóm VMNM và LMN

Bảng 1: So sánh nồng độ trung bình các xét nghiệm

trong DNT

Trang 4

So sánh các xét nghiệm trong dịch não tủy

bằng đường cong ROC

Bảng 2: So sánh giá trị chẩn đoán của các xét nghiệm

trong DNT bằng đường cong ROC

Xét nghiệm DTDĐCR Sai số

chuẩn p

DTDĐC ở ĐTC 95%

Glucose

Biểu đồ 1: Biểu diễn đường cong ROC của các xét

nghiệm trong DNT

Bảng 1 cho thấy nồng độ glucose DNT trung

bình của nhóm LMN thấp hơn nhóm VMNM

(32,8mg/dL so với 46,43mg/dL), tỷ lệ glucose

DNT/HT trung bình của nhóm LMN cũng thấp

hơn nhóm VMNM (0,27 so với 0,39), nồng độ

clo DNT trung bình của nhóm LMN cũng thấp

hơn nhóm VMNM (107mmol/L so với

113,7mmol/L) Sự khác biệt giữa các giá trị này

đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) Như vậy cả

ba XN này đều có giá trị phân biệt giữa LMN và

VMNM Cả LMN và VMNM đều do tác nhân là

vi khuẩn gây nên Do đó, nồng độ glucose trong

DNT của hai bệnh lý này sẽ giảm Đồng thời, do

nồng độ glucose trong DNT phụ thuộc vào

nồng độ glucose máu cùng lúc nên nhiều tác giả

dùng tỷ số glucose DNT/HT để đánh giá

glucose trong DNT Trong nghiên cứu này cũng

cho thấy tỷ số glucose DNT/HT của 2 nhóm

bệnh đều giảm Điều này cũng phù hợp với

nghiên cứu của một số tác giả khác(4,10,5) Còn

nồng độ protein DNT trung bình giữa hai nhóm

bệnh tuy có chênh lệch nhau nhưng sự chênh lệch này là không có ý nghĩa thống kê (p=0,28) Bảng 2 và biểu đồ 1 cho thấy trong bốn XN glucose DNT, tỷ lệ glucose DNT/HT, clo, protein thì XN glucose DNT, tỷ lệ glucose DNT/HT, clo có diện tích dưới đường cong ROC lớn hơn protein với điểm ngưỡng lần lượt là ≤

38, ≤ 0,34, ≤ 106,1 sẽ có độ nhạy, độ đặc hiệu tối

ưu nhất Cả ba XN này đều có giá trị phân biệt LMN và VMNM với p < 0,05 Trong đó, XN tỷ lệ glucose DNT/HT có diện tích dưới đường cong ROC lớn nhất Điều này có nghĩa là tỷ lệ glucose DNT/HT có giá trị phân biệt LMN và VMNM mạnh nhất

So sánh các xét nghiệm tế bào trong DNT ở hai nhóm VMNM và LMN

Bảng 3: So sánh nồng độ trung bình các xét nghiệm

tế bào trong DNT

So sánh các xét nghiệm tế bào trong DNT bằng đường cong ROC

Bảng 4: So sánh giá trị chẩn đoán của các XN tế bào

trong DNT bằng đường cong ROC

XN DTDĐCR Sai số

chuẩn p

DTDĐC ở ĐTC 95%

Biểu đồ 2: Biểu diễn đường cong ROC của các xét

nghiệm tế bào trong DNT

Độ nhạy

Độ đặc hiệu

Độ nhạy

Độ đặc hiệu

Trang 5

Bảng 3 cho thấy nồng độ trung bình của

SLBC trong DNT của nhóm VMNM cao hơn so

với nhóm LMN (969,87 tb/mm3 so với 174,3

tb/mm3) Về thành phần bạch cầu, thành phần

BCĐN trung bình của nhóm VMNM cũng cao

hơn nhóm LMN (38,33% so với 10,16%), còn

thành phần bạch cầu lympho trung bình của

nhóm LMN cao hơn nhóm VMNM (74,4% so

với 43,73%) (p < 0,01)

