1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của nội soi ổ bụng trong chấn thương và vết thương bụng: Kinh nghiệm sau 10 năm

12 84 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 368,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phẫu thuật nội soi (PTNS) ổ bụng có thể được sử dụng an toàn và hiệu quả để chẩn đoán và điều trị các chấn thương - vết thương bụng, tránh phải mở bụng. Bài viết chia sẻ về vai trò của nội soi ổ bụng trong chấn thương và vết thương bụng, kinh nghiệm sau 10 năm phẫu thuật nội soi chẩn đoán và điều trị.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA NỘI SOI Ổ BỤNG TRONG CHẤN THƯƠNG

VÀ VẾT THƯƠNG BỤNG: KINH NGHIỆM SAU 10 NĂM

Nguyễn Phước Hưng*, Trần Đình Quốc*, Nguyễn Tấn Cường*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Phẫu thuật nội soi (PTNS) ổ bụng có thể được sử dụng an toàn và hiệu quả để chẩn đoán và

điều trị các chấn thương - vết thương bụng, tránh phải mở bụng

Phương pháp: Từ 5/2001 đến 6/2010, 272 bệnh nhân chấn thương bụng huyết động ổn định nghi ngờ tổn

thương tạng trong ổ bụng được phẫu thuật nội soi chẩn đoán và điều trị Tuổi bệnh nhân từ 7 đến 78 (trung bình 24) Cơ chế chấn thương: 152 chấn thương bụng kín, 117 vết thương bụng và 3 vết thương đạn bắn Tất cả phẫu thuật nội soi được thực hiện trong phòng mổ, bệnh nhân được gây mê Ổ bụng được thám sát có hệ thống, ghi nhận các tổn thương tạng, xử trí thương tổn ở mức độ cho phép

Kết quả: Qua thám sát, 93 ca chỉ cần PTNS chẩn đoán, PTNS điều trị được thực hiện cho 163 bệnh nhân

(59,9%) gồm đốt – khâu cầm máu gan (32), đốt – khâu cầm máu lách (18), khâu cầm máu tụy và dẫn lưu hậu cung mạc nối (4), khâu ruột non (16), cắt - nối ruột non (3), khâu ruột già (6), khâu – cầm máu thanh mạc và mạc treo ruột (35), khâu thành dạ dày (10), cắt túi mật (2), khâu bàng quang (50), khâu cơ hoành (13) PTNS toàn bộ được thực hiện cho 156 bệnh nhân, PTNS hỗ trợ cho 7 bệnh nhân PTNS không bỏ sót tổn thương lớn nào của tạng, và không trường hợp nào phải mở bụng thám sát Thời gian phẫu thuật trung bình 90 70 phút, thời gian nằm viện trung bình 4.8 ngày Ba trường hợp (1,1%) biến chứng sau PTNS gồm 1 tụ dịch trong gan, 1 tụ dịch hậu cung mạc nối, và 1 xì vết khâu bàng quang, chỉ một thủng đại tràng bị bỏ sót trên bệnh nhân bị tổn thương

cơ hoành – dạ dày – lách, không có tử vong do PTNS

Kết luận: Phẫu thuật nội soi là biện pháp khả thi, an toàn và hiệu quả để đánh giá và điều trị các bệnh nhân

chấn thương bụng có huyết động ổn định, làm giảm tỉ lệ mở bụng không điều trị

Từ khóa: Chấn thương bụng, nội soi ổ bụng, mở bụng không điều trị, phẫu thuật nội soi nội soi chẩn đoán -

điều trị

ABSTRACT

THE ROLE OF LAPAROSCOPY IN ABDOMINAL TRAUMA

Nguyen Phuoc Hung, Tran Dinh Quoc, Nguyen Tan Cuong

*Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 316 - 327

Background: Instead of open laparotomy, laparoscopy can be used safely and effectively for the diagnosis and

treatment of traumatic abdominal injuries

Methods: Between May 2001 and June 2010, 272 with suspicious abdominal injuries underwent diagnostic

or therapeutic laparoscopy The patients ranged in age from 7 to 78 years (median, 24 years) Of these patients,

