1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm hoạt tính một số yếu tố đông máu ở thai phụ qua từng thời kì

7 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 338,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm mục tiêu mô tả sự thay đổi hoạt tính một số yếu tố đông máu ở phụ nữ mang thai và mối liên quan với tuổi thai. Nghiên cứu tiến hành 273 thai phụ khám tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 5/2011 đến 11/2012.

Trang 1

Ở THAI PHỤ QUA TỪNG THỜI KÌ 

Phạm Quang Vinh*, Nguyễn Huy Bạo**, Nguyễn Tuấn Tùng*, Đỗ Tiến Dũng*  

TÓM TẮT 

Rối loạn đông cầm máu trong sản khoa là biến chứng thường gặp. Nghiên cứu hoạt tính các yếu tố đông  máu trong quá trình mang thai là cần thiết, góp phần có biện pháp dự phòng chảy máu hay huyết khối khi sinh.  

Mục tiêu: Mô tả sự thay đổi hoạt tính một số yếu tố đông máu ở phụ nữ mang thai và mối liên quan với 

tuổi thai.  

Đối  tượng  và  phương  pháp: Mô tả ‐ cắt ngang, 273 thai phụ khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 

5/2011 đến 11/2012. 

 Kết  quả:  Ở  thai  phụ  3  tháng  đầu  thì  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông  máu  II,  V,  VII,  VIII,  IX,  X,  XI,  XII  là 

94,91%; 73,99%; 87,86%; 68,30%; 74,95%; 96,89%; 82,5%; 56,38%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố V, VIII, 

XI, XII giảm, lần lượt là 12,1 %, 26,4%; 12,1% và 54,9%. Ở thai phụ 3 tháng giữa thì hoạt tính các yếu tố đông  máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI, XII là 98,55%; 66,12%; 133,94%; 88,33%; 79,26%; 114,46%; 80,21%; 81,56%. 

Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố VII, X tăng là 28,8% và 11,2%. Hoạt tính yếu tố V, XI và XII giảm lần lượt là:  31,2 %; 25% và 21,6 %. Ở thai phụ 3 tháng cuối thì hoạt tính các yếu tố đông máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI,  XII là 93,41%; 79,36%; 155,93%; 123,75%; 108,64%; 136,45%; 87,36%; 121,93%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính  yếu tố VII, X, VIII và XII tăng lần lượt là: 36,3%; 25,5%; 27,5% và 17,6%. Thai phụ có hoạt tính yếu tố V giảm 

là 13,7 %. Thời kì đầu mang thai có tỉ lệ đáng kể thai phụ giảm hoạt tính các yếu tố V, VIII, XI. Tuổi thai càng 

lớn thì hoạt tính yếu tố đông máu nội sinh VIII, IX, XI, XII và yếu tố đông máu ngoại sinh VII, X càng tăng. 

 Kết luận: Có xu hướng tăng đông ở phụ nữ mang thai, tuổi thai càng lớn thì số thai phụ có biểu hiện tăng 

đông càng nhiều.  

Từ khóa: yếu tố đông máu, thai phụ, tuổi thai 

ABSTRACT 

STUDY ON ACTIVATED CLOTTING FACTORS IN WOMEN WITH PREGNANCY 

Pham Quang Vinh, Nguyen Huy Bao, Nguyen Tuan Tung, Do Tien Dung  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 5 ‐ 2013: 277 ‐ 283 

Hemostatic  coagulation  disorders  in  obstetrics  are  common.  Research  activity  of  clotting  factors  during  pregnancy is necessary to take measures to prevent bleeding or thrombosis in the childbirth process.  

Objective: Describe some changes activity of clotting factors in pregnant women and the relationship with 

gestational age. 

Subjects and  methods273 pregnant women at Hanoi obstetrics and gynecology hospital from  January 5/2012 of May 12/2012; studies have cross‐sectional, descriptive.  

Results: In the first quarter pregnancy, the activity of clotting factors IIVVIIVIIIIXXXIXII 

is 94.91%, 73.99%, 87.86%, 68.3%, 74.95%, 96.89%, 82.5%, 56.38%. Pregnant women rate decreased  activity factors VVIIIXIXII is respective 12.1%, 26.4%, 12.1and 54.9%. 2nd quarter pregnancy: 

* Bệnh viện Bạch Mai  ** Bệnh viện Phụ sản Hà Nội 

Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Tuấn Tùng   ĐT: 0912 110 905   Email: tunghhbm@yahoo.com  

Trang 2

the activity of clotting  factors IIVVIIVIIIIXXXIXII is 98.55%, 66.12%, 133.94%, 88.33%;  79.26%, 114.46%, 80.21%, 81.56%. Percentage  of pregnant  women  with factor VII,  X increased  activity is 28.8% and 11.2%. The activity factors VXI and XII respectively reduced31.2%, 25and  21.6%. 3rd quarter pregnancy: the activity of clotting factors IIVVIIVIIIIXXXIXII is 93.41%,  79.36%, 155.93%, 123.75%; 108.64%, 136.45%, 87.36%, 121.93%. Percentage of pregnant women who  have activity  of factors VIIXVIII and XII increase respectively36.3%, 25.5%, 27.5and 17.6%.  13.7%  pregnant women with activity  of  factor V  was reducedThe  greater  gestational  age,  the  more  increased the activity of endogenous clotting factors VIIIIXXIXII and exogenous VIIX.  