Ba xét nghiệm SLBC, BCĐN, lympho đều có

diện tích dưới đường cong ROC khá cao (lần

lượt là 0,812; 0,817; 0,768) có giá trị phân biệt

LMNM và VMNM (p < 0,01) Trong đó, xét

nghiệm BCĐN DNT có diện tích dưới đường

cong ROC lớn nhất Điều này có nghĩa là xét

nghiệm BCĐN DNT có giá trị phân biệt LMN và

VMNM mạnh nhất

Kết quả ADA dịch não tủy của hai nhóm

bệnh nhân

Bảng 5: Tần suất của nồng độ ADA/DNT

Sốlượng Tỷ lệ % Sốlượng Tỷ lệ %

Bảng 6: So sánh nồng độ trung bình ADA/DNT của

hai nhóm bệnh nhân

Đường cong ROC xác định ngưỡng nồng

độ ADA/DNT

Biểu đồ 3: Đường cong ROC của ADA/DNT ở hai

nhóm nghiên cứu

Đường cong biểu diễn độ nhạy và dương

tính giả của ADA/DNT lệch lên trên và sang trái chứng tỏ có sự khác biệt của ADA/DNT giữa hai nhóm VMNM và LMN

Diện tích dưới đường cong ROC

Bảng 7: Giá trị chẩn đoán của xét nghiệm ADA dịch

não tủy dựa vào đường cong ROC

XN DTDĐCR Sai số

chuẩn p

DTDĐC ở ĐTC 95%

ADA

Bảng 5 cho thấy nhóm VMNM có tới 70% số bệnh nhân có nồng độ ADA DNT dưới 5 U/L, trong khi đó nhóm LMN thì ngược lại, số bệnh nhân có nồng độ ADA DNT trên 10 U/L chiếm tới 70%.Trong nhóm VMNM, số bệnh nhân có nồng độ ADA DNT < 10 U/L gần như chiếm số lượng nhiều nhất (96,67%), số bệnh nhân có nồng độ ADA DNT càng thấp chiếm càng nhiều Trong nhóm LMN số bệnh nhân có nồng

độ ADA DNT > 10 U/L gần như chiếm số lượng nhiều nhất (96,67%), số bệnh nhân có nồng độ ADA DNT càng cao chiếm càng nhiều Như vậy, có mối liên quan giữa LMN và nồng độ ADA DNT So sánh nồng độ trung bình ADA DNT ở hai nhóm VMNcho thấy sự khác biệt giữa nồng độ trung bình ADA DNT ở hai nhóm VMN là rất rõ ràng (p < 0,01) Nghĩa là XN này

có giá trị phân biệt VMNM và LMN Ngưỡng chẩn đoán tốt nhất của nồng độ ADA DNT để chẩn đoán phân biệt LMN và VMNM là > 8,7U/L với độ nhạy 76,67%, độ đặc hiệu 96,67% Kết quả trong nghiên cứu này là tương đương với phần lớn các tác giả khác Ali Monghtader(4), Choi SH(8), Rajesh Baheti(9), Rajpal S Kashyap(3)

Độ nhạy

Độ đặc hiệu

Trang 6

So sánh giá trị chẩn đoán của ADA với

các xét nghiệm hóa sinh khác trong DNT

Biểu đồ 4: Biểu diễn đường cong ROC của ADA và

các xét nghiệm hóa sinh trong DNT

Diện tích dưới đường cong ROC

Bảng 8: So sánh giá trị chẩn đoán của ADA với các

XN hóa sinh trong dịch não tủy

XN DTDĐCR Sai số

chuẩn p

DTDĐC ở ĐTC 95%

0,986

0,814 Glucose

0,591 – 0,83

0,804

Khi dùng đường cong ROC để so sánh giá

trị trong việc chẩn đoán phân biệt giữa LMN và

VMNM của ADA/DNT với các xét nghiệm hóa

sinh khác trong DNT cho thấy đường cong ROC

của ADA DNT tiến xa lên trên về phía bên trái

nhiều nhất, có nghĩa là diện tích dưới đường

cong ROC của ADA DNT là lớn nhất (0,942)

