1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp thuộc tập đoàn dệt may việt nam

160 213 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều đó hướng CSR tập trung vào các giá trị và mục tiêu cơ bản có ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của DN, bao gồm các vấn đề về môi trường quản trị gồm: quản trị sản xuất, quản trị ng

Trang 1

VƯƠNG THỊ THANH TRÌ

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

THUỘC TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

VƯƠNG THỊ THANH TRÌ

NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THỰC HIỆN

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

THUỘC TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH (Viện QTKD)

Mã số: 9340101

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THÀNH HƯNG

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Người thực hiện

Vương Thị Thanh Trì

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS.TS Vũ Thành Hưng là thầy giáo trực tiếp hướng dẫn cho em trong quá trình nghiên cứu thực hiện bản Luận án Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn nhiệt tình, cung cấp những tài liệu phục vụ nghiên cứu và động viên khích lệ em trong suốt thời gian vừa qua

Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Viện sau đại học, Viện Quản trị kinh doanh và cùng các thầy cô, các cán bộ, nhân viên trong trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu sinh trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo, quản lý, các cán bộ nhân viên thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam cùng Ban lãnh đạo các Tổng công ty May 10, May Việt Tiến, May Đức Giang đã sẵn sàng giúp đỡ trong quá trình cung cấp các tài liệu,

số liệu liên quan đến luận án

Cuối cùng, Em muốn dành lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè, Ban Giám hiệu Trường Đại học Thăng Long, khoa Kinh tế - Quản lý và đồng nghiệp đã ủng hộ và tạo điều kiện cho em trong học tập và nghiên cứu, động viên em vượt qua những khó khăn trong công việc và cuộc sống để em có thể yên tâm thực hiện ước mơ của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC ………iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ x

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ xi

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do lựa chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án 4

1.3 Câu hỏi nghiên cứu chính của luận án 5

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

1.5 Những đóng góp mới của nghiên cứu 6

1.6 Kết cấu của luận án 7

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, KHOẢNG TRỐNG VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8

2.1 Một số vấn đề chung về thực hiện CSR 8

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của CSR 8

2.1.2 Lợi ích của thực hiện CSR 11

2.1.3 Các đối tượng thực hiện CSR của DN 14

2.2 Tổng quan nghiên cứu về CSR trong các DN 17

2.2.1 Các khái niệm quan trọng 17

2.2.2 Các hướng nghiên cứu về thực hiện CSR trong các DN 20

2.2.3 Lý thuyết được sử dụng trong các nghiên cứu về thực hiện TNXH 20

2.2.3.1 Thuyết quản trị các bên liên quan (Stakeholder Managemant Theory) của Freeman 20

2.2.3.2 Mô hình CSR kim tự tháp (CSR Pyramidal Model) của Carroll 22

2.2.3.3 Kết hợp sử dụng cả hai lý thuyết Mô hình kim tự tháp của Carroll và Quản trị các bên liên quan của Freeman 22

2.2.4 Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện CSR 23

Trang 6

2.2.4.1 Hoạch định chiến lược 23

2.2.4.2 Văn hóa doanh nghiệp 24

2.2.4.3 Thời gian hoạt động, số lượng lao động, doanh thu 26

2.2.5 Khoảng trống nghiên cứu 26

2.2.6 Mô hình, giả thuyết nghiên cứu và thang đo 27

2.2.6.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 27

2.2.6.2 Thang đo sử dụng trong nghiên cứu 28

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 32

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

3.1 Quy trình tiến hành nghiên cứu 33

3.2 Thiết kế nghiên cứu định tính 35

3.2.1 Thiết kế phương pháp nghiên cứu 35

3.2.2 Mục tiêu của nghiên cứu định tính 36

3.2.3 Thu thập và xử lý thông tin 36

3.2.4 Kết quả nghiên cứu định tính 37

3.2.4.1 Kiểm tra tính phù hợp của thang đo, xác định sơ bộ mối quan hệ giữa các biến độc lập và phụ thuộc 37

3.2.4.2 Bổ sung thêm nhân tố mới 38

3.2.4.3 Bảng hỏi, mô hình nghiên cứu và giả thuyết chính thức 42

3.3 Thiết kế nghiên cứu định lượng 45

3.3.1 Xác định kích thước mẫu 45

3.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 47

3.4 Phương pháp đánh giá thực trạng thực hiện TNXH và các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện TNXH của các DN thuộc Vinatex 48

3.4.1 Phương pháp đánh giá thực trạng thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex 48

3.4.2 Phương pháp đánh giá thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex 49

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 50

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

4.1.1 Giới thiệu chung về Tập đoàn Dệt may Việt Nam 51

4.1.2 Quan điểm thực hiện CSR tại Vinatex 53

Trang 7

4.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR trong các DN thuộc Vinatex 55

4.1.4 Thực hiện CSR trong các DN thuộc Vinatex 58

4.1.4.1 Thực hiện CSR tại Công ty May Việt Tiến 60

4.1.4.2 Thực hiện CSR tại Tổng công ty Đức Giang – CTCP (DUGARCO) 64

4.1.4.3 Thực hiện CSR tại Tổng công ty May 10 – CTCP 68

4.1.5 Những kết luận rút ra 71

4.2 Thực trạng thực hiện CSR và các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex 73

4.2.1 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện TNXH các DN thuộc Vinatex 73

4.2.2 Kiểm định độ tin cậy thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex 80

4.2.3 Thống kê mô tả về thực hiện TNXH và các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex 82

4.2.3.1 Thống kê mô tả về thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex 82

4.2.3.2 Thống kê nhân tố Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài 84

4.2.3.3 Thống kê nhân tố Hoạch định chiến lược định hướng bên trong 86

4.2.3.4 Thống kê nhân tố Luật và thực thi pháp luật 87

4.2.3.5 Thống kê nhân tố Văn hóa nhân văn của DN 88

4.3 Thực trạng mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex 89

4.3.1 Kiểm định dữ liệu phân phối chuẩn 89

4.3.2 Kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích hồi quy bội 90

4.3.3 Xem xét ma trận hệ số tương quan 90

4.3.4 Dò tìm sự vi phạm giả định mô hình hồi quy 91

4.3.5 Xây dựng mô hình nghiên cứu thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex bằng phương pháp hồi quy bội 91

4.3.6 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động tới thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex 94

4.4 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 95

4.5 Nghiên cứu sự ảnh hưởng của đặc điểm DN tới thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex 97

TÓM TẮT CHƯƠNG 4 100

Trang 8

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102

5.1 Kết quả chủ yếu của nghiên cứu 102

5.2 Hàm ý đề xuất cho các nhà quản trị trong các DN thuộc Vinatex 104

5.2.1 Đánh giá đúng vai trò, tầm quan trọng của các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạch định chiến lược phát triển DN 105

5.2.2 Đánh giá đúng vai trò của văn hóa DN (văn hóa nhân văn của DN), Luật và thực thi pháp luật đối với việc thực hiện CSR 106

5.2.3 Tập trung cải thiện thực hiện CSR theo hướng cân đối, hài hòa đảm bảo đủ bù đắp cho các khoản phí phải bỏ ra khi DN thực hiện CSR 107

5.3 Kiến nghị với Nhà nước nhằm thúc đẩy các DN thuộc Vinatex thực hiện CSR 108

5.4 Hạn chế của nghiên cứu 114

5.5 Hướng nghiên cứu tiếp theo 114

TÓM TẮT CHƯƠNG 5 116

KẾT LUẬN 118

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO 121

PHỤ LỤC ……….129

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CP-TPP (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership

– Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương)

ISO 14000 Tiêu chuẩn trách nhiệm môi trường

ISO 26000 Tiêu chuẩn hướng dẫn CSR

ISO 9000 Tiêu chuẩn quản lý chất lượng

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Năng lực mới tăng thêm do đầu tư 53

Bảng 2.2: Bảng hỏi dự kiến 28

Bảng 3.1: Dự kiến thời gian nghiên cứu 36

Bảng 3.2: Các biến quan sát cho nhân tố mới Luật và thực thi pháp luật 40

Bảng 3.3: Bảng hỏi chính thức 43

Bảng 3.4: Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng 49

Bảng 4.1: Bảng tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố lần 1 73

Bảng 4.2: Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 1 của 19 thang đo trong nghiên cứu 74

Bảng 4.3: Tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố lần 2 74

Bảng 4.4: Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 2 của 18 thang đo trong nghiên cứu 75

Bảng 4.5: Tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố lần 3 76

Bảng 4.6: Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 3 của 17 thang đo trong nghiên cứu 76

Bảng 4.7: Tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố lần 4 77

Bảng 4.8: Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 4 của 16 thang đo nghiên cứu 77

Bảng 4.9 Bảng mã hóa lại các khái niệm và thang đo nghiên cứu 78

Bảng 4.10: Bảng tóm tắt hệ số Cronbach’s Alpha của các nhân tố 80

Bảng 4.11: Thống kê mô tả thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam 82

Bảng 4.12: Thống kê mô tả nhân tố Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài 84

Bảng 4.13: Thống kê mô tả nhân tố Hoạch định chiến lược định hướng bên trong 86

Bảng 4.14: Thống kê mô tả nhân tố Luật và thực thi pháp luật 87

Bảng 4.15: Thống kê mô tả nhân tố Văn hóa nhân văn của DN 88

Bảng 4.16: Kết quả kiểm định dữ liệu phân phối chuẩn thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện TNXH tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam 89

Bảng 4.17 Ma trận hệ số tương quan 90

Trang 11

Bảng 4.18: Bảng kết quả hồi quy của mô hình thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt

may Việt Nam 92

Bảng 4.19: Kết quả phân tích phương sai ANOVA 92

Bảng 4.20: Kết quả phân tích hồi quy đa biến 93

Bảng 4.21: Tầm quan trọng của các nhân tố 95

Bảng 4.22: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết 96

Bảng 4.23: Bảng kết quả hồi quy của mô hình thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam phụ thuộc vào đặc điểm DN 97