Conclusion: There is increased clotting tendency in pregnant women, the greater gestational age,  the number of pregnant women more increased clotting.  

Keywords: clotting factors, pregnancygestational age. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Rối  loạn  đông  cầm  máu  là  biến  chứng  gặp 

trong  nhiều  bệnh  thuộc  các  chuyên  khoa  khác 

nhau. Bình thường, cơ thể luôn có khả năng tự 

điều hòa hệ thống đông cầm máu nhằm giữ cho 

hệ  thống  này  ở  trạng  thái  cân  bằng  động.  Khi 

trạng thái này bị phá vỡ, rối loạn  đông  máu  sẽ 

xảy  ra  với  các  biểu  hiện  như  chảy  máu,  huyết 

khối,  hoặc  vừa  chảy  máu  vừa  huyết  khối…, 

trong  đó  chảy  máu  đe  dọa  trực  tiếp  đến  tính 

mạng người bệnh(6,5). 

Trong  quá  trình  thai  nghén  có  sự  thay  đổi 

trong  cơ  thể  người  mẹ  để  phù  hợp  với  sự  xuất 

hiện  của  thai  nhi  và  hỗ  trợ  cho  thai  nhi  phát 

triển,  trong  đó  hệ  thống  đông  cầm  máu  cũng 

thay đổi. Tuy nhiên sự thay đổi này có thể gây 

ra những biến chứng nguy hiểm cho mẹ và thai. 

Chảy máu là một biến chứng rất nguy hiểm khi 

sinh  đẻ,  là  một  trong  những  nguyên  nhân  đe 

dọa đến tính mạng sản phụ trong khi mang thai 

và giai đoạn hậu sản. Trong sản khoa, cầm máu 

tốt  đóng  vai  trò  quan  trọng  trong  thành  công 

của  một  cuộc  sinh  nở.  Việc  hiểu  biết  rõ  hơn  về 

tình trạng đông cầm máu trong khi mang thai là 

cần thiết, giúp cho việc chẩn đoán sớm nguy cơ 

chảy máu trong và sau khi sinh(3,2,7).  

Nghiên  cứu  về  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông 

máu  trong  quá  trình  mang  thai  là  một  trong 

những  thăm  dò  góp  phần  hiểu  biết  rõ  hơn  về 

quá  trình  đông  cầm  máu  ở  thai  phụ  từ  đó  có 

những cảnh báo cần thiết khi sinh đẻ, làm giảm  thiểu những tai biến sản khoa. 

Vì  vậy  để  góp  phần  đánh  giá  tình  trạng  đông cầm máu ở phụ nữ có thai. Chúng tôi thực  hiện đề tài này với các mục tiêu sau: 

Mô tả đặc điểm hoạt tính một số yếu tố đông  máu  ở  phụ  nữ  có  thai  khám  tại  Bệnh  viện  Phụ  sản Hà Nội. 

 Tìm  hiểu  mối  liên  quan  giữa  sự  thay  đổi  hoạt tính các yếu tố đông máu với tuổi thai. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Nhóm thai phụ 

Gồm  273  thai  phụ,  trong  đó  91  thai  phụ  mang thai 3 tháng đầu, 80 thai phụ mang thai 3  tháng  giữa  và  102  thai  phụ  mang  thai  3  tháng  cuối đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ  tháng  5  năm  2011  đến  tháng  11  năm  2012  đủ  tiêu chuẩn nghiên cứu. 

* Tiêu chuẩn phân chia  tuổi  thai  (1) :  Quý  1  (ba 

tháng  đầu):  tuần  đầu  tiên  ‐  hết  tuần  13.  Quý  2  (ba  tháng  giữa):  tuần  thứ  14  đến  hết  tuần  27.  Quý 3 (ba tháng cuối): từ tuần thứ 28 trở lên. 

* Tiêu  chuẩn  loại  trừ:  Loại  trừ  khỏi  nhóm 

nghiên  cứu  các  thai  phụ:  có  tiền  sử  rối  loạn 

đông  máu,  dùng  các  thuốc  có  thể  ảnh  hưởng  đến đông máu.  