152 were evaluated for blunt trauma, 117 had sustained a stab wound and 3 had a missile wound All of the laparoscopic procedures were performed in the operating room with the patient under general anesthesia The abdominal cavity was systemically examined, the hemoperitoneum aspirated, and the lesion causing the bleeding

or spillage located

* Khoa Ngoại-gan-mật-tụy, BV Chợ Rẫy

Trang 2

Results: On the basis of the laparoscopic findings, diagnostic laparoscopy was enough for 93 patients, and

therapeutic laparoscopy was performed in 163 patients (59.9%) for hemostasis of liver (32), hemostasis of spleen (18), hemostasis of pancreas and drainage of collected fluid in omental sac (4), small bowel repair (16), small bowel resection-anastomosis (3), colon repair (6), ligation of bleeders or repair of the mesentery and serous membrane (35), gastric wall repair (10), cholecystectomy (2), bladder wall repair (50), diaphragm repair (13) Purely laparoscopic procedures were performed in 156 patients, and hand-assisted laparoscopic surgery in 7 patients No significant abdominal injuries were missed as a result of laparoscopy, and no conversion to exploratory laparotomy was noted The mean operation time was 90 70 min, and the mean hospital stay was 4.8 days There were three cases (1.1%) of postoperative complications (1 collected fluid in liver, 1 collected fluid in omental sac, and 1 leakage of bladder), and only one large bowel wound was missed (patient had diaphragm – gastric - spleen injuries, as well) and no mortality

Conclusions: Laparoscopy is safe, feasible, effective for evaluation and treatment of hemodynamically stable

patients with abdominal trauma, and it can reduce the number of nontherapeutic laparotomies performed

Keywords: abdominal trauma, laparotomy, nontherapeutic laparotomy, laparoscopic surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong chấn thương và vết thương bụng, mặc

dù có nhiều phương pháp chẩn đoán khác nhau

được sử dụng như chọc rửa ổ bụng, siêu âm

bụng, chụp điện toán cắt lớp; việc đánh giá sự

hiện diện và độ nặng của các sang thương trong

ổ bụng vẫn khó khăn Mở bụng thám sát là

phương pháp an toàn và rõ ràng để xác định,

đánh giá Tuy nhiện, tỉ lệ tai biến, biến chứng có

thể cao đến 40%, bao gồm 20% biến chứng sớm

do phẫu thuật, 0 - 5% tử vong và 3% nguy cơ tắc

ruột non sau này(23,24)

Nghiên cứu này nhằm chứng minh PTNS ổ

bụng có hiệu quả để đánh giá thương tổn của vết

thương và chấn thương bụng Thành công của

phẫu thuật nội soi ổ bụng (1) giúp giảm tỉ lệ mở

bụng trắng từ 23 – 54% số bệnh nhân(10,25,26)

Ivatury và cs(11) khảo sát khả năng phẫu thuật nội

soi ổ bụng để điều trị các vết thương bụng có

quỹ đạo không rõ ràng, chỉ 30 – 40% các vết

thương bụng cần phẫu thuật điều trị (2) PTNS

giúp can thiệp sớm và giảm tỉ lệ bỏ sót thương

tổn trong ổ bụng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Từ 5/2001 đến 6/2010, 272 bệnh nhân chấn

thương bụng có huyết động ổn định có nghi ngờ

có thương tổn tạng được phẫu thuật nội soi chẩn

đoán và điều trị tại Khoa Cấp cứu BV Chợ Rẫy

Trong suốt thời gian nghiên cứu, khoảng 9.000 bệnh nhân được chẩn đoán chấn thương bụng, trong đó hơn 4000 có chỉ định phẫu thuật, chúng tôi chọn 272 bệnh nhân (152 chấn thương bụng kín và 120 vết thương bụng) có huyết động ổn định (huyết áp tối đa trên 100mmHg, HA tối thiểu trên 60mmHg, nhịp tim dưới 100l/p) để thực hiện phẫu thuật nội soi ổ bụng đánh giá Đánh giá lâm sàng; công thức máu, sinh hóa máu; siêu âm bụng toàn bộ, Xquang bụng, ngực