Bảng 4.25: Kết quả phân tích phương sai ANOVA 98

Bảng 4.26: Kết quả phân tích hồi quy đa biến 99

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Thực hiện CSR đối với NLĐ 61

Biểu đồ 4.2: Thực hiện CSR đối với NTD 62

Biểu đồ 4.3: Thực hiện CSR đối với môi trường 62

Biểu đồ 4.4: Thực hiện CSR đối với cộng đồng 63

Biểu đồ 4.5: Thực hiện CSR đối với NLĐ 65

Biểu đồ 4.6: Thực hiện CSR đối với NTD 66

Biểu đồ 4.7: Thực hiện CSR đối với môi trường 67

Biểu đồ 4.8: Thực hiện CSR đối với cộng đồng 68

Trang 13

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

Hình 2.1: Sự phát triển của CSR giai đoạn 1950 -2000 11

Hình 2.2: Tầm quan trọng của CSR đối với DN 12

Hình 2.3: Động lực thực hiện CSR trong DN 14

Hình 2.4: Mô hình quyền lực của các bên hữu quan 21

Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu dự kiến 27

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu của luận án 33

Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu chính thức 42

Sơ đồ 2.1: Mô hình kim tự tháp của Carroll 19

Sơ đồ 4.1: Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết 96

Trang 14

từ giảng dạy lý thuyết cho đến thực hành trong thực tế Tuy nhiên hiểu CSR của DN như thế nào cho đầy đủ vẫn luôn là câu chuyện được đưa ra chia sẻ của nhiều nhà nghiên cứu, học giả và của chính các doanh nhân

“Các DN đang mong muốn thể hiện mình là công dân đáng tin cậy và lương thiện, những người công dân luôn quan tâm đến hạnh phúc của toàn xã hội” (Gössling and Vocht, 2007) Điều đó hướng CSR tập trung vào các giá trị và mục tiêu cơ bản có ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của DN, bao gồm các vấn đề về môi trường quản trị gồm: quản trị sản xuất, quản trị nguồn nhân lực, quản trị tài chính và quản trị marketing… Cùng với các khái niệm liên quan đến tư cách “công dân DN” (corporate citizen) và quản lý các bên liên quan, CSR cung cấp một góc nhìn mới cho các DN và người quản lý như là sự tương tác của DN với nhiều đối tác trong xã hội, bao gồm cả người tiêu dùng, các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ (NGOs), môi trường, xã hội và cộng đồng CSR đã trở thành một xu hướng của toàn cầu hoá và ngày càng được các tập đoàn đa quốc gia lớn nhìn nhận nghiêm túc hơn CSR được xem không chỉ là “điều đúng đắn nên làm”, mà còn là “điều khôn ngoan nên làm” (Smith, 2003)

Theo (Beurden and Gössling, 2008) trong thực tế, “CSR bao gồm rất nhiều yếu

tố từ nhận thức đến các hành động thực tiễn, từ đóng góp từ thiện cho đến các vấn đề

xã hội, đặc biệt là bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao phúc lợi nhân viên, phát triển năng lực và phát triển cộng đồng” Tuy nhiên,

“cách các DN có quan điểm về CSR và hành động như một công dân tốt có sự đa dạng

từ một ngành kinh tế này sang một ngành khác, từ một nước này sang một nước khác”

Trang 15

(Bui, 2010) Trong môi trường kinh doanh các DN có thể tập trung thực hiện CSR của

họ bằng cách được công nhận đạt một số chứng nhận quốc tế hoặc tuân thủ một số bộ quy tắc ứng xử CoC- Code of Conduct, CoE- Code of Ethics Các tập đoàn đa quốc gia hay những DN có thương hiệu mạnh đều áp dụng một cách có hệ thống các bộ tiêu chuẩn CSR như SA8000, WRAP, ISO 14000, ISO 26000, ISO 9000, GRI và các quy tắc ứng xử CoC, CoE

Mặc dù CSR ở Việt Nam còn tương đối mới, song tầm quan trọng của CSR trong công tác hoạch định chiến lược kinh doanh của DN Việt Nam đã tăng lên trong nhiều năm gần đây Nhiều doanh nhân chủ động thực hiện làm từ thiện gắn với sự nổi tiếng của công ty Vinamilk đã chủ động đưa CSR vào chiến lược kinh doanh của mình như "chương trình việc làm bền vững" Năm 2014, Vinamilk vinh dự nhận kết quả là "một trong 100 nơi làm việc tốt nhất Việt Nam với vị trí thứ 2 trong tổng thể và

là thương hiệu nhà tuyển dụng hấp dẫn nhất ở hai hạng mục chính là lương, thưởng, bên cạnh đó còn phúc lợi, chất lượng công việc & cuộc sống" (Vinamilk, Phát triển bền vững Báo cáo năm, 2014) Về phía Chính phủ cũng có nhiều giải thưởng cho các

DN có các hoạt động CSR tốt như giải thưởng "CSR hướng tới sự phát triển bền vững" (VNR 500 và VCCI 2005, 2012) Trong Diễn đàn DN về giải thưởng CSR 2012, ông Nguyễn Quang Vinh, giám đốc văn phòng DN vì sự Phát triển Bền vững – VCCI nhấn mạnh "CSR không phải là đồ trang sức cho DN mà nó thực sự là sự sống còn của mỗi

DN DN không nên nhìn nhận đây là một gánh nặng, là điều gì đó xa vời mà nó cần được bắt đầu bằng những điều tưởng như đơn giản, ví dụ như quan tâm cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, đưa ra giải pháp tốt cho tiết kiệm năng lượng, bảo

vệ môi trường…đó là cách thực hiện CSR đơn giản mà không tốn kém" Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, với chủ trương "Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược" Đây là điều quan trọng đối với các DN Việt Nam, CSR của các DN Việt Nam đang định hướng phát triển bền vững

Thực hiện CSR ở các DN Việt Nam còn đối mặt nhiều thách thức Thứ nhất, đó

là sự hiểu biết, nhận thức của nhiều nhà quản trị về CSR chưa đúng và đầy đủ DN chưa hiểu rằng thực hiện CSR phải được đặt ra ngay trong kế hoạch sản xuất kinh doanh hay đơn giản chỉ cần tuân thủ đúng các Luật Thứ hai, do sự tác động của toàn cầu hóa, các DN Việt Nam buộc phải áp dụng những hệ thống quy tắc ứng xử du nhập

từ quốc tế, nơi có mặt bằng vật chất cao hơn so với Việt Nam Trong khi đó các DN Việt thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực CSR, đặc biệt là các DNNVV Hơn nữa, triển khai thực hiện CSR còn thiếu các chính sách pháp luật đồng

Trang 16

bộ và hệ thống tiêu chuẩn phù hợp với kỹ thuật và xã hội "Ở các nước phát triển, thực hiện CSR là vấn đề tất yếu đi liền với các hoạt động kinh doanh, còn ở Việt Nam, các

DN phần lớn chỉ thực hiện do mang tính bắt buộc hay từ sự thiện tâm của người đứng đầu DN Rõ ràng đây là 2 quan niệm kinh doanh hoàn toàn khác nhau" (VBCSD,

2013, pp 22-29)

Theo Báo cáo của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) năm 2018, Tập đoàn

có hơn 110 đơn vị thành viên, đơn vị liên kết và 120 nghìn lao động Hiện tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 400 tập đoàn, công ty đến

từ 65 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may cả nước Lợi nhuận Công ty mẹ năm 2018 ước đạt 345 tỷ đồng bằng 113,1% kế hoạch năm 2017, tăng 35% so với cùng kỳ Thu nhập bình quân người lao động đạt 7.550 nghìn đồng/người/tháng, tăng 6,3% so cùng

kỳ Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) của năm 2018 với mức đạt 5 tỷ USD, được coi là con số đặc biệt, bằng 100% kim ngạch xuất khẩu của năm 2007 Xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường lớn vẫn tăng trưởng ổn định, cụ thể, nhập khẩu dệt may vào thị trường Mỹ giảm 0,5% nhưng nhập khẩu từ Việt Nam tăng hơn 9% Nhập khẩu dệt may vào Nhật Bản tăng 8% nhưng nhập khẩu từ trong nước có mức tăng hơn 19% Thậm chí tại thị trường Hàn Quốc, trong khi nhập khẩu dệt may vào thị trường này giảm 7% thì nhập khẩu từ Việt Nam vẫn tăng 9% Điều này cho thấy dệt may trong nước ngày càng có uy tín và có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thế giới Việc tiếp tục đàm phán Hiệp định thương mại tự do (FTA) với EU giúp ngành dệt may mở ra những cơ hội mới đối với thị trường đầy tiềm năng Ngành dệt may sẽ tận dụng cơ hội mới để đạt mức xuất khẩu cao nhất có thể

Tập đoàn Dệt may Việt Nam là một trong những Tập đoàn có đóng góp lớn cho nền kinh tế Với đặc thù là ngành sử dụng nhiều lao động (trong đó lao động nữ chiếm 70%); quá trình sản xuất của các DN dệt may tác động trực tiếp đến môi trường; mức

độ cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới cao, chịu nhiều rào cản khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác Quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi các DN dệt may Việt Nam phải thực hiện theo đúng các quy định trong nước và quốc tế, trong đó thực hiện CSR trở thành một vấn đề cần được quan tâm Bên cạnh những đóng góp to lớn của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, thì vẫn còn có những hạn chế cần phải khắc phục đó là: Thu nhập người lao động trong ngành đã cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với cường độ làm việc, thời gian

mà người lao động phải bỏ ra; Lãnh đạo một số DN Dệt May chưa thực hiện đầy đủ

Trang 17

Bộ Luật Lao động và Luật Công đoàn, chưa giải quyết kịp thời kiến nghị hợp pháp của NLĐ, chưa đảm bảo việc làm, giảm tiền lương, giảm thu nhập dẫn đến người lao động

ở một số công ty đình công để đòi quyền lợi; Một số DN xả nước thải chưa qua xử lý

ra môi trường, tìm biện pháp giảm chi phí đầu vào, trong đó giảm những chi phí cho

môi trường tự nhiên - xã hội

Để các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) chủ động thực hiện CSR thì rất cần thiết phải xác định được nhân tố nào ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN Nhu cầu thực hiện CSR trước hết xuất phát từ sức ép của môi trường bên ngoài, sự thay đổi nhận thức và hành động của DN Do đó, việc lựa chọn nghiên cứu

Luận án tiến sĩ với tên đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội

của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam” là rất cần thiết và có ý

nghĩa

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

Để hoàn thành các nội dung nghiên cứu, luận án tập trung vào 2 mục tiêu chính

Trang 18

các nhân tố ảnh hưởng và nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng thực hiện CSR

1.3 Câu hỏi nghiên cứu chính của luận án

Nghiên cứu đề tài này, thực chất là đi tìm câu trả lời cho 3 câu hỏi sau:

• Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam?

• Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến thực hiện CSR của các

DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam như thế nào?

• Câu hỏi 3: Khuyến nghị nào cần được đưa ra đối với các chủ thể khi đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

Phạm vi về mặt nội dung: Nghiên cứu cơ sở lý thuyết về CSR của DN, các nhân

tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của DN, qua đó đánh giá thực trạng thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam Nội dung

đề xuất hàm ý chính sách và các khuyến nghị với Nhà nước gắn với thực tế thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam Do hạn chế về mặt nguồn lực nên nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát các nhà quản lý cấp cao và cấp trung trong các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam mà chưa khảo sát được trên đối tượng người lao động, người tiêu dùng, đối tác…về việc thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

Trang 19

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Trong đó, phương pháp định tính nhằm hỗ trợ việc kiểm chứng các dữ liệu phân tích trong mô hình Trước tiên là nghiên cứu tại bàn bằng việc lấy thông tin từ các bài báo, tạp chí ngành, các tạp san, internet, bản tin và các số liệu từ tổng cục thống kê, trên website của Tập đoàn Dệt may Việt Nam Số liệu về số lượng các DN thuộc Tập đoàn Dệt May, về thị trường chủ yếu, về quy mô vốn, kết quả hoạt động SXKD 2013-2018 Sau khi thu thập được thông tin, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp các dữ liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết, phát triển mô hình và giả thuyết nghiên cứu Sau đó, phỏng vấn sâu các nhà quản lý để làm rõ các thông tin về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam Phương pháp định lượng được tiến hành thông qua phát phiếu điều tra khảo sát bằng bảng hỏi đối với quản lý các cấp trong các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam, với quy mô mẫu là 110 DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 thông qua phân tích thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy tuyến tính Như vậy, bằng việc kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng sẽ giúp khắc phục hạn chế và tăng cường kết quả nghiên cứu của luận án (chi tiết ở chương 3 của luận án)

1.5 Những đóng góp mới của nghiên cứu

Luận án có đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn cụ thể như sau:

Về lý luận: Mặc dù có nhiều nghiên cứu về CSR của DN nhưng trong nghiên cứu này, tác giả có đóng góp về mặt lý luận, đó là:

- Luận án đã làm rõ được khái niệm CSR và thực hiện CSR của DN

- Xác minh tính phù hợp, đặc thù của mô hình và đề xuất các nhân tố ảnh hưởng gồm: (1) Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài, (2) Hoạch định chiến lược định hướng bên trong, (3) Văn hóa nhân văn của DN, (4) Luật và thực thi pháp luật Trong đó, nhân tố “Luật và thực thi pháp luật” được tác giả xây dựng mới trong mô hình

- Là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam áp dụng nghiên cứu định lượng đối với 1 lĩnh vực khó lượng hóa như văn hóa nhân văn của DN với thực hiện CSR

Về thực tiễn:

(1) Luận án đã đánh giá được thực trạng thực hiện CSR và thực trạng các nhân

tố ảnh hưởng tới thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam Thông qua các kết quả chính của nghiên cứu, luận án đã đề xuất hàm ý chính sách góp

Trang 20

phần giúp nhà quản lý ở các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam xác định được mức độ ưu tiên đối với từng nhân tố ảnh hưởng Từ đó sẽ góp phần giúp nhà quản lý cấp cao trong các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam xây dựng được các chiến lược, kế hoạch và chính sách CSR sát với yêu cầu đòi hỏi của thực tế cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển kinh tế bền vững và tăng khả năng hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu Ngoài ra căn cứ vào lợi ích thu được từ thực hiện CSR cũng như mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến thực hiện CSR, các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam sẽ cân đối mức độ tập trung trọng yếu vào từng nhân tố và khía cạnh CSR Các DN hiểu được các vấn đề liên quan đến CSR sẽ giúp họ tính toán được những lợi ích thông qua thực hiện CSR

(2) Luận án kiểm định được độ tin cậy của các khái niệm và thang đo nghiên cứu trong mô hình

(3) Luận án phát hiện nhân tố “Luật và thực thi pháp luật” có tác động thuận chiều đến thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

(4) Luận án đã đề xuất được một số hàm ý chính sách đối với các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam và khuyến nghị với Nhà nước nhằm thúc đẩy các DN dệt may thực hiện CSR ngày một tốt hơn

1.6 Kết cấu của luận án

Để đảm bảo trình bày toàn bộ các nội dung nghiên cứu của mình, ngoài kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận án được chia thành 5 chương chính như sau:

Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu, khoảng trống và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Trang 21

CHƯƠNG 2

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, KHOẢNG TRỐNG

VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số vấn đề chung về thực hiện CSR

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của CSR

* CSR trong những năm 1950

Những năm 1950 đánh dấu sự ra đời của một khái niệm mới – CSR của DN khi Bowen xuất bản cuốn sách của mình với nhan đề "CSR của Doanh nhân" vào năm

1953 Ông định nghĩa "CSR đề cập đến nghĩa vụ của DN theo đuổi các chính sách,

để thực hiện những quyết định, hoặc theo đuổi các hành động đó là mong muốn về các mục tiêu và các giá trị của xã hội" (Bowen, 1953) Các DN tham gia vào CSR cần thực hiện một cách tự nguyện với sự can thiệp tối thiểu của chính phủ Tuy nhiên, một vài năm sau đó, ông đặt câu hỏi về suy nghĩ đầu tiên của mình bằng cách lập luận rằng "tôi đã xem đó là CSR tự nguyện không thể dựa vào hình thức quan trọng của việc kiểm soát DN Sức mạnh của kinh doanh lấn át CSR tự nguyện" (Frederick, 2006)

Sau nghiên cứu của Bowen, Theodore Levitt đã nghiên cứu về CSR với tuyên

bố "Công việc của chính phủ không phải là kinh doanh và công việc kinh doanh không phải là của Chính phủ" (Levitt, 1958) Kế thừa từ lập luận trên của Levitt, Friedman cho rằng "CSR duy nhất của một DN là theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông trong ranh giới quy định bởi luật” (Friedman, 1970) Quan điểm này đã bị chỉ trích nặng nề trong quá trình hình thành cơ sở lý thuyết về CSR và thậm chí ngày nay nhiều học giả vẫn đưa ra lập luận nhằm mục đích để chứng minh rằng Friedman sai Cách tiếp cận của ông dựa trên lý thuyết đại lý và ngụ ý rằng các DN "chỉ có nghĩa

vụ đáp ứng lợi ích của các cổ đông, chính phủ là người chịu trách nhiệm chăm sóc các khía cạnh xã hội và các khía cạnh môi trường thông qua áp dụng luật” "Cách lập luận này xem CSR là một sự lãng phí nguồn lực có thể được sử dụng như lợi nhuận cho các

cổ đông hoặc làm phương tiện đầu tư nội bộ” (McWilliams et al., 2006) Mặc dù Bowen và Friedman có cách tiếp cận khác nhau đáng kể về CSR, nhưng giả định cơ bản của họ là giống nhau Cả hai đều quan tâm đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận để cải thiện hoạt động tài chính Sự khác biệt của 2 nghiên cứu đó là Bowen công nhận CSR như một cơ hội cho các DN nhằm tăng cường lợi ích của chính họ, trong khi đó

Friedman xem CSR như là một mối đe dọa

Trang 22

* CSR trong những năm 1960 và 1970

Davis (1960) cho rằng "CSR cần được phân tích từ một quan điểm khác, quan điểm mới này bổ sung thêm nghĩa vụ đạo đức” (Davis, 1960) "Các DN nên tham gia vào hoạt động CSR vì vừa là quyền, cũng là điều kiện cần” (Davis, 1973) Ủy ban phát triển kinh tế (CED-Commission Economic Development, 1970) tuyên bố "các Tổng công ty nên là tổ chức hoạt động trong toàn xã hội thay vì chỉ trên thị trường” (Frederick, 2006) Sau này CED cho rằng CSR của DN không chỉ để sản xuất các sản phẩm, dịch vụ và hành động từ thiện, mà thực hiện CSR cần hoạt động theo chiều hướng thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của xã hội CED đề cập rõ các khái niệm về khế ước xã hội và cho rằng CSR là một yêu cầu bắt buộc chứ không phải là tự nguyện Các

DN cần tập trung vào 10 lĩnh vực chủ yếu như tăng trưởng kinh tế và hiệu quả, giáo dục, việc làm và đào tạo, dân quyền và cơ hội bình đẳng, đổi mới đô thị và phát triển, ngăn chặn ô nhiễm, bảo tồn và vui chơi giải trí, văn hóa và nghệ thuật, chăm sóc y tế

và mối quan hệ với chính phủ (Frederick, 2006) Sự nổi bật trong báo cáo của CED về CSR là đã đề xuất các DN nên hợp tác với chính phủ Xu hướng này trùng với các tiếp cận nhiều năm sau đó, "CSR cần được thực hiện bằng việc hợp tác với chính phủ nhằm thể hiện một ưu tiên đối với việc bảo vệ quyền tự chủ của thị trường tự do” (Eilbert and Parket, 1973)