Nhóm chứng 

Gồm  45  phụ  nữ  khoẻ  mạnh:  không  mang  thai, có độ tuổi tương đương với nhóm thai phụ 

Trang 3

không  dùng  các  thuốc  có  thể  ảnh  hưởng  đến 

đông máu. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên  cứu  mô  tả  cắt  ngang  có  đối  chứng. 

Mỗi thai phụ có một phiếu nghiên cứu theo mẫu 

thống nhất. 

Các biến số nghiên cứu 

‐ Thông tin chung: Tuổi mẹ, tuổi thai, thứ tự 

lần sinh. 

‐ Thông số đông máu:  

+ Định lượng hoạt tính các yếu tố đông máu 

(YTĐM): II, V, VII, VIII, IX, X, XI, XII  

+  So  sánh  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông  máu 

giữa nhóm thai phụ và nhóm chứng. 

+ Tính tỉ lệ bất thường các yếu tố đông máu 

+ So sánh và tính tỉ  lệ  bất  thường  hoạt  tính 

các yếu tố đông máu theo tuổi thai. 

Vật liệu nghiên cứu 

2ml  máu  tĩnh  mạch  buổi  sáng,  lúc  đói  vào 

ống nghiệm có sẵn chất chống đông natri citrate 

3,8% với tỷ lệ chất chống đông với máu là 1:9. 

Các  kỹ  thuật  xét  nghiệm  và  tiêu  chuẩn  đánh 

giá 

‐  Các  kỹ  thuật  xét  nghiệm  được  thực  hiện 

theo  quy  trình  đang  được  áp  dụng  tại  Khoa 

Huyết học‐Truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai.  

‐ Thực hiện định lượng hoạt tính các yếu tố 

II,  V,  VII,  VIII,  IX,  X,  XI,  XII  trên  máy  CA‐1500 

của  Sysmex  Nhật  Bản  và  hóa  chất  hãng 

Siemems của Đức. 

‐ Đánh giá kết quả: Giá trị bình thường hoạt 

tính các yếu tố đông máu: 50% ‐150%. Tăng khi 

> 150%, giảm khi < 50%. 

KẾT QUẢ 

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 

Nghiên cứu 273 thai phụ, tuổi trung bình là 

28,83. Chủ yếu mang thai lần 1 và 2 (39,6% lần 1 

và 44,0% lần 2), mang thai lần 3 và trên 3 lần chỉ  chiếm 11,3 % và 5,1 %.  

Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu ở  từng thai kỳ 

Đặc điểm hoạt tính yếu tố đông máu của thai  phụ 3 tháng đầu 

Hoạt  tính  yếu  tố  đông  máu  ở  91  thai  phụ  mang thai 3 tháng đầu được trình bày ở bảng 1,  bảng 2: 

Bảng 1. So sánh hoạt tính YTĐM giữa nhóm thai 

phụ 3 tháng đầu với nhóm chứng 

Nhóm

YTĐM (%)

Nhóm thai phụ Nhóm chứng

p

II 91 94,9120,08 45 111,60  11,94 < 0,01

V 91 73,9919,96 45 103,92  15,29 < 0,01 VII 91 87,8622,53 45 95,85  16,83 > 0,05

X 91 96,8921,10 45 95,25 20,04 > 0,05 VIII 91 68,3025,94 45 90,64  48,88 < 0,01

IX 91 74,9518,35 45 67,5817,63 < 0,05

XI 91 82,5031,33 45 95,4517,41 < 0,05 XII 91 56,3827,90 45 60,8425,79 > 0,05

Nhận xét: hoạt tính của yếu tố II, V, VIII, XI giảm và hoạt 

tính yếu tố IX tăng rõ rệt so với nhóm chứng có ý nghĩa  thống kê. 

Bảng 2. Tỷ lệ bất thường hoạt tính YTĐM ở thai 

phụ 3 tháng đầu  

YTĐM (%) Giảm Bình thường Tăng

n % n % n %

V 11 12,1 80 87,9 0 0 VII 1 1,1 88 96,7 2 2,2

X 1 1,1 88 96,7 2 2,2 VIII 24 26,4 66 72,5 1 1,1

IX 7 7,7 84 92,3 0 0

XI 11 12,1 75 82,4 5 5,5 XII 50 54,9 39 42,9 2 2,2

Nhận xét: hoạt tính yếu tố V, VIII, XI, XII giảm chiếm tỉ 

lệ khá cao 12,1%; 26,4%; 12,1% và 54,9%. 100% trường  hợp có hoạt tính yếu tố II trong giới hạn bình thường. 