cổ điển; CT Scan bụng cho trường hợp CTBK; chọc dò ổ bụng trong một số trường hợp Không

có trường hợp nào chọc rửa ổ bụng Chụp hệ niệu có cản quang được thực hiện cho các trường hợp nghi ngờ vỡ bàng quang Một số vết thương bụng được thám sát vết thương thành bụng trước khi phẫu thuật nội soi Loại trừ các chấn thương sọ não nặng, huyết động không ổn định,

có bệnh lý nội khoa chống chỉ định bơm hơi ổ bụng, tiền căn mở bụng, viêm phúc mạc nặng, có vết thương bụng có dấu hiệu tổn thương tạng rõ ràng như nôn ra máu, tiêu – tiểu máu tươi Kíp

mổ phẫu thuật nội soi có kỹ năng và trình độ quyết định chỉ định phẫu thuật

Bệnh nhân được giải thích và đồng ý làm phẫu thuật nội soi ổ bụng và có thể bị mở bụng Phẫu thuật được thực hiện tại phòng mổ lớn, gây mê nội khí quản

Bơm hơi ổ bụng bằng CO2 qua lỗ trocar dưới

Trang 3

rốn, vào bụng bằng kỹ thuật Hasson, quan sát ổ

bụng bằng kính soi 30o Hai trocar 5 - 10mm đưa

vào ở ngang rốn, bờ ngoài cơ thẳng bụng Áp lực

bơm hơi ổ bụng điều chỉnh dưới 15mmHg

Sau khi khảo sát khoang bụng cẩn thận,

hút sạch máu, dịch tiêu hóa, đánh giá các

thương tổn thấy được Nếu cần, trocar phụ

được thêm vào, phụ thuộc vị trí thương tổn

Chuyển mở bụng khi thám sát ổ bụng không

hoàn toàn đầy đủ, thương tổn quá lớn, quá

khả năng phẫu thuật nội soi Những trường

hợp đang chảy máu phải được kiểm soát đầu

tiên bằng đốt điện, kẹp clip, cột – khâu cột…

Để đánh giá ruột non và đại tràng, dùng kẹp

ruột không gây sang chấn, kiểm tra ruột qua

trocar hai bên thành bụng; kiểm tra ruột non

bắt đầu từ góc hồi manh tràng, tiến về phía

trên đến góc Treitz mỗi 4-8 cm cho đến hết

chiều dài ruột Các tổn thương ruột non và

mạc treo được xử trí bằng khâu đơn giản bằng

vicryl 3.0

Có thương tổn tạng đặc: chảy máu, lượng ít

-vừa không ảnh hưởng huyết động, đốt – khâu

cầm máu Nếu thành công, kết thúc phẫu thuật

và đặt dẫn lưu 15 Fr qua lỗ trocar hông phải

Nếu chảy máu nhiều, thay đổi huyết động trong

mổ, chèn tạm một bấc dẫn lưu, ngưng nội soi và

chuyển sang mổ hở kinh điển Các tổn thương

khác sử dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ; khi cần

cắt đoạn ruột tổn thương nặng, chúng tôi đưa

thương tổn ra ngoài ổ bụng qua vết rạch thành

bụng 3-4cm, cắt bỏ – khâu nối ruột như trong mở

bụng, sau đó đưa trở lại vào ổ bụng

Với các vết thương thấu bụng (VTTB), đóng

vết thương trước khi bơm hơi ổ bụng và PTNS

Nếu không có dấu hiệu tổn thương tạng, làm

sạch vết thương và không cần mở bụng

Trong vỡ cơ hoành, ngay khi đặt trocar rốn

và bơm hơi dưới áp lực thấp (5mmHg), đặt thêm

1 trocar 10mm không có van ở gian sườn 5 trung

đòn của bên lồng ngực bị tổn thương, một trocar

5mm ở thượng vị bên trái dây chằng liềm và 1

trocar 10mm ở hông trái; khâu cơ hoành qua nội

soi bằng chỉ Prolene 1.0 mũi chữ U hoặc khâu liên tục Kiểm tra các tạng trong bụng Nếu có vỡ tạng rỗng, tiếp tục soi lồng ngực kiểm tra, đặt thêm 2 trocar 5mm và 10mm tưới rửa khoang màng phổi, đặt dẫn lưu khoang màng phổi qua

lỗ trocar 10mm ở gian sườn 5 trung đòn

Hậu phẫu ghi nhận sinh hiệu, vết mổ, ổ bụng, ngày trung tiện, thời gian nằm viện Làm thêm các xét nghiệm sinh hoá, chẩn đoán hình ảnh, truy tìm các biến chứng hậu phẫu cũng như tình trạng bỏ sót thương tổn trong ổ bụng