Thời gian sau xuất hiện mô hình khái niệm ba chiều của Carroll (Carroll, 1979) Trong mô hình này, tương tự như hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow, Carroll lập luận "CSR của DN nên bao gồm bốn trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn” Các DN nên xác định các trách nhiệm CSR của mình, xác định các lĩnh vực CSR

và sau đó quyết định xem nên đáp ứng chủ động hoặc thụ động Mặc dù mô hình có thể đơn giản, nhưng lần đầu tiên vạch ra cho các DN một chiến lược cụ thể để làm theo Các đề xuất của Carroll tạo thành 3 chủ đề chính đến nay vẫn còn được tranh luận trong tổng quan về CSR (Blowfield and Murray, 2008)

* CSR trong những năm 1990

Các yếu tố đạo đức bắt đầu được đề cập nhiều hơn nữa sau sự xuất hiện nhiều

vụ tai tiếng ở các công ty nổi tiếng như Bhopal, Chernobyl và Exxon Valdez Chính vì vậy, vào đầu những năm 1990 các học giả như (Donaldson and Davis, 1991) lập luận rằng các DN nên tham gia vào hoạt động CSR vì đó là điều phải làm và không phải vì bất kỳ mối quan hệ với hoạt động tài chính của DN Trong một nhận thức tương tự, Wood đề xuất tầm quan trọng của thực hiện CSR sẽ cho kết quả rõ rệt về cải thiện kinh doanh, xây dựng mối quan hệ tốt với cộng đồng và cho rằng trách nhiệm của DN

Trang 23

ngoài tài chính và pháp lý, thì các nhà quản lý cần quan tâm đến các hành động như đạo đức và từ thiện Các DN nên thay đổi để hướng đến "sản xuất ít gây hại và kết quả mang lại lợi ích nhiều hơn cho xã hội và con người" (Wood, 1991) Nghiên cứu này đã dẫn đến các khái niệm về quyền công dân DN mà sau này đã trở thành một hướng đi riêng trong thực hiện CSR Năm 1999 Archie Carroll đã phát triển một khái niệm khác biệt về CSR, theo đó, CSR "là tất các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức, nhân văn và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở DN trong mỗi thời điểm nhất định" (Carroll, 1999) Tuy nhiên cách diễn đạt này của Carroll khiến nhiều người hiểu lầm rằng để phấn đấu thực hiện được nghĩa vụ cao hơn thì DN phải thỏa mãn được nghĩa

vụ thấp hơn trước và các nghĩa vụ này cũng có sự phân biệt khá rạch ròi giữa đạo đức

và từ thiện, giữa nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ kinh tế Trên thực tế khi thực hiện các nghĩa vụ vẫn phải lồng ghép vào nhau và nhiều khi tồn tại song song trong cùng một

sự việc

* CSR trong thế kỷ 21

Giai đoạn này các nhà nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ giữa CSR với chiến lược, sau đó kết luận rằng các DN thực hiện CSR theo hướng hợp nhất vào chiến lược kinh doanh nhằm sử dụng CSR có lợi cho DN Baron (2001) gọi cách làm này là trách nhiệm DN chiến lược và phân biệt hai hình thức CSR vị tha và CSR chiến lược (Baron, 2001) CSR vị tha đề cập đến hành động thực hiện bởi các DN nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong khi CSR chiến lược đề cập đến việc DN sử dụng CSR để nắm bắt giá trị Castka và cộng sự đã tiết lộ rằng DN nhỏ có thể được hưởng lợi từ CSR, cải thiện kết quả kinh doanh của họ và phát triển lợi thế cạnh tranh, ISO 9001 được xem là một phương tiện để hội nhập vào các hoạt động CSR của DN (Castka et al., 2004) Tương tự như vậy, Cambra-Fierro và cộng sự kết luận rằng quy mô của DN không ảnh hưởng đến hành vi của DN đối với CSR (Cambra-Fierro et al., 2008) Trong một suy nghĩ tương tự, Jenkins cho rằng DN nhỏ cần có sự

hỗ trợ trong việc áp dụng CSR và có thể tận dụng được các cơ hội do thực hiện CSR cũng như tối đa hóa lợi ích kinh doanh từ các cơ hội như vậy (Jenkins, 2009) Tiếp tục tập trung rà soát lại khái niệm CSR và các nhà quản lý cần thiết phải có kiến thức

về CSR (Lockett et al., 2006)

Trang 24

Hình 2.1: Sự phát triển của CSR giai đoạn 1950 -2000

Nguồn: Nada Kakabadse, Cécile Rozuel, Linda Lee-Davies (2005), "Corporate social responsibility and stakeholder approach: a conceptual review", International Journal

of Business Governance and Ethics, Vol 1 (4), pp 277-302.

2.1.2 Lợi ích của thực hiện CSR

Theo nghiên cứu của McKensey vào năm 2007 cho thấy, 95% trong số 391 CEOs tại Hoa Kỳ được phỏng vấn trả lời rằng xã hội mong đợi DN thực hiện hoạt động CSR nhiều hơn so với 5 năm trước và 50% trong số họ khẳng định mong đợi này sẽ tăng rất cao trong vòng 5 năm tới 2012 Người tiêu dùng ngày càng đặt ít niềm tin vào sản

Phát triển CSR và tìm kiếm sự hợp

lý Davis (1960) McGuire (1963) Các phản ứng bên ngoài của tổ chức được xem là định hướng nghiên cứu

Nhiều chủ

đề về CSR trong quản

lý chiến lược Wood (1991) Carroll (1991,1999) Jones (1995), Suchman (1995) Hart (1997) Quản lý các bên liên quan và lý thuyết thể chế CSR được xem như một công cụ chiến lược

Ít định nghĩa hơn, tập trung phân tích sâu các khái niệm CSR – kỷ nguyên thực hiện các vấn

đề xã hội của

DN Freeman (1984) Warwick &

Cochran (1985) Xem xét các bên liên quan

và sự kết hợp chặt chẽ hơn với hiệu quả của DN

Sự thay đổi lớn trong nghiên cứu

về CSR và

sự tự phát triển về mặt học thuật CSR Fredman Milton (1970) Carroll (1977, 1979, 1999)

Sự tranh luận của 2 trường phái đối lập Nổi bật là mô hình thực dụng

Các vụ bê bối của DN

và vấn đề toàn cầu Ảnh hưởng của CSR đối với các lĩnh vực kinh doanh Margolis & Walsh (2001) Porter & Kramer (2002) Kotler & Lee (2005) Chiến lược CSR là lợi thế cạnh tranh

Những năm 1960

Những năm 1970

Những năm 1980

Những năm 1990 Những

năm 1950

Trang 25

phẩm và vào DN, điều này tạo nên áp lực cho các DN phải hành xử đúng mực để gây dựng lòng tin Môi trường kinh doanh ngày càng cạnh tranh khốc liệt, nhân tài ngày càng khó giữ, nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng hạn hẹp thì áp lực từ người tiêu dùng, xã hội và môi trường kinh doanh lên DN ngày càng nặng nề hơn Cũng theo nghiên cứu này, trong số những nhân tố ảnh hưởng tới yêu cầu hành xử CSR của DN thì việc tăng mối quan tâm về môi trường sống dẫn đầu với tỷ lệ 61%, kế tiếp là yêu cầu tăng cao của người tiêu dùng trong tình hình ngày càng khan hiếm nguyên liệu và sản phẩm tự nhiên 38% Ảnh hưởng chất lượng hàng hóa từ Trung Quốc, Ấn Độ cũng gây áp lực không kém 37% và một thế giới phẳng về thông tin bắt buộc DN phải giữ nguyên cam kết của mình trên mọi thị trường và thời điểm 33% Hoạt động CSR là một cam kết không thể tách rời trong chiến lược phát triển kinh doanh của DN trong hiện tại và tương lai Theo nghiên cứu của Brandsvietnam, tầm quan trọng của thực hiện CSR trong các DN ngày càng tăng lên, với tỷ lệ 43% cho rằng rất quan trọng, hơi quan trọng 29% và không quan trọng chỉ có 2%

Hình 2.2: Tầm quan trọng của CSR đối với DN

Nguồn:

http://www.brandsvietnam.com/124-Dong-hanh-Trach-nhiem-Xa-hoi-va-loi-ich-cua-doanh-nghiep-CSR

Thực hiện tốt CSR đem đến cho DN nhiều lợi ích hơn, lợi ích dài hạn chủ yếu của CSR chính là giúp DN phát triển bền vững, giảm chi phí và tăng năng suất lao động, cải thiện quan hệ lao động, tăng doanh thu và cơ hội tiếp cận thị trường mới, thu hút và giữ chân nhân viên giỏi, có tay nghề cao, tạo sự trung thành và giảm bớt rủi ro, nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của DN từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh,

Trang 26

nhận được nhiều ưu thế hơn trong kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng khả năng xuất khẩu sang các khu vực đòi hỏi cao việc tuân thủ các quy định của CSR

- Giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động: DN có thể tiết kiệm nguyên nhiên vật liệu, sản xuất sạch hơn, chi phí xử lý chất thải Một hệ thống quản lý nhân sự hiệu quả cũng giúp cắt giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động Việc trả lương thưởng hợp lý, môi trường lao động sạch sẽ và an toàn, các cơ hội đào tạo, chế độ bảo hiểm đều góp phần nâng cao năng suất lao động, giảm tỷ lệ nhân viên nghỉ, bỏ việc và giảm chi phí tuyển dụng, đào tạo nhân viên mới

- Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của DN: Khi DN áp dụng CSR, đây sẽ

là một công cụ hữu hiệu để DN phát triển thương hiệu, tạo hình ảnh về sản phẩm thân thiện Thực hiện CSR sẽ giúp làm nổi bật uy tín của DN trên thị trường Điều này thấy

rõ trong những ngành hàng mà chất lượng và giá cả sản phẩm gần như tương đương nhau, người tiêu dùng sẽ trở nên băn khoăn hơn trong việc đưa ra quyết định, lựa chọn của mình Người tiêu dùng thường hay lựa chọn sản phẩm theo cảm tính và ý thích của mình do đó CSR có thể được xem như một phương thức hữu hiệu để giă tăng danh tiếng cho doanh nghiệp, tăng cảm tình của người tiêu dùng đối với thương hiệu của sản phẩm hoặc DN