Qua đó, ta cũng thấy giá trị diện tích dưới

đường cong ROC của ADA DNT lớn hơn khá

nhiều so với các xét nghiệm hóa sinh DNT còn

lại Như vậy, ADA DNT có giá trị cao nhất

trong chẩn đoán phân biệt giữa LMN và

VMNM của ADA/DNT

So sánh giá trị chẩn đoán của ADA với các xét nghiệm tế bào trong dịch não tủy

Biểu đồ 5: Biểu diễn đường cong ROC của ADA và

các xét nghiệm tế bào trong DNT

Bảng 9: So sánh giá trị chẩn đoán của ADA với các

xét nghiệm tế bào trong dịch não tủy

XN DTDĐCR Sai số

chuẩn p

DTDĐC ở ĐTC 95%

0,01

0,849 – 0,986

0,01

0,691 - 0,901

0,01

0,696 - 0,905

0,01 0,641 - 0,87

Tương tự giá trị diện tích dưới đường cong ROC của ADA DNT lớn hơn khá nhiều so với các xét nghiệm tế bào DNT còn lại Như vậy, ADA DNT có giá trị cao nhất trong chẩn đoán phân biệt giữa LMN và VMNM của ADA/DNT (p < 0,05)

KẾT LUẬN

ADA dịch não tủy là thông số có giá trị trong chẩn đoán phân biệt VMNM và lao màng não

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đông Thị Hoài Tâm (1997), “Bệnh viêm màng não mủ”, Bệnh

truyền nhiễm, NXB Y học TPHCM, tr.92 – 211

“Evaluation of CSF-adenosine deaminase activity in tubercular

meningitis” J Assoc Physicians India, 47(2): pp.192- 4

Daginawala HF (2006) “Cerebrospinal fluid adenosine deaminase

Độ nhạy

Độ đặc hiệu

Độ nhạy

Độ đặc hiệu

Trang 7

meningitis”, Cerebrospinal Fluid Research, 3: 5 doi: 10

1186/1743-8454-3-5

4 Moghtaderi A, Niazi A, Alavi-Naini R, Yaghoobi S, Narouie B

(2010) “Comparative analysis of cerebrospinal fluid adenosine

deaminase in tuberculous and non-tuberculous meningitis”, Clinical

Neurology and Neurosurgery 112, pp.459- 62

5 Patel VB, Singh R, Connolly C, Coovadia Y, Peer AKC, Parag P,

Kasprowicz V, Zumla A, Ndung’u T, Dhda K (2010)

“Cerebrospinal T cell responses aid the diagnosis of tuberculous

meningitis in a HIV and TB endemic population” Media embargo

thoracic.org/go/embargo AJRCCM Articles in Press Published

on May 4, 2010 as doi:10.1164/rccm.200912-1931OC

6 Phạm Long Trung (1999), “Lao hệ thống thần kinh trung ương”,

Bệnh học lao phổi, NXB Đà Nẵng, tập 2, tr.184-91

7 Phạm Long Trung (2000), “Lao nguyên phát”, Bệnh học lao phổi,

NXB Đà Nẵng, tr.41- 5

Ryu J, Woo JH (2002) “The possible role of cerebrospinal fluid adenosine deaminase activity in the diagnosis of tuberculous meningitis in adults” Clin Neurol Neurosurg.104(1): pp.10-5

9 Rajesh B, Purnima L, Gehlot RS (2001) “Cerebrospinal fluid ADA

activity in various types of meningitis”, Journal, Indian Academy

of Clinical Medicine Vol.2, No 4, pp.285-7

“Correlation of the Laboratory Findings with a Etiology of Patients

Presenting with Fever followed by Altered Consciousness in a Teaching Hospital”, TAJ June 2005; Volume 18 Number 1 ISSN

1019-8555 The Journal of Teachers Association RMC, Rajshahi

pp25- 9

Ngày đăng: 22/01/2020, 15:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w