Đặc điểm hoạt tính yếu tố đông máu của thai  phụ 3 tháng giữa 

Qua nghiên cứu hoạt tính yếu tố đông máu 

ở 80 thai phụ mang thai 3 tháng giữa, chúng tôi  thu được kết quả như sau: 

Trang 4

phụ 3 tháng giữa với nhóm chứng 

Nhóm

YTĐM (%)

Nhóm thai phụ Nhóm chứng

p

II 80 98,5518,80 45 111,6011,94 <0,01

V 80 66,1228,05 45 103,9215,29 <0,01

VII 80 133,9437,33 45 95,85  16,83 <0,01

X 80 114,4629,17 45 95,25 20,04 <0,05

VIII 80 88,3334,49 45 90,64  48,88 >0,05

IX 80 79,2622,42 45 67,5817,63 <0,05

XI 80 80,2128,13 45 95,4517,41 <0,01

XII 80 81,5639,24 45 60,8425,79 <0,05

Nhận xét: hoạt tính yếu tố II, V, XI giảm có 

ý  nghĩa  thống  kê  so  với  nhóm  chứng  với 

p<0,01. Hoạt tính yếu tố VII, X, IX và XII tăng 

rõ rệt so với nhóm chứng với p<0,05. 

Bảng 4. Tỷ lệ bất thường hoạt tính YTĐM ở thai 

phụ 3 tháng giữa 

YTĐM (%) Giảm Bình thường Tăng

n % n % n %

V 25 31,2 54 67,5 1 1,2

VII 0 0 57 71,3 23 28,7

X 1 1,2 70 87,5 9 11,2

VIII 6 7,5 68 85,0 6 7,5

IX 4 5,0 76 95,0 0 0

XI 20 25,0 56 70,0 4 5,0

XII 13 21,6 63 78,8 4 5,0

Nhận xét: Hoạt tính yếu tố V, XI, XII giảm 

gặp tỉ lệ khá cao: 31,2%, 25%, 21,6%. Tỉ lệ thai 

phụ có hoạt tính yếu tố VII, X tăng là: 28,7% và 

11,2%. 

Đặc điểm hoạt tính yếu tố đông máu của thai 

phụ 3 tháng cuối 

Nghiên cứu hoạt tính yếu tố đông máu ở 102 

thai phụ mang thai 3 tháng cuối, chúng tôi thu 

được kết quả như sau: 

Bảng 5. So sánh hoạt tính YTĐM giữa nhóm thai 

phụ 3 tháng cuối với nhóm chứng 

Nhóm

  

YTĐM (%)

Nhóm thai phụ Nhóm chứng

p

II 102 93,4118,66 45 111,6011,94 <0,01

V 102 79,3630,22 45 103,9215,29 <0,01

VII 102 155,93 54,12 45 95,85  16,83 <0,01

Nhóm

  

YTĐM (%)

Nhóm thai phụ Nhóm chứng

p

X 102 136,4548,23 45 95,25 20,04 <0,01 VIII 102 123,75 45,35 45 90,64  48,88 <0,01

IX 102 108,6425,03 45 67,5817,63 <0,01

XI 102 87,3623,90 45 95,4517,41 >0,05 XII 102 121,93 64,33 45 60,8425,79 <0,01

Nhận xét: Hoạt tính yếu tố II, V giảm có ý 

nghĩa thống kê so với nhóm chứng. Ngược lại,  hoạt tính yếu tố VII, X, VIII, IX và XII cao hơn  nhóm chứng rõ rệt (p<0,01). 

Bảng 6. Tỷ lệ bất thường về hoạt tính YTĐM ở thai 

phụ 3 tháng cuối 

YTĐM (%) Giảm Bình thường Tăng

n % n % n %

V 14 13,7 85 83,3 3 2,9 VII 0 0 65 63,7 37 36,3

X 0 0 76 74,5 26 25,5 VIII 4 3,9 70 68,6 28 27,5

IX 0 0 99 97,1 3 2,9

XI 5 4,9 97 95,1 0 0 XII 3 2,9 81 79,4 18 17,6

Nhận xét: Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố V 

giảm là 13,7% và tăng hoạt tính yếu tố VII, X, VIII 

và XII lần lượt là: 36,3%; 25,5%; 27,5%; 17,6%. 