- Tăng doanh thu và cơ hội tiếp cận thị trường mới: Thu hút thêm khách hàng, giữ chân những khách hàng hiện tại và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng với các công ty toàn cầu sẽ giúp DN tăng thị phần, tăng doanh thu Các yêu cầu về CSR hiện nay đã trở thành các tiêu chuẩn phải có trong kinh doanh như SA8000, WRAP, ISO14000 Do vậy, thực hiện các tiêu chuẩn này là điều kiện để các DN có

cơ hội tham gia vào các thị trường lớn như EU, Nhật, Mỹ

- Thu hút, giữ chân nhân viên giỏi và có tay nghề cao: Nguồn lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm Những DN trả lương thỏa đáng và công bằng, tạo cho nhân viên nhiều cơ hội đào tạo, đóng bảo hiểm đầy đủ và môi trường làm việc thân thiện, sạch sẽ sẽ tác động tích cực đến tinh thần của nhân viên, từ đó, động lực và sự gắn kết của người lao động đối với DN sẽ được nâng cao

- Tăng sự trung thành và giải quyết rủi ro: Khi thực hiện tốt đạo đức và CSR,

DN sẽ nhận được sự trung thành và lòng nhiệt tình của nhân viên, khách hàng và các đối tác Trong trường hợp khủng hoảng hoặc rủi ro xảy ra, những DN được công chúng công nhận là “có CSR” và “có báo cáo CSR” sẽ nhận được sự đồng cảm cao hơn các trường hợp khác Từ đó, người lao động sẽ cùng đồng tâm khắc phục vượt qua

Trang 27

những khủng hoảng, khó khăn Người tiêu dùng và đối tác sẽ ủng hộ, hỗ trợ trong việc tiêu thụ sản phẩm và cung cấp dịch vụ

Khảo sát của Vietnam Report vào tháng 2 năm 2018 nhận định, uy tín DN là động lực thúc đẩy DN thực hiện các hoạt động CSR Nói cách khác, chính CSR sẽ là bậc thang để DN thuyết phục niềm tin của người tiêu dùng và của cả cộng đồng Triển khai tốt CSR của DN không những sẽ giúp kinh doanh hiệu quả, mà còn hỗ trợ DN giải quyết những vấn đề mang tính chiến lược liên quan đến kinh doanh và các vấn đề

xã hội

Hình 2.3: Động lực thực hiện CSR trong DN

2.1.3 Các đối tượng thực hiện CSR của DN

Dựa trên định nghĩa CSR của WB (World Bank, 2010) do Nhóm phát triển kinh

tế tư nhân đề xuất, CSR của DN phải gắn liền với vấn đề phát triển bền vững Khi cạnh tranh ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi hỏi từ khách hàng ngày càng cao thì xã hội ngày càng khắt khe hơn đối với DN về bổn phận và trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội Các DN muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ không chỉ những chuẩn mực về bảo đảm sản xuất, kinh doanh phải có lợi nhuận mà còn cả những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, về thực hiện bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, quyền lợi đào tạo và phát triển của nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng và các hoạt động thực hiện an sinh xã hội như

Trang 28

nhân đạo, từ thiện… Hiểu theo nghĩa hẹp, DN cần thực hiện CSR đối với người lao động, với người tiêu dùng, với cộng đồng và bảo vệ môi trường

* CSR đối với người lao động

Tiêu chuẩn đánh giá thực hiện CSR đối với người lao động gồm trả lương xứng đáng, đảm bảo các chế độ phúc lợi, người lãnh đạo lắng nghe nhân viên, sự thăng tiến, không phân biệt đối xử (giới tính, tuổi tác và sức khỏe…), các nội dung trong hợp đồng lao động được kí kết đầy đủ theo Luật Lao động, xây dựng điều khoản và kí kết thỏa ước lao động tập thể tốt hơn so với Luật quy định, tuân thủ an toàn vệ sinh lao động, có chính sách đãi ngộ và đào tạo tốt, nâng cao hơn chất lượng cuộc sống và sức khỏe cho người lao động và người thân của họ, hỗ trợ người lao động thực hiện tốt hơn luật pháp lao động và mở rộng hơn khả năng bảo hiểm và có điều kiện làm việc chấp nhận được… Người lao động gắn bó với DN và yêu thích công việc của mình phần lớn do điều kiện lao động tốt và chế độ lương thưởng hợp lí DN đáp ứng được các yêu cầu này cũng đồng nghĩa với việc tạo ra được một đội ngũ nhân sự gắn bó, yêu thích công việc, tự hào về hình ảnh DN và quyết tâm làm việc vì lợi ích chung của

DN Lợi ích đạt được ở đây ngoài năng suất lao động được nâng lên rõ rệt còn có một văn hóa gắn kết tại DN là điều mọi DN đều mong muốn xây dựng được Chính sách đãi ngộ tốt, văn hóa tốt và môi trường làm việc tốt sẽ tạo hiệu ứng cộng hưởng để thu

hút nhân lực giỏi tìm đến DN

* CSR đối với người tiêu dùng

CSR đối với NTD thể hiện ở việc bán sản phẩm có chất lượng tốt (thỏa mãn nhu cầu, an toàn cho người sử dụng, giá cả phải chăng), chất lượng dịch vụ (giao hàng đúng hẹn, cam kết về chính sách khuyến mãi đối với NTD, thực hiện đúng chính sách chăm sóc, bảo dưỡng, bảo hành, bảo trì đối với sản phẩm, hàng hóa bán ra, tư vấn chi tiết trước, trong và sau bán hàng), quảng cáo đúng với chất lượng sản phẩm được ghi trong bao bì, thu hồi và đền bù thỏa đáng các sản phẩm kém chất lượng, sản xuất sản phẩm thân thiện với môi trường, hướng đến cộng đồng

Chất lượng sản phẩm mới chỉ là khâu ban đầu để NTD quyết định mua, tuy nhiên để NTD trung thành DN cần phải quan tâm đến xây dựng các chính sách về dịch

vụ trước, trong và sau bán hàng Thực tế cho thấy, rất nhiều DN chỉ làm tốt khâu bán hàng nhưng đến các dịch vụ bảo dưỡng, bảo trì, chăm sóc NTD lại yếu, hoặc có làm nhưng chỉ chiếu lệ, hình thức và đôi khi còn bắt chẹt NTD Ngày nay, mối quan tâm của NTD đã vượt xa khỏi chất lượng sản phẩm nghĩa là họ còn có nhu cầu về sản phẩm thân thiện với môi trường, hướng đến cộng đồng

Trang 29

CSR đối với NTD còn là việc đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm như số lượng, chất lượng, thành phần, nguồn gốc xuất xứ của nguyên nhiên vật liệu, thời hạn sử dụng, thời gian bảo hành, bảo dưỡng, bảo trì… Những điều kiện đó cần được thực hiện đầy đủ, không được gian lận, lừa dối Cho nên, các DN phải thực hiện nghiêm các quy định về chất lượng hàng hóa sản phẩm để đảm bảo quyền lợi của NTD Thực tế cho thấy, nếu sản phẩm có chất lượng tốt và an toàn, đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng, khi đó hình ảnh về sản phẩm và DN sẽ lưu giữ trong tâm trí người tiêu dùng Trong kinh doanh, hiệu ứng Donimo tâm lý có sức lan tỏa rất mạnh, qua các “thông tin truyền miệng” của người tiêu dùng Vì vậy, việc giữ chân người tiêu dùng và mở rộng thị phần là mục tiêu của tất cả các DN Nếu DN xây dựng được thương hiệu và niềm tin của NTD, việc sản xuất kinh doanh sẽ phát triển bền vững Trên thế giới, DN muốn tiêu thụ được sản phẩm, dịch vụ phải đáp ứng các yêu cầu và tuân thủ nhiều điều kiện trong sản xuất, kinh doanh và chất lượng sản phẩm Bên cạnh

đó còn có nhiều tổ chức thường xuyên kiểm định chặt chẽ các hoạt động sản xuất kinh doanh để bảo đảm chất lượng của sản phẩm hàng hóa

* CSR đối với cộng đồng

CSR đối với cộng đồng được thể hiện ở các hoạt động như giải quyết việc làm cho người dân địa phương, quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, thực hiện xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, đóng góp cho các dự án cộng đồng, thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người dân địa phương, chính sách đối với những nạn nhân chất độc màu da cam, những nạn nhân chiến tranh, quan tâm đến các bà mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng, ủng hộ đồng bào bão lụt, hỗ trợ các hoạt động phát triển kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội và thể thao địa phương, hỗ trợ đồng

bào dân tộc, vùng sâu vùng xa

Nhiều nhà quản lý vẫn đang hiểu đơn giản CSR là làm từ thiện, cách hiểu này là chưa đầy đủ Làm từ thiện cũng là hành động đáng tôn vinh của các doanh nghiệp nhằm phát triển cộng đồng, giúp đỡ người nghèo khó và xây dựng hình ảnh Tuy nhiên, làm từ thiện thôi chưa đủ và làm từ thiện nhưng lại vi phạm các hoạt động khác của thực hiện CSR thì vẫn bị xem là chưa thực hiện CSR

* CSR đối với môi trường

Thực hiện CSR của DN không chỉ là những vấn đề về lao động, người tiêu dùng, cộng đồng mà các DN còn cần phải quan tâm bảo vệ môi trường Hơn nữa, các

DN cần có trách nhiệm bảo vệ môi trường chung của quốc gia và toàn cầu Các DN cần nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường xung quanh như bảo vệ môi trường đất, nước, không khí, tiếng ồn…

Trang 30

Môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt, khí hậu thay đổi…là những vấn đề đang gây sốt toàn thế giới Bên cạnh việc tuân thủ các quy định của chính phủ, các DN cần quan tâm đến sản xuất sản phẩm sạch, không gây ô nhiễm môi trường và thực hiện các giải pháp tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu; tái sử dụng phế liệu, chất thải, sử dụng năng lượng tái tạo; giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm; thực hiện các sáng kiến thay thế dần các nguyên phụ liệu độc hại, gây ô nhiễm sang các loại ít độc hại/không độc hại; bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người