Tiêu chuẩn vàng để đối chứng

- Kết quả tổn thương các tạng được khẳng định lại khi chuyển sang mổ hở vì một lý do nào

đó như: quá khả năng can thiệp qua nội soi hay phẫu thuật nội soi hỗ trợ xử trí thương tổn

- Kết quả còn được khẳng định qua theo dõi hậu phẫu trong những trường hợp không chuyển mổ hở: được gọi là không tổn thương tạng khi diễn tiến lâm sàng không xuất hiện các triệu chứng của hội chứng viêm phúc mạc, xuất huyết nội, áp-xe tồn lưu hay rò tiêu hoá

KẾT QUẢ

Từ 05/2001-6/2010, trong 4.000 bệnh nhân được phẫu thuật vì chấn thương bụng, 272 bệnh nhân (6,7%) có huyết động ổn định được chọn

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Tuổi trung bình 24, cao nhất 78, nhỏ nhất 7

Đa số còn trong tuổi lao động (21-40 tuổi), chiếm 72%

Giới: tỉ lệ Nam: Nữ = 4:1 (225 nam: 47 nữ)

Cơ chế chấn thương: 152 CTBK (56,3%); 117 VTB, 3 vết thương hỏa khí (43,7%)

Bảng 1: Thương tổn phối hợp ngoài ổ bụng

Chấn thương đầu 37 0

Trang 4

Các chỉ số cận lâm sàng

Siêu âm bụng

Trong 152 ca CTBK, 140 ca (92%) phát hiện

có dịch và 12 ca (8%) không phát hiện dịch

Trong 120 ca VTB, 91 ca (75,8%) có dịch và 29 ca

(24,2%) không phát hiện dịch Tỉ lệ phát hiện

dịch là 85%

CT Scan bụng

Bảng 2: Chụp điện toán cắt lớp bụng/CTBK

* Trong 120 ca VTB, chỉ 5 ca có chỉ định CT

Bảng 3: Cơ quan thương tổn qua CT bụng

Số lượng

Tụ máu sau phúc mạc 22

Không phát hiện thương tổn 13

Chỉ định phẫu thuật nội soi ổ bụng

Bảng 4: Chỉ định soi ổ bụng chẩn đoán

Nghi XH nội đang tiến triển 40

Nghi tổn thương tạng rỗng 65

Nghi vỡ tạng rỗng/vỡ bàng quang 45

Nghi tổn thương cơ hoành 2 26

Nghi vết thương thấu bụng 22

Nghi tổn thương tạng/VTTB 72

Trong mổ

Bảng 5: Thương tổn tạng qua nội soi (CTBK)

Tụ máu sau phúc mạc 54

Thanh mạc ruột non 12

Mạc treo ruột non 13

Thanh mạc đại tràng 6

Mạc treo đại tràng 3

Bảng 6: Thương tổn tạng qua nội soi (VTB)

Vết thương thành bụng 25 VTTB không tổn thương tạng 32

Thủng ruột non 12 Rách thanh mạc, mạc treo RN 4 Thủng đại tràng 5 Rách thanh mạc ĐT 5