Thay  đổi  hoạt  tính  yếu  tố  đông  máu  theo  tuổi thai 

Bảng 7: So sánh hoạt tính các yếu tố đông máu theo 

tuổi thai 

YTĐM (%) Quý 1 Quý 2 Quý 3 p

II 94,91

20,08

98,55

18,80

93,41

18,66

p 12 , p 13 ,

p 23 >0,05

V 73,99

19,96

66,12

28,05

79,36

30,22

p 12 , p 13 >0,05;

p 23 <0,01 VII 87,86

22,53

133,94

37,33

155,93

54,12

p 12 , p 13 ,

p 23 <0,01

X 21,10 96,89 114,46 29,17 136,45 48,23 pp2312<0,01 , p13, VIII 25,94 68,30 34,49 88,33 123,75 45,35 pp2312<0,01 , p13,

IX 18,35 74,95 22,42 79,26 108,64 25,03 p12p>0,05; p23 <0,01 13,

XI 82,5 56,24 28,21 80,21 23,90 87,36 p12 >0,05; p 13 ,

p 23 <0,05 XII 27,90 56,38

81,56

39,24

121,93

64,33 pp2312<0,01 , p13,

Trang 5

XI, XII tăng theo tuổi thai và cao nhất ở quý 3 

thai kì. 

Bảng 8. So sánh tỷ lệ hoạt tính các yếu tố đông máu 

bất thường theo tuổi thai 

n

YTĐM

Bình thường Tăng Giảm

Q1 Q2 Q3 Q1 Q2 Q3 Q1 Q2 Q3

II 91 80 102 0 0 0 0 0 0

V 80 54 85 0 1 3 11 25 14

VII 88 57 65 2 23 37 1 0 0

X 88 70 76 2 9 26 1 1 0

VIII 66 68 70 1 6 28 24 6 4

IX 84 76 99 0 0 3 7 4 0

XI 75 56 97 5 4 0 11 20 5

XII 39 63 81 2 4 18 50 13 3

*Q1: quí 1; Q2: quí 2; Q3: quí 3 

Nhận xét: tuổi thai càng cao thì càng nhiều 

thai  phụ  có  hoạt  tính  yếu  tố  VII,  X,  VIII,  XII 

tăng. 

BÀN LUẬN 

Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu ở 

từng thời kì mang thai 

Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu thai 

phụ 3 tháng đầu 

Qua  kết  quả  nghiên  cứu  hoạt  tính  yếu  tố 

đông máu ở 91 thai phụ mang thai quý 1 (bảng 

1  và  3.2)  cho  thấy  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông 

máu  ngoại  sinh:  II,  V  là  94,91%;  73,99%  giảm 

rõ rệt so với nhóm chứng, Hoạt tính yếu tố VII, 

X (87,86% và 96,89%) thay đổi không đáng kể 

so với nhóm chứng. Tuy nhiên khi phân tích tỉ 

lệ  bất  thường  các  yếu  tố  này  chúng  tôi  thấy 

hoạt tính yếu tố II, VII, X đa số nằm trong giới 

hạn bình thường, chỉ 12,1 % có hoạt tính yếu tố 

V giảm. 

Nghiên cứu hoạt tính các yếu tố đông máu 

nội  sinh,  chúng  tôi  thấy  hoạt  tính  yếu  tố  VIII 

(68,30%) và XI (82,5%) giảm, yếu tố IX (74,95%) 

tăng  rõ  rệt,  còn  hoạt  tính  yếu  tố  XII  (56,38%) 

thay  đổi  không  đáng  kể  so  với  nhóm  chứng. 

Khi phân tích tỉ lệ bất thường hoạt tính các yếu 

tố này chúng tôi gặp tỉ lệ thai phụ có hoạt tính 

yếu  tố  VIII,  XI,  XII  giảm,  lần  lượt  là  26,4%; 

12,1% và 54,9%.  

Như vậy, ở 3 tháng đầu mang thai hoạt tính  các yếu tố đông máu ngoại sinh và nội sinh ở các  thai  phụ  đa  số  là  bình  thường.  Tuy  nhiên,  gặp  một tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố II, V, VIII, 

XI, XII giảm và hoạt tính yếu tố IX tăng.  

Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu thai  phụ 3 tháng giữa 

Nghiên  cứu  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông  máu  ngoại sinh thai phụ 3 tháng giữa, kết quả bảng 3 

và  3.4  cho  thấy  hoạt  tính  yếu  tố  II,  V  (98,55%;  66,12%) giảm, hoạt tính yếu tố VII và X (133,94% 

và 114,46%) tăng cao rõ rệt so với nhóm chứng.  Khi  phân  tích  tỉ  lệ  bất  thường  chúng  tối  thấy  càng  rõ  rệt  hơn  những  thay  đổi  của  các  yếu  tố  này, đó là gặp 31,2 % thai phụ có hoạt tính yếu 

tố V thấp hơn bình thường. 28,8% và 11,2% thai  phụ  có  hoạt  tính  yếu  tố  VII  và  X  cao  hơn  bình  thường.  Tuy  nhiên  không  gặp  thai  phụ  nào  có  hoạt tính yếu tố II thấp hơn giá trị bình thường.  Hoạt tính các yếu tố thuộc đường đông máu  nội sinh IX, XII (79,26%; 81,56%) tăng cao, yếu tố 