2.2 Tổng quan nghiên cứu về CSR trong các DN

2.2.1 Các khái niệm quan trọng

* CSR và các cấu phần của CSR

Các nghiên cứu về CSR của DN (Corporate Social Responsibility – CSR) đến nay vẫn đang là mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu CSR và các khái niệm liên quan như: tư cách công dân của DN (DN được coi như một công dân, có tư cách như một công dân), hiệu quả xã hội của DN…là lĩnh vực nghiên cứu nhận được sự quan tâm cả lý thuyết và thực tiễn (Carroll, 1979) Đặc biệt là những năm gần đây, khi thế giới liên tục nảy sinh các vấn đề như: sự sụp đổ của ngành viễn thông năm 2000, khủng hoảng tài chính những năm 2008, sự cố tràn dầu ở vịnh Mexico, sự sụt giảm của giá dầu, các cuộc chiến tranh, xung đột trên khắp thế giới càng làm cho CSR được chú ý hơn (McManus, 2008) Các lý thuyết về CSR có tính kế thừa cao, các nhà nghiên cứu đã thường xuyên cập nhật, kiểm tra các đề xuất đồng thời đưa các cấu trúc mới, các mối liên hệ mới của CSR (Bakker et al., 2005) Trong các nghiên cứu của mình, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các quan điểm của mình về CSR của DN Theo

đó thì CSR của DN là một khái niệm rộng (White et al., 2017), bao hàm từ tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường, quyền và phúc lợi của người lao động, tham nhũng, quản trị DN (White et al., 2017), tăng trưởng kinh tế, đạo đức, tuân thủ luật pháp và tình nguyện thực hiện các thông lệ, các vấn đề đạo đức dù không bị ép buộc, không phải nhiệm vụ (Galbreath, 2010)

Trang 31

Trong các quan điểm mà các nhà nghiên cứu đưa ra về thành phần của CSR, quan điểm của Carroll (1979) dường như nhận được nhiều sự đồng thuận từ các nhà nghiên cứu nhất (Galbreath, 2010) Theo Carroll, CSR bao gồm bốn lĩnh vực chính gồm: trách nhiệm với tăng trưởng kinh tế, trách nhiệm tuân thủ luật pháp, trách nhiệm với các vấn đề đạo đức và cuối cùng là trách nhiệm tình nguyện Trong đó, trách nhiệm với tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng nhất, thứ đến là trách nhiệm tuân thủ luật pháp, tiếp theo là trách nhiệm đạo đức, cuối cùng là trách nhiệm tình nguyện (Carroll, 1979) Cũng theo Carroll, trách nhiệm kinh tế là trách nhiệm đầu tiên và trước hết của DN, đó là vấn đề tự nhiên mang tính bản chất, DN được giả định là có trách nhiệm sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội mong muốn (Galbreath, 2010), sau đó bán chúng để thu về lợi nhuận (Carroll, 1979) và qua đó làm tăng trưởng kinh

tế nói chung (Galbreath, 2010)

Trách nhiệm pháp lý, song song việc xã hội tán thành với vai trò của DN là sản xuất, kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận, xã hội cũng đặt ra những quy tắc cơ bản (luật pháp) dựa vào đó mà DN vận hành Xã hội mong muốn các DN hoàn thành nhiệm vụ kinh tế trong các khuôn khổ pháp lý, nói cách khác là đáp ứng các trách nhiệm về kinh

tế và pháp lý một cách đồng thời (Carroll, 1979, Galbreath, 2010)

Đứng thứ ba về mức độ quan trọng trong các CSR mà DN cần phải đáp ứng theo Carroll là trách nhiệm đạo đức Mặc dù cả trách nhiệm về kinh tế cũng như trách nhiệm về luật pháp đều thể hiện một góc độ nào đó của trách nhiệm đạo đức (Carroll, 1979) Tuy nhiên, trách nhiệm đạo đức vẫn có những điểm khác biệt đó là những mong đợi của xã hội mà không được quy định thành luật, đòi hỏi DN phải đáp ứng những yêu cầu, chuẩn mực cao hơn là luật pháp (Carroll, 1979) đó chính là các quy tắc đạo đức và chính các quy tắc này xác định các hành vi được coi là chuẩn mực ứng xử của xã hội (Galbreath, 2010)

Khía cạnh cuối cùng về CSR trong mô hình của Carroll là trách nhiệm tình nguyện, đây là các trách nhiệm đòi hỏi sự tuân thủ của các DN là ít nhất, còn ít hơn các trách nhiệm đạo đức Đây là những lựa chọn mang tính cá nhân (không hay ít chịu áp lực từ xã hội, luật pháp…), các DN có thể lựa chọn tuân theo hoặc không

mà không phải chịu sức ép nào, tất nhiên nếu họ thực hiện trách nhiệm này phần thưởng sẽ là sự hoan nghênh của xã hội, vì vậy việc thực hiện các trách nhiệm này còn mang tính tình nguyện Trách nhiệm tình nguyện là các trách nhiệm mà xã hội không bắt buộc, pháp luật không yêu cầu, thậm chí hoàn toàn không tổn hại đến đạo đức nếu không thực hiện (Galbreath, 2010, Carroll, 1979) Đó có thể là đóng

Trang 32

góp từ thiện, đào tạo cho những người khó có khả năng lao động, trợ giúp những người nghiện ma túy (Carroll, 1979), đầu tư vào các công trình phúc lợi ở địa phương (Galbreath, 2010)

Sơ đồ 2.1: Mô hình kim tự tháp của Carroll

Nguồn: A Three-Dimensional Conceptual Model of Corporate Performance, 1979

Mặc dù, các trách nhiệm này của CSR có mức độ yêu cầu khác nhau từ các lực lượng xã hội, tuy nhiên các trách nhiệm này kết hợp với nhau tạo nên một bức tranh toàn cảnh về các mong đợi của xã hội đối với các DN (Carroll, 1979) và có vai trò như nhau đối với việc xác định CSR của DN (Maignan and Ferrell, 2000, Maignan and Ferrell, 2001, Maignan et al., 1999, Galbreath, 2010)

* CSR và thực hiện CSR

Như trên đã nói, CSR là một trong các nội dung rất được các nhà nghiên cứu chú ý đến và trong các nghiên cứu của mình họ cũng đều đưa ra các quan điểm của cá nhân về CSR

Trong khuôn khổ luận án này, tác giả sử dụng khái niệm CSR của Maignan và cộng sự, được xây dựng dựa trên quan điểm của Carroll về thành phần cấu tạo của

CSR, theo đó “CSR của một DN là mức độ mà DN đó đáp ứng những trách nhiệm về

kinh tế, luật pháp, đạo đức và những trách nhiệm mang tính tình nguyện khác mà những người liên quan mong đợi ở họ” (Maignan et al., 1999, Maignan and Ferrell,

2000, Maignan and Ferrell, 2001, Galbreath, 2010) Trong đó, Maignan và cộng sự

Trang 33

cho rằng CSR là mức độ đáp ứng với đòi hỏi của xã hội nói chung, như vậy, khái niệm

này đã bao hàm sự thực hiện CSR của DN Nói cách khác, khái niệm CSR cũng chính

là khái niệm thực hiện CSR

2.2.2 Các hướng nghiên cứu về thực hiện CSR trong các DN

Tuy có rất nhiều nghiên cứu về CSR, nhưng tựu trung lại, các nghiên cứu thường có hai hướng chính là các kiến thức lý thuyết CSR và truyền thông, công bố CSR Những nghiên cứu hướng tới truyền thông và công bố CSR thường nhắm tới tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới việc DN quyết định truyền thông, công bố về mức độ thực hiện CSR tới những người liên quan (khách hàng, các nhà hoạt động xã hội, các

cơ quan quản lý nhà nước…) Ở góc độ khác, các nghiên cứu về kiến thức lý thuyết CSR, thường được chú trọng hơn (Alcañiz et al., 2010), với mối quan tâm chính của các nghiên cứu này là tìm hiểu xem những yếu tố nào ảnh hưởng tới và bị ảnh hưởng bởi mức độ thực hiện CSR của các DN Các nghiên cứu về kiến thức lý thuyết này lại được chia làm hai nhánh Đầu tiên là các nghiên cứu dành sự quan tâm tới các yếu tố thúc đẩy DN thực hiện CSR (đầu vào của CSR), như các nghiên cứu của: (Schouten et al., 2014); (Zheng and Zhang, 2016); (Zheng and Zhang, 2016); (El-Bassiouny and Letmathe, 2018); (Khurshid et al., 2018); (Pasricha et al., 2018); (Shnayder and Rijnsoever, 2018)… Nhánh thứ hai là các nghiên cứu hướng sự tập trung vào kết quả của việc thực hiện CSR (đầu ra của CSR), như các nghiên cứu của: (Pérez and Bosque, 2013); (El-Kassar et al., 2017); (Wood et al., 2018) Mục tiêu là tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện CSR của các DN, tác giả lựa chọn các tiếp cận theo đầu vào, tức là đặt trọng tâm nghiên cứu xem có những nhân tố nào ảnh hưởng tới thực hiện CSR của các DN cho luận án của mình

2.2.3 Lý thuyết được sử dụng trong các nghiên cứu về thực hiện TNXH

Hiện nay, các lý thuyết được sử dụng để nghiên cứu về thực hiện CSR của DN khá đa dạng, nhưng được nhà nhiều nghiên cứu sử dụng là hai lý thuyết chính, gồm:

Mô hình kim tự tháp CSR của Carroll (1979) và thuyết Quản trị các bên liên quan của Freeman (1984) (Pérez and Bosque, 2013)

2.2.3.1 Thuyết quản trị các bên liên quan (Stakeholder Managemant Theory) của Freeman

Các bên liên quan là khái niệm đầu tiên được định nghĩa bởi Freeman, theo

Freeman thì các bên liên quan là “bất kỳ nhóm hay cá nhân nào bị ảnh hưởng bởi hoặc có

thể ảnh hưởng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức” (Freeman and McVea, 2001) Các