Rách mạch máu mạc nối lớn 2 Thủng cơ hoành 16

Chẩn đoán sau mổ

Bảng 7: Nhóm “nghi XH nội đang tiến triển”: 40 ca

Thương tổn Theo PTNS KQ sau cùng Tỉ lệ đúng

Tụ máu sau PM 25 25 100%

Chấn thương

Rách thanh mạc

Rách mạc treo

Vỡ bàng quang 5 5 100% Không thương

Bảng 8: Nhóm “nghi ngờ vỡ tạng rỗng” và “nghi

ngờ vỡ tạng rỗng/bảo tồn chấn thương tạng đặc): 110

ca

Thương tổn Theo PTNS KQ sau

cùng Tỉ lệ đúng

Tụ máu sau PM 39 39 100%

Vỡ ruột non 10 10 100% Rách thanh mạc RN 10 10 100% Rách/vỡ mạc treo

Vỡ đại tràng 3 3 100% Rách thanh mạc ĐT 6 6 100% Rách mạc nối lớn 1 1 100%

Vỡ bàng quang 45 45 100%

Trang 5

Bảng 9: Nhóm “nghi vết thương thấu bụng”: 22

ca

NS

KQ sau cùng Tỉ lệ đúng

Vết thương thành

VTTB không tt tạng 4 4 100%

VTTB Rách gan 2 2 100%

VTTB Thủng ruột

VTTB có rách mạc

VTTB thủng gan+túi

Bảng 10: Nhóm “nghi tổn thương tạng/ VTTB”: 72

ca

Thương tổn Theo nội soi KQ sau

cùng Tỉ lệ đúng

Vết thương thành

Vết thương thấu

Thủng ruột non 11 11 100%

Thủng dạ dày 6 6 100%

Thủng túi mật 3 3 100%

Rách mạc nối 1 1 100%

Bảng 11: Nhóm “Vết thương ngực - bụng”: 26 ca

Thương tổn Theo nội soi KQ sau

cùng Tỉ lệ đúng

Không tổn thương 13 13 100%

Thủng cơ hoành 13 13 100%

Vết thương gan 6 6 100%

Vết thương lách 3 3 100%

Thủng dạ dày 5 5 100%

Bảng 12: Các thương tổn tạng qua phẫu thuật nội soi

trước mở bụng điều trị và được xử trí bằng PTNS

Tụ máu sau phúc mạc 57 57 100,0%

Tổn thương gan 36 32 88,9%

Tổn thương lách 22 18 81,8%

Tổn thương tụy 5 4 80,0%

Tổn thương ruột non 22 19 86,4%

Tổn thương mạc treo RN 13 12 92,3% Tổn thương thanh mạc RN 16 16 100,0% Tổn thương đại tràng 8 6 75,0% Tổn thương thanh mạc ĐT 7 7 100,0% Tổn thương dạ dày 13 10 76,9% Tổn thương túi mật 3 2 66,7% Tổn thương cơ hoành 18 13 72,2% Tổn thương bàng quang 50 50 100,0%

Mức độ can thiệp

PTNS thám sát chẩn đoán 93 34,2%

94,1% PTNS điều trị 156 57,3%

PTNS hỗ trợ 7 2,6%

Mở bụng điều trị 16 5,9%

Lý do mở bụng lớn: 16 ca

- 3 ca vỡ gan độ 4

- 2 xuất huyết nội do vỡ lách độ 3-4 đang chảy máu, quá khả năng xử trí qua nội soi

- 1 vỡ nhiều tạng: gan vỡ độ 3 + rách nát mạc treo và thanh mạc ruột non

- 1 thủng ruột non nhiều nơi, dịch tiêu hoá và giả mạc nhiều

- 1 ca vỡ ruột non gần góc Treitz

- 1 ca VPM nặng do vỡ RN 2/3 khẩu kính cần rửa bụng và cắt nối ruột

- 2 ca vỡ hoành phức tạp

- 1 ca vết thương gan sâu, thủng túi mật

- 1 ca thủng dạ dày rộng và rách tuỵ

- 1 ca thủng cơ hoành, dạ dày, vỡ lách

- 1 ca thủng cơ hoành, dạ dày, vỡ lách và thủng đại tràng

- 1 ca thủng hoành phải kèm vết thương gan

hạ phân thùy 7 – 8 không xử trí cầm máu được bằng PTNS

Thời gian mổ

Ngắn nhất 20 phút Dài nhất là 180 phút Trung bình là 90  70 phút

Thời gian nằm viện và diễn tiến sau mổ

Bảng 13: Thời gian nằm viện và diễn tiến sau mổ

Trung bình 1,91 2,44 4,8

Trang 6

Biến chứng sau mổ (1,1%)

1 tụ dịch trong gan sau đốt cầm máu nhu

mô gan qua nội soi 1 ca áp xe tồn lưu ở hậu

cung mạc nối (dò tụy) phải mổ bụng lại để

dẫn lưu ổ tụy bằng dẫn lưu có gió (sump

drain) 1 ca xì chỗ khâu bàng quang do phẫu

thuật nội soi cần mở bụng

BÀN LUẬN

Dù chấn thương hay vết thương bụng, các

chỉ định kinh điển mở bụng là chảy máu ổ

bụng ồ ạt làm thay đổi huyết động, có các

bằng chứng khách quan cho thấy có thủng/vỡ

tạng rỗng(9) Chúng tôi không đưa những

trường hợp xuất huyết nội có huyết động

không ổn định hoặc viêm phúc mạc nặng vào

lô nghiên cứu vì hạn chế của PTNS trong kiểm

soát chảy máu cũng như khả năng sửa chữa

tổn thương lớn tạng rỗng, vì kéo dài thời gian

phẫu thuật Ngoài những tình huống rõ ràng

trên, thực tế lâm sàng có rất nhiều trường hợp

sau một thời gian theo dõi kết hợp các phương

tiện chẩn đoán như Xquang bụng không sửa

soạn, siêu âm bụng, CT san bụng, dung tích

hồng cầu…, nhiều trường hợp vẫn chưa tìm ra

hướng điều trị thích hợp Trong các tình

huống này, luôn có sự cân nhắc giữa tiếp tục

theo dõi, đợi khi các triệu chứng thật rõ ràng

rồi mổ hay mở bụng thám sát nếu nghi ngờ có

tổn thương tạng Cả hai cách giải quyết đều có

những ưu-khuyết điểm như: tỉ lệ biến chứng

sau mổ cao hay tỉ lệ mở bụng không điều trị

cao(1,22) Để làm giảm tỉ lệ biến chứng sau mổ

cũng như giảm tỉ lệ mở bụng không điều trị,

từ 1995 đến nay có nhiều tác giả áp dụng phẫu

thuật nội soi ổ bụng vào bệnh cảnh chấn

thương – vết thương bụng Cũng theo xu

hướng chung, chúng tôi thực hiện nghiên cứu

này trong hoàn cảnh Việt Nam với các chỉ

định được bàn luận sau:

Chấn thương bụng

Nghi ngờ tình trạng mất máu cấp trên lâm

sàng là do thương tổn tạng ổ bụng: Bệnh nhân

đa thương có đồng thời nhiều thương tổn có thể

gây ra tình trạng mất máu trên lâm sàng, chúng tôi chọn những trường hợp phẫu thuật viên nghi ngờ chính thương tổn trong ổ bụng gây ra các thay đổi theo chiều hướng xấu dần trong quá trình theo dõi (Hct giảm, mạch-huyết áp xấu đi…) Chúng tôi có 40 trường hợp (0) rơi vào chỉ định này, có 32 trường hợp kèm thương tổn ngoài ổ bụng, 3 bệnh nhân có thai 8 – 32 tuần Tất cả đều được theo dõi lâm sàng, cận lâm sàng, hồi sức ban đầu trong thời gian trung bình là 12,1  4,1 giờ 40 trường hợp này được chỉ định PTNS ổ bụng chẩn đoán thay thế cho mở bụng thám sát Kết quả 38 trường có dịch và máu trong ổ bụng

Các thương tổn được mô tả trong 0 35 trường hợp (87,5%) tránh được mở bụng Những

ca mở bụng do vỡ gan độ 3-4 (3 ca) trên bệnh nhân có thai hay kèm thương tổn khác, vỡ lách (2 ca) chảy máu nhiều

Các ưu điểm của nội soi

Phương diện chẩn đoán: tốt về mức độ tổn thương tạng đặc và xác định tính chất và mức độ chảy máu Siêu âm không đánh giá được mức độ thương tổn (Bernard Boulanger) CT tốt hơn siêu

âm trong việc đánh giá mức độ thương tổn tạng đặc, nhưng không đánh giá hết được tính chất chảy máu của thương tổn dù có dùng cản quang tĩnh mạch(7,12,14) PTNS giúp chẩn đoán các thương tổn không gây chảy máu nhưng đe dọa tính mạng bệnh nhân nếu không được chẩn đoán kịp thời như vỡ bàng quang trong phúc mạc (5 ca) cũng như loại trừ các tổn thương khác Không có thương tổn bị bỏ sót trong chỉ định này

Phương diện điều trị: thực hiện xử trí một số thương tổn từ nhẹ đến vừa: đốt – khâu cầm máu tạng đặc, cắt bỏ tạng, khâu ống tiêu hóa(4,6) nếu được trang bị đủ các dụng cụ hiện đại

Các nhược điểm của nội soi

Vẫn là một phương pháp xâm lấn

Phải gây mê, mặc dù một số tác

cho những bệnh nhân hợp tác tốt Hiện chưa

Trang 7

sử dụng được gây tê tại chỗ do những hạn chế

của gây mê hồi sức

Có thể gặp biến chứng do áp lực CO2 nếu

không tuân thủ các nguyên tắc cài đặt áp lực

Như vậy hoàn toàn có thể áp dụng PTNS ổ

bụng cho các trường hợp nghi ngờ có tình trạng

mất máu cấp trên lâm sàng là do thương tổn

tạng trong ổ bụng Tuy nhiên, cần lựa chọn và

tận dụng hết khả năng của các phương tiện chẩn

đoán khác trước khi đề nghị PTNS để tránh lạm

dụng nội soi quá mức như trong trường hợp vỡ

gan có chảy máu trên CT scan bụng, có thể dùng

DSA để làm TAE vì rất có hiệu quả

Nghi ngờ có tổn thương tạng rỗng hay một

tình trạng VPM đang diễn ra: 110 ca (0)

Hiện chưa có phương tiện nào có độ nhạy và

đặc hiệu cao để loại trừ vỡ tạng rỗng, nhất là các

trường hợp đang điều trị tổn thương tạng đặc

bảo tồn Chế độ thăm khám có hệ thống, nhắc lại

nhiều lần là chìa khoá để chẩn đoán trong

trường hợp vỡ tạng rỗng đơn thuần(5) Điều kiện

tiên quyết trong điều trị bảo tồn không mổ cho

tạng đặc là không có vỡ tạng rỗng kèm theo(12)

Khi lâm sàng khó khăn, Xquang không chuẩn bị,

siêu âm bụng, CT scan bụng là các phương tiện

đã và đang được áp dụng nhằm hỗ trợ chẩn

đoán Nhiều công trình nghiên cứu giá trị các

phương tiện này trong vỡ tạng rỗng Chúng tôi

nhận thấy không có phương tiện nào nói trên có

giá trị cao để chẩn đoán loại trừ vỡ tạng rỗng,

nhất là ruột non(1,4,13,19), Nội soi ổ bụng cũng từng

được xem là phương tiện có giá trị kém trong

loại trừ thương tổn tạng rỗng(15,16,21) Nhờ sự tiến

bộ của lĩnh vực nội soi và trình độ phẫu thuật

viên được nâng cao trong những năm gần đây,

chúng tôi mạnh dạn áp dụng nội soi cho những

bệnh nhân này Tất cả 65 trường hợp trên đều có

dịch trên siêu âm, qua theo dõi, trung bình là 14

 8 giờ, kể từ lúc nhập viện Tuy không có những

bằng chứng khẳng định vỡ tạng rỗng nhưng các

dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng phản ánh

tình trạng nhiễm trùng trong ổ bụng Một

nguyên nhân nữa làm cho tình trạng ổ bụng

trong nhóm này khó đánh giá là các thương tổn phối hợp ngoài ổ bụng (40%) Kết quả thu được rất khả quan, các thương tổn gan (4 ca), lách (3 ca) đều xử trí được bằng PTNS 1 ca vỡ gan độ 3 kèm rách nát mạc treo và thanh mạc ruột non nhiều nên chuyển mở bụng Các trường hợp tụ máu sau phúc mạc (39 ca) không có dấu hiệu tổn thương các cơ quan sau phúc mạc, chúng tôi không thực hiện thám sát thường quy 3 trường hợp thủng đại tràng được khâu đơn giản (2 trường hợp) và khâu điều trị và làm hậu môn tạm (1 trường hợp) bằng PTNS hỗ trợ 10 ca vỡ ruột non được khâu đơn giản (8 ca vỡ độ 1-3); 2

ca phải mở bụng do vỡ ruột non độ 3-4 có nhiều giả mạc và thức ăn trong ổ bụng 45 ca vỡ bàng quang trong phúc mạc được khâu hai lớp bằng chỉ tan kèm thám sát ổ bụng, phát hiện thêm 2 ca

có vỡ hổng tràng, 6 ca rách thanh mạc ruột non

và 6 ca rách thanh mạc đại tràng; các thương tổn này cũng xử trí được bằng PTNS Không thương tổn nào bị bỏ sót theo tiêu chuẩn vàng đã nêu Như vậy, trong chỉ định này, chúng tôi đã thực hiện PTNS chẩn đoán và điều trị 107 trường hợp, tránh được mở bụng không cần thiết (97.3%) Chỉ định PTNS cho các trường hợp này là có lợi

vì ngoài việc mang những ưu điểm chung của phẫu thuật ít xâm phạm, quan trọng là giúp phát hiện sớm những thương tổn trong ổ bụng, làm giảm tỉ lệ mở bụng không điều trị và những biến chứng của những phẫu thuật tưởng chừng như

vô hại này(1,22)

Nghi ngờ hay xác định vỡ cơ hoành bằng các phương tiện chẩn đoán khác

Khi cơ hoành vỡ, các tạng trong ổ bụng thoát

vị qua chỗ vỡ; Xquang bụng-ngực không sửa soạn, hình ảnh ngực-bụng dưới màn huỳnh quang, Xquang cản quang uống, CT scan ngực-bụng có thể phát hiện các tạng thoát vị lên lồng ngực Đây là các phương tiện chẩn đoán hình ảnh kinh điển mà bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện Trong chỉ định này, chúng tôi có 2 trường hợp được PTNS xác định vỡ hoành bên trái, các tạng

bị kéo lên lồng ngực qua chỗ vỡ; kéo nhẹ các tạng về ổ bụng sẽ thấy rõ đường vỡ Qua chỗ vỡ,

Trang 8

thấy được khoang màng phổi và nhu mô phổi

Cả 2 trường hợp này rất khó khăn để khâu được

chỗ vỡ hoành vì vị trí vỡ sát chỗ bám của cơ

hoành lên thành ngực khiến cho tầm nhìn bị

khuất, góc thao tác bị hạn chế; cả hai đều phải

mở bụng để xử trí thương tổn cơ hoành Chúng

tôi chưa có nhiều kinh nghiệm khâu tái tạo cơ

hoành bằng PTNS

Vết thương bụng

Chỉ định mở bụng thám sát thường quy

cho vết thương thấu bụng hay nghi ngờ thấu

bụng không còn được ủng hộ trên thế giới

(22,25,9) Theo Mitsuhide (17), với chế độ theo dõi

lâm sàng thích hợp, tỉ lệ mở bụng trắng có thể

được hạ thấp xuống còn 11% Tại BV Chợ Rẫy,

con số này còn ở mức 35% (2008-2009) Vì thế

chúng tôi lựa chọn bệnh nhân theo các tiêu

chuẩn trên nhằm giảm số ca mở bụng không

điều trị

Nghi ngờ vết thương thấu bụng:

Đối với vết thương thành bụng trước,

thám sát tính chất thấu bụng tương đối dễ

dàng Đối với vết thương tiếp tuyến, việc thám

sát lại rất khó khăn do đường đi của vết

thương xuyên thành bụng một đoạn dài Vì

thế chỉ định nội soi những trường hợp này

nhằm xác định lá phúc mạc có bị tổn thương

hay không và tìm tạng thương tổn