XI  (80,21%)  giảm,  yếu  tố  VIII  thay  đổi  không  đáng kể so với nhóm chứng. Khi phân tích tỉ lệ  bất  thường,  chúng  tôi  thấy  đa  số  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông  máu  nội  sinh  ở  thai  phụ  3  tháng  giữa nằm trong giới hạn bình thường, tuy nhiên  cũng  gặp  25%  và  21,6  %  thai  phụ  có  hoạt  tính  yếu  tố  XI  và  XII  thấp  hơn  giá  trị  bình  thường.  Nghiên cứu của Domenico (2005) cho thấy trong  quá trình mang thai hoạt tính yếu tố VII, X tăng,  yếu tố VIII tăng ở những tháng cuối mang thai,  hoạt  tính  yếu  tố  XI  giảm,  yếu  tố  II,  V  thay  đổi  không đáng kể(8). 

Như  vậy,  thai  phụ  3  tháng  giữa  có  giá  trị  trung bình hoạt tính yếu tố II, V giảm, hoạt tính  yếu  tố  VII,  X,  IX,  XII  tăng,  trong  đó  có  31,2%,  25% và 21,6% thai phụ có hoạt tính yếu tố V, XI 

và XII giảm, 11,2% thai phụ có hoạt tính yếu tố X  tăng. 

Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu thai  phụ 3 tháng cuối 

Nghiên cứu kết quả bảng 5 và 3.6 hoạt tính  các  yếu  tố  đông  máu  ngoại  sinh  ở  thai  phụ 

Trang 6

kết  quả  nghiên  cứu  ở  3  tháng  giữa,  đó  là  hoạt 

tính yếu tố II, V (93,41%; 79,36%) giảm, hoạt tính 

yếu tố VII và X (155,93% và 136,45%) tăng cao rõ 

rệt so với nhóm chứng. Kết quả nghiên cứu của 

Uchikova  (2004)  và  nghiên  cứu  của  Hoàng 

Hương  Huyền  (2010)  cũng  cho  thấy  hoạt  tính 

các yếu tố VII, X ở thai phụ 3 tháng cuối tăng cao 

rõ rệt so với nhóm chứng (p<0,01)(4,10). Khi phân 

tích  tỉ  lệ  bất  thường  chúng  tối  thấy  càng  rõ  rệt 

hơn  những  thay  đổi  của  các  yếu  tố  này,  đó  là 

gặp 13,7 % thai phụ có hoạt tính yếu tố V thấp 

hơn  bình  thường.  36,3%  và  25,5%  thai  phụ  có 

hoạt tính yếu tố VII và X cao hơn bình thường. 

Tuy nhiên không gặp thai phụ nào có hoạt tính 

yếu tố II bất thường. 

Hoạt tính các yếu tố thuộc đường đông máu 

nội sinh VIII, IX, XII (123,75%; 108,64%; 121,93%) 

tăng  cao,  yếu  tố  XI  (87,36%)  thay  đổi  không 

đáng kể so với nhóm chứng. Kết quả nghiên cứu 

của  Hoàng  Hương  Huyền  cũng  cho  thấy  hoạt 

tính các yếu tố VIII, IX ở thai phụ 3 tháng cuối 

tăng  cao  rõ  rệt  so  với  nhóm  chứng  (p<0,01)(4). 

Khi  phân  tích  tỉ  lệ  bất  thường,  chúng  tôi  thấy 

hoạt tính các yếu tố đông máu VIII, XII cao hơn 

bình  thường  là  27,5%  và  17,6%.  Kết  quả  này 

càng  thể  hiện  rõ  hơn  biểu  hiện  tăng  đông  của 

con đường đông máu nội sinh. 

Như  vậy  ở  thai  phụ  3  tháng  cuối  có  hiện 

tượng tăng hoạt tính các yếu tố VII, X, VIII, XI và 

XII. Đồng thời có hiện tượng giảm hoạt tính yếu 

tố  II  và  V.  Trong  đó  tỉ  lệ  thai  phụ  có  hoạt  tính 

yếu  tố  VII,  X,  VIII  và  XII  cao  hơn  bình  thường 

lần lượt là: 36,3%; 25,5%; 27,5% và 17,6%. 13,7 % 

thai  phụ  có  hoạt  tính  yếu  tố  V  thấp  hơn  bình 

thường. 

Mối  liên  quan  giữa  sự  thay  đổi  hoạt  tính 

các yếu tố đông máu với tuổi thai 

Kết  quả  bảng  7  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông 

máu ngoại sinh VII, X tăng theo tuổi thai rõ rệt, 

cụ thể là: hoạt tính yếu tố VII, X ở quí 1 là 87,86% 

và 96,89%, quí 3 tăng lên là 155,93% và 136,45%. 

Hoạt tính yếu tố V cao nhất ở quí 3 so với 2 quí 

còn  lại  (79,36%  so  với  73,99%  và  66,12%).  Hoạt 

tính  các  yếu  tố  đông  máu  nội  sinh  VIII,  IX,  XI,  XII tăng theo tuổi thai và cao nhất ở quý 3 thai 

kì. Hoạt tính yếu tố VIII, IX, XI, XII ở quí 1 thai 

kì  lần  lượt  là:  68,3%;  74,95%;  82,5%;  56,38%;  ở  quí  3  tăng  lên  tương  ứng  là:  123,75%;  108,64%;  87,36%;  121,93%.  Nghiên  cứu  của  Szecsi  năm 

2010 ở 391 thai phụ cũng cho thấy hoạt tính yếu 

tố  VIII,  IX  tăng  đáng  kể  trong  lúc  mang  thai(9).  Như vậy trong quá trình mang thai khi tuổi thai  càng lớn thì càng tăng hoạt hóa con đường đông  máu nội sinh và đông máu ngoại sinh. Sự tăng  hoạt  hóa  này  phù  hợp  với  quá  trình  phát  triển  của  thai  nhi  và  chuẩn  bị  cho  cuộc  sinh  nở  của  thai phụ. 

Kết  quả  bảng  8  góp  phần  làm  rõ  hơn  hoạt  tính hầu hết các yếu tố đông máu tăng theo tuổi  thai, tăng cao nhất ở quý 3 thai kì và rõ rệt nhất 

là các yếu tố VII, X, VIII, XII. Đó là số thai phụ có  hoạt tính các yếu tố VII, X, VIII, XII cao hơn bình  thường tăng dần từ quí 1 đến quí 3, tương ứng  với số thai phụ có hoạt tính các yếu tố này thấp  hơn bình thường giảm dần theo tuổi thai và còn  rất ít ở quí 3 của thai kì. Số thai phụ có hoạt tính  yếu tố VII cao ở quí 1, quí 2, quí 3 lần lượt là: 2, 

23, 37; số thai phụ có hoạt tính yếu tố X cao ở quí 

1, quí 2, quí 3 lần lượt là: 2, 9, 26. Số thai phụ có  hoạt tính yếu tố VIII cao ở quí 1, quí 2, quí 3 lần  lượt là: 1, 6, 28; số thai phụ có hoạt tính yếu tố  XII cao ở quí 1, quí 2, quí 3 lần lượt là: 2, 4, 18.  Kết quả bảng 7 cho thấy hoạt tính yếu tố IX, XI  tăng cao nhất ở quí 3 thai kì, cũng phù hợp với  kết quả bảng 8, đó là số lượng thai phụ có hoạt  tính các yếu tố này thấp hơn bình thường giảm  thấp nhất ở quí 3 thai kì. 

Hoạt tính yếu tố V cao nhất ở quý 3 thai kì 

so  với  hai  quí  còn  lại  (79,36%  so  với  73,99%  và  66,12%)  nhưng  vẫn  thấp  hơn  giá  trị  nhóm  chứng,  vì  vậy  kết  quả  này  cũng  thể  hiện  rõ  ở  bảng 3.8 là gặp một số lượng bệnh nhân có hoạt  tính yếu tố V thấp hơn bình thường ở cả ba quí  thai kì, tương ứng là: 11, 25, 14 thai phụ. Không  gặp thai phụ nào có hoạt tính yếu tố II ở cả 3 quí  thai kì thấp hơn hay cao hơn giá trị bình thường 

Trang 7

mặc  dù  hoạt  tính  yếu  tố  này  giảm  hơn  giá  trị 

nhóm chứng ở cả 3 quí thai kì.  

Như vậy, kết quả nghiên cứu hoạt tính các 

yếu  tố  đông  máu  qua  các  thai  kì,  chúng  tôi 

nhận thấy khi tuổi thai càng lớn thì càng tăng 

hoạt tính đông máu nội sinh VIII, IX, XI, XII và 

yếu  tố  đông  máu  ngoại  sinh  VII,  X.  Tuổi  thai 

càng lớn thì tỉ lệ các thai phụ có hoạt tính các 

yếu tố đông máu VII, X, VIII, XII cao hơn bình 

thường càng tăng, nghĩa là thai càng lớn thì tỉ 

lệ  thai  phụ  có  tăng  hoạt  tính  một  số  yếu  tố 

đông máu càng nhiều. 