Trang 34

bên liên quan có thể là: cổ đông, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng và các nhóm khác (Freeman and McVea, 2001) Một cách tự nhiên, xuất phát từ định nghĩa trên, các bên liên quan là một trong các lý thuyết nền tảng mà các nhà nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu về CSR Nói cách khác, CSR của DN trong nền kinh tế đòi hỏi phải liên kết các hoạt động của DN với kỳ vọng về xã hội, kinh tế, môi trường của các bên liên quan (Kanji and Chopra, 2010) Theo Freeman thì chính các nghiên cứu về CSR đã nhấn mạnh vai trò của các bên liên quan và gây dựng mối quan hệ tốt đối với các nhóm, cá nhân này sẽ đảm bảo sự thành công lâu dài của DN (Freeman and McVea, 2001) Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào xã hội, các DN ít quan tâm tới các bên liên quan đã phải chịu những thiệt hại nặng nề Nên ngày càng nhiều DN tích hợp việc quản trị các bên liên quan thông qua thực hiện CSR vào mục tiêu hoạt động của mình (Freeman and McVea, 2001) Quan điểm này của Freeman nhận được sự đồng tình của một số nhà nghiên cứu, tiêu biểu cho những nghiên cứu đi theo hướng này, như: (Clarkson, 1995); (Decker, 2004); (Maignan and Ferrell, 2004)…

Hình 2.4: Mô hình quyền lực của các bên hữu quan

Nguồn: R Edward Freeman, Andrew C Wicks, Bidhan Parmar, (2004) “Stakeholder Theory” and “The Corporate Objective Revisited”, Organization Science Vol 15(3),

pp 364-369

Các nhóm chính trị

Tổ chức

Các cổ đông Chính phủ

Nhà cung

cấp

Hiệp hội thương

Khách hàng

Người lao động

Trang 35

2.2.3.2 Mô hình CSR kim tự tháp (CSR Pyramidal Model) của Carroll

Đây là một lý thuyết nền tảng đã được nhắc nhiều ở trên, được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu dựa trên mô hình này Carroll đã đưa ra bốn khái niệm cấu thành CSR, gồm: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm luật pháp, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tình nguyện Dựa trên áp lực của xã hội thể hiện qua mức độ mong đợi DN thực hiện các trách nhiệm này, Carroll đã xếp bốn trách nhiệm trên theo chiều từ dưới lên trên như một hình kim tự tháp, với đáy là trách nhiệm kinh tế được coi là nền tảng và được trông đợi nhất, sau đó là trách nhiệm luật pháp, trách nhiệm đạo đức và xếp trên cùng với ý nghĩa ít được trông đợi nhất là trách nhiệm tình nguyện (Carroll, 1979) Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các nghiên cứu

về CSR, vẫn kế thừa mô hình của Carroll, Maignan và cộng sự đã đưa ra quan điểm được nhiều sự ủng hộ các nhà nghiên cứu khác, phù hợp với yêu cầu đo lường CSR trên thực tế, đó là bốn thành phần cấu thành của CSR có vai trò như nhau (Maignan et al.,

1999, Maignan and Ferrell, 2000, Galbreath, 2010) Đồng thời, Maignan và cộng sự cũng đưa ra định nghĩa về CSR, tạo cơ sở lý thuyết vững chắc cho các nghiên cứu sau này (Galbreath, 2010) Rất nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng mô hình kim tự tháp về CSR của Carroll trong các nghiên cứu của mình về thực hiện CSR ở các lĩnh vực khác nhau, ở các nền văn hóa khác nhau, như: (Wartick and Cochran, 1985); (Maignan et al., 1999); (Joyner and Payne, 2002); (Schwartz and Carroll, 2003); (Galbreath, 2010)…

2.2.3.3 Kết hợp sử dụng cả hai lý thuyết Mô hình kim tự tháp của Carroll và Quản trị các bên liên quan của Freeman

Luận án kế thừa cơ sở lý thuyết của cả hai lý thuyết nền tảng trên, với cốt lõi là

mô hình Kim tự tháp của Carroll về các thành phần cấu tạo của thực hiện CSR (Carroll, 1979), được điều chỉnh vai trò của các thành phần này trong tổng thể bởi Maignan và cộng sự (Maignan et al., 1999, Maignan and Ferrell, 2000) Còn các nhân

tố tác động tới thực hiện CSR lại dựa trên cơ sở lý thuyết về Quản trị các bên liên quan của Freeman Hầu hết các nghiên cứu tiếp cận theo mô hình kim tự tháp của Carroll đều đi theo hướng kết hợp này ((Maignan et al., 1999); (Maignan and Ferrell, 2000); (Maignan and Ferrell, 2001); (Joyner and Payne, 2002); (Schwartz and Carroll, 2003); (Galbreath, 2010)…) Đồng thời, hai lý thuyết này cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện tại nhiều nền văn hóa, nhiều bối cảnh kinh tế khác nhau Do đó, tác giả đã quyết định lựa chọn mô hình của Carroll và định nghĩa có điều chỉnh của Maignan và cộng sự về thực hiện CSR, kết hợp với lý thuyết quản trị các bên liên quan của Freeman trong nghiên cứu làm nền tảng lý thuyết của mình

Trang 36

2.2.4 Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện CSR

Tùy thuộc vào hướng tiếp cận, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các mô hình với các biến ngoại sinh khác nhau tham gia vào ảnh hưởng tới việc thực hiện CSR của

DN Trong đó hoạch định chiến lược được đề xuất là một biến độc lập đóng vai trò quan trọng để giải thích mức độ thực hiện CSR của DN Chiến lược kinh doanh và CSR có xu hướng ngày càng giao thoa, tích hợp, hội tụ với nhau (McManus, 2008) Tiếp theo là văn hóa doanh nghiệp, trong đó đặc biệt quan tâm đến văn hóa nhân văn của doanh nghiệp, được xem là có ảnh hưởng đến thực hiện CSR của DN Bởi vì các giá trị, các niềm tin, sự chia sẻ các hoạt động ảnh hưởng đến hành vi, do đó văn hóa nhân văn có liên quan đến thực hiện CSR của DN (Wood, 1991; (Galbreath, 2010)

2.2.4.1 Hoạch định chiến lược

Hoạch định chiến lược là một yếu tố được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến như

là một thành phần quan trọng ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN Một trong các phương cách chính để các bên liên quan, như: người tiêu dùng, nhà cung cấp, các tổ chức xã hội, các cơ quan quản lý, cổ đông, người lao động… mong muốn hay tạo áp lực lên thực hiện CSR của DN bằng việc yêu cầu các DN phải tăng cường hoạch định chiến lược hướng tới họ (Galbreath, 2010, Carroll and Hoy, 1984) Thông qua đánh giá môi trường cả bên trong và bên ngoài, DN sẽ tăng cường thực hiện một số vấn đề

có tính chất phi thị trường, như: hành xử có CSR với cộng đồng và môi trường tự nhiên (Fineman and Clarke, 1996) Nói cách khác, các DN phát triển các nghiên cứu

về môi trường kinh doanh, sau đó thể hiện vào trong định hướng chiến lược của mình

và đồng thời đưa ra các phản ứng phù hợp bằng cách thực hiện các CSR của DN (Galbreath, 2010, Carroll and Hoy, 1984, Burke and Logsdon, 1996)

Theo các nhà nghiên cứu, chiến lược có hai phương pháp xây dựng Thứ nhất là phương pháp xây dựng chỉ đơn thuần dựa trên kinh nghiệm, không mang tính nhất quán, không có kế hoạch (Galbreath, 2010) Thứ hai là phương pháp xây dựng mang tính kế hoạch cao, xây dựng chiến lược được coi là một việc thường xuyên, lặp đi lặp lại, toàn diện và có hệ thống Với phương pháp xây dựng chiến lược thứ hai, hoạch định chiến lược thực sự đóng vai trò ảnh hưởng tới việc thực hiện CSR của DN (Galbreath, 2010, Kalyar et al., 2012) Hoạch định chiến lược chính thức, thực sự tạo điều kiện cho nhà quản lý xác định con đường chiến lược đúng đắn và thích hợp cho doanh nghiệp (Andersen, 2000)

Theo các nhà nghiên cứu, các bên liên quan thường được chia thành hai nhóm, bên ngoài, gồm: người tiêu dùng, nhà cung ứng, chính phủ, các tổ chức đoàn thể, xã

Trang 37

hội, môi trường… và bên trong DN, như: cổ đông, người lao động, nhà quản lý, văn hóa doanh nghiệp… Hai nhóm này lại có hai yêu cầu khác nhau về CSR mà DN phải thực hiện để đáp ứng yêu cầu của họ, đòi hỏi hoạch định chiến lược của DN phải hướng về phía họ Điều này có nghĩa, các DN phải xây dựng chiến lược của mình hướng theo đồng thời hai khía cạnh bên trong và bên ngoài Do đó, hoạch định chiến lược được xem xét dưới hai góc độ, hai xu hướng quan trọng là: hoạch định chiến lược định hướng bên trong và hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài, đây cũng chính

là hai thành phần quan trọng của hoạch định chiến lược (Galbreath, 2010, Kalyar et al., 2012)

Trong hai yếu tố thành phần của định hướng chiến lược, nghiên cứu của Kalyar

và cộng sự (2012) trên mẫu 172 nhà quản lý cấp cao ở Pakistan đã kết luận, chiến lược định hướng bên trong ảnh hưởng ổn định và mạnh mẽ (mạnh hơn so với hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài) tới mức độ thực hiện CSR của DN, với hệ số β chuẩn hóa = 392, p < 0.01 (Kalyar et al., 2012) Kết quả tương tự về ảnh hưởng của hoạch định chiến lược là tích cực tới thực hiện CSR, cũng được Torugsa và cộng sự khẳng định trong nghiên cứu tiến hành trên 171 DN vừa và nhỏ ở Australia (Torugsa et al., 2012), hay nghiên cứu của Galbreath (2010) cũng khẳng định hoạch định chiến lược, cụ thể là chiến lược định hướng bên trong và định hướng bên ngoài đều có tác động (dù ở mức không cao, β chuẩn hóa lần lượt = 0.12 và 0.11, p