KẾT LUẬN 

Nghiên  cứu  hoạt  tính  một  số  yếu  tố  đông 

máu  trên  273  thai  phụ  ở  các  thời  kì  mang  thai 

chúng tôi có một số kết luận sau: 

Ở  từng  thai  kì  có  sự  thay  đổi  về  hoạt  tính 

một số yếu tố đông máu với các đặc điểm cụ thể 

như sau: 

‐ Ở thai phụ 3 tháng đầu: Hoạt tính các yếu 

tố  đông  máu  II,  V,  VII,  VIII,  IX,  X,  XI,  XII  là 

94,91%; 73,99%; 87,86%; 68,30%; 74,95%; 96,89%; 

82,5%; 56,38%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố 

V,  VIII,  XI,  XII  giảm,  lần  lượt  là  12,1  %,  26,4%; 

12,1% và 54,9%. 

‐ Ở thai phụ 3 tháng giữa: Hoạt tính các yếu 

tố  đông  máu  II,  V,  VII,  VIII,  IX,  X,  XI,  XII  là 

98,55%;  66,12%;  133,94%;  88,33%;  79,26%; 

114,46%;  80,21%;  81,56%.  Tỉ  lệ  thai  phụ  có  hoạt 

tính yếu tố VII, X tăng là 28,8% và 11,2%. Hoạt 

tính yếu tố V, XI và XII giảm lần lượt là: 31,2 %; 

25% và 21,6 %. 

‐ Ở thai phụ 3 tháng cuối: Hoạt tính các yếu 

tố  đông  máu  II,  V,  VII,  VIII,  IX,  X,  XI,  XII  là 

93,41%;  79,36%;  155,93%;  123,75%;  108,64%; 

136,45%; 87,36%; 121,93%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt  tính  yếu  tố  VII,  X,  VIII  và  XII  tăng  lần  lượt  là:  36,3%; 25,5%; 27,5% và 17,6%. Thai phụ có hoạt  tính yếu tố V giảm là 13,7 %. 

Có mối liên quan giữa thay đổi hoạt tính yếu 

tố đông máu với tuổi thai: Thời kì đầu mang thai 

có tỉ lệ đáng kể thai phụ giảm hoạt tính các yếu 

tố V, VIII, XI. Tuổi thai càng lớn thì hoạt tính yếu 

tố  đông  máu  nội  sinh  VIII,  IX,  XI,  XII  và  ngoại  sinh VII, X càng tăng.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Barta A (2010), “Obstetric Coding in ICD‐10‐CM/PCS”, Journal 

of AHIMA, 81.6, pp. 68‐70.  

2 Buseri  FI,  Jeremiah  ZA  and  Kalio  FG  (2008),  “Influence  of  pregnancy  and  gestation  period  on  some  coagulation 

parameters among Nigerian antenatal woman”, Research Journal 

of Medical sciences 2, pp.275 ‐281. 

3 Dương  Thị  Cương  (2007),  “Thay  đổi  giải  phẫu  và  sinh  lý  ở 

người phụ nữ có thai”, Bài giảng Sản phụ khoa, tập  I,  Nhà  xuất 

bản Y học, tr. 46 – 48. 

4 Hoàng Hương Huyền (2010), ʺNghiên cứu tình trạng đông cầm 

máu  ở  phụ  nữ  có  thai  3  tháng  cuốiʺ,  Luận  văn  thạc  sĩ  y  học, 

trường Đại học Y Hà Nội, tr. 14‐18. 

5 Nguyễn  Anh  Trí  (2002),  ʺĐông  máu  ‐  ứng  dụng  trong  lâm  sàngʺ, Nhà xuất bản y học Hà Nội, tr. 29‐100. 

6 Nguyễn Ngọc Minh (2007), ʺThay đổi sinh lý về các chỉ số cầm 

máu  ‐  đông  máuʺ,  Bài giảng huyết học ‐ truyền máu sau đại học, 

Nhà xuất bản y học Hà Nội, tr. 65‐70. 

7 Phan  Trường  Duyệt,  Đinh  Thế  Mỹ  (2000),  Lâm  sàng  sản  phụ  khoa, Nhà xuất bản y học, tr. 161‐259. 

8 Prisco  D,  Ciuti  G,  Falciani  M  (2005),  ʺHaemostatic  changes  in 

normal pregnancyʺ, Haematologyca reports 2005, 1 (issue 10), pp. 

1‐ 5. 

9 Szecsi  PB  (2010),  “Haemostatis  reference  intervals  in 

pregnancy”, Thromb Haemost, 98(2), pp.18 ‐27. 

10 Uchikova EH, Ledfev LL (2005),ʺChanges in haemostatis during 

normal  pregnancy”,  European  Journal  of  Obstetrics  and  Gynecology, 119 (2), pp. 185‐188. 

 

Ngày nhận bài báo:      27 tháng 9 năm 2013  Ngày phản biện:      27 tháng 9 năm 2013  Ngày bài báo được đăng: 22 tháng 10 năm 2013 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 14:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w