< 0.05) tới mức độ thực hiện CSR của DN Nghiên cứu trên các DN Ấn Độ cũng khẳng định thực hiện CSR của DN sẽ bị cản trở nếu DN không lập kế hoạch chiến lược (Goyal and Kumar, 2017)

Trong khi, ở các nước phương tây, vai trò của hoạch định chiến lược đối với thực hiện CSR được nghiên cứu khá nhiều, thì ở Việt Nam các nghiên cứu về CSR nói chung, theo hiểu biết của tác giả, kể cả các nghiên cứu về CSR đứng trên góc độ hoạch định chiến lược còn khá hạn chế

2.2.4.2 Văn hóa doanh nghiệp

Nhiều nghiên cứu đã hàm ý rằng, văn hóa doanh nghiệp cũng là một yếu tố ảnh hưởng mạnh tới việc thực hiện CSR của DN (Galbreath, 2010, Wood, 1991) Văn hóa

DN đề cập đến các giá trị, niềm tin mà các thành viên của DN nắm giữ (Kalyar et al., 2012) Các giá trị này định hình mức độ thực hiện các hành vi kinh doanh có trách nhiệm hoặc vô trách nhiệm (Kalyar et al., 2012), nó phản ánh ý thức trách nhiệm với các bên liên quan là điều kiện, tiền đề cho DN vừa thành công trong kinh doanh bền vững vừa đảm bảo hành vi đạo đức (Sinclair, 1993) Văn hóa DN cũng góp phần định

Trang 38

hình lên các hành vi đạo đức trong quảng cáo, trong đối xử với người lao động, với chất lượng sản phẩm và dịch vụ cũng như ứng xử với khách hàng (Herndon et al., 2001) Văn hóa DN cùng với định hướng văn hóa nhân văn của DN ảnh hưởng tới hiệu suất tổng thể của DN và bao gồm hai phần quan trọng là định hướng văn hóa và cường độ văn hóa đều ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN (Galbreath, 2010) Chẳng hạn, một định hướng văn hóa của DN mang tính cạnh tranh, cá nhân (tức là DN có văn hóa tập trung vào các thành tựu cá nhân, kiểm soát thay vì phát triển một môi trường hợp tác), các cá nhân trong DN sẽ có xu hướng đề cao và ưu tiên cho những thành quả của chính họ, DN của họ, xác suất của việc quan tâm tới người khác, tới lợi ích của người khác ít được coi trọng hơn Hậu quả là nhu cầu và lợi ích của cộng đồng, của các bên liên quan nhiều khả năng bị bỏ qua và gắn với đó là một mức thực hiện CSR thấp (Galbreath, 2010, Kalyar et al., 2012) Thêm nữa, trong các khía cạnh về văn hóa, văn hóa nhân văn được coi là một khía cạnh đóng vai trò chủ yếu trong DN, đó là sự tập trung vào con người, hợp tác, làm việc nhóm, đồng cảm và hợp tác, là sự chăm sóc lẫn nhau gắn với việc các thành viên kỳ vọng và được kỳ vọng sẽ hỗ trợ và cởi mở trong các mối quan hệ với nhau (Kalyar et al., 2012) Văn hóa nhân văn mang tính xây dựng, hợp tác hơn là cạnh tranh, làm cho các mối quan hệ giữa các thành viên trong

DN và giữa DN với các bên liên quan trở nên hài hòa, dễ chịu hơn Do đó, khi văn hóa nhân văn được chú trọng, các thành viên và DN không chỉ quan tâm tới nhu cầu và lợi ích riêng của họ mà còn quan tâm và thực hiện các hành vi mang lại lợi ích cho xã hội

và các bên liên quan (Galbreath, 2010) và đó là cơ sở của việc thực hiện CSR trong các DN (Kalyar et al., 2012)

Nghiên cứu của Kalyar và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng, yếu tố văn hóa nhân văn là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới mức độ thực hiện CSR của DN, với β = 642, p

< 0.001 (Kalyar et al., 2012) Kết quả nghiên cứu của Kalyar và cộng sự nhận được sự ủng hộ của Galbreath (2010) khi nghiên cứu trên 3.000 DN ở Australia, cũng tương tự Galbreath thấy rằng nhân tố văn hóa nhân văn tác động mạnh nhất tới mức độ thực hiện CSR của các DN (gồm 1500 DN dịch vụ và 1500 DN sản xuất) ở Úc, với β chuẩn hóa = 0.51, p < 0.01 Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Bowrin trên bốn nước vùng Caribbean dường như lại không ủng hộ sự ảnh hưởng của văn hóa DN tới CSR và trách nhiệm công bố CSR (Bowrin, 2013)

Tran và Jeppesen (2016) trong nghiên cứu ở Việt Nam về CSR cũng đã đề cập tới sự ảnh hưởng của văn hóa DN tới thực hiện CSR của DN Tuy nhiên, theo các tác giả thì các kỳ vọng về văn hóa DN và xã hội chỉ ảnh hưởng tới các CSR không chính thức và nghiên cứu này mới chỉ dừng ở định tính (Tran and Jeppesen, 2016)

Trang 39

2.2.4.3 Thời gian hoạt động, số lượng lao động, doanh thu

Các DN lớn thường có xu hướng thực hiện CSR nhiều hơn, do họ có tác động tới xã hội lớn hơn là các DN nhỏ (Cowen et al., 1987) Thường quy mô của DN được thể hiện dưới hai góc độ chính, là: số lượng lao động và quy mô vốn Hai yếu tố này lại chịu tác động mạnh của thời gian hoạt động của DN, thời gian hoạt động của DN càng dài thì quy mô của DN càng lớn (Zheng and Zhang, 2016) và thời gian hoạt động của DN thường được tính bằng số năm hoạt động của DN (Pasricha et al., 2018) Các yếu tố này thường đóng vai trò là các biến kiểm soát quan trọng ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN (Pasricha et al., 2018, Schouten et al., 2014, Shnayder and Rijnsoever, 2018) Đặc biệt với các DN dệt may, là ngành công nghiệp sử dụng rất nhiều lao động, số lượng lao động dường như đóng một vai trò lớn hơn đối với việc thực hiện CSR, nhất là khi người lao động lại là một trong các đối tượng chính thụ hưởng lợi ích từ các chính sách, hoạt động CSR của DN Ngoài ra, việc thực hiện CSR của các DN dệt may Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào luật pháp của đất nước mà DN xuất khẩu sản phẩm, do đó, DN càng có quy mô doanh thu lớn thì càng chịu sự tác động từ phía khách hàng, chính phủ của nước nhập khẩu về thực hiện CSR (Galbreath,

2010, Maignan and Ferrell, 2000, Maignan et al., 1999) Như vậy, có thể nói, với DN dệt may thì: số lượng lao động, số năm hoạt động và doanh thu có khả năng sẽ ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN

2.2.5 Khoảng trống nghiên cứu

Dựa trên tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy, tuy

là một mảng nghiên cứu quan trọng, nhưng dường như các yếu tố đầu vào của CSR chưa được các nhà nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam chú ý nhiều Phần lớn các nghiên cứu theo hiểu biết của tác giả đều hướng trọng tâm vào nghiên cứu lợi ích của thực hiện CSR như: CSR với hiệu quả hoạt động của DN; CSR là nguyên nhân đưa đến sự bền vững trong tăng trưởng (Long, 2015); CSR tăng cường khả năng quản trị

DN (Luu, 2012a); CSR và truyền thông CSR (Bilowol and Doan, 2015); CSR với thương hiệu (Luu, 2012b); CSR với tăng cường học tập và chia sẻ tri thức, từ đó tăng khả năng cạnh tranh (Luu, 2013a, Luu, 2013b)…Từ đó các nhà nghiên cứu lập luận rằng: sự mong đợi từ các lợi ích thu được khi thực hiện CSR, như các giá trị gia tăng

từ cổ đông; sự thiện chí của khách hàng … sẽ thúc đẩy các DN nâng cao mức độ thực hiện CSR (Long, 2015) Tuy nhiên, theo tác giả thì các kết quả không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích, nhất là các lợi ích trước mắt cho DN, do đó các DN vẫn có thể không thực hiện CSR của mình, nhất là thực tế vẫn còn nhiều DN Việt Nam cho rằng CSR là một sự lãng phí, xa xỉ của các nước phát triển (Bilowol and Doan, 2015) Vì

Trang 40

vậy, nghiên cứu về các yếu tố đầu vào của CSR vẫn hết sức cần thiết và với các nghiên cứu hiện nay về CSR ở cả các nước phương Tây và các nước đang phát triển như Việt Nam thì nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN nói chung, trong đó các nhân tố như hoạch định chiến lược và văn hóa nhân văn của DN ảnh hưởng tới thực hiện CSR nói riêng, vẫn là một khoảng trống cần phải có thêm các nghiên cứu để bổ sung các hiểu biết về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR trong

DN

2.2.6 Mô hình, giả thuyết nghiên cứu và thang đo

2.2.6.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

Dựa trên tổng quan, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu ảnh hưởng của các nhân tố hoạch định chiến lược và văn hóa nhân văn của DN tới mức độ thực hiện CSR của các DN trong Vinatex như sau:

Hình 2.5: Mô hình nghiên cứu dự kiến

Nguồn: Từ tổng quan của tác giả

Căn cứ vào mô hình nghiên cứu dự kiến và tổng quan các nghiên cứu trước, tác giả đưa ra các giả thuyết nghiên cứu sau:

H1: Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài ảnh hưởng tích cực tới thực hiện CSR của DN trong Vinatex

Hoạch định chiến lược

định hướng bên ngoài

Hoạch định chiến lược

định hướng bên trong

Văn hóa nhân văn của

doanh nghiệp

Thực hiện trách nhiệm

xã hội của các DN thuộc Vinatex

Biến kiểm soát:

Số lượng lao động Doanh thu

Số năm hoạt động

Ngày đăng: 22/01/2020, 15:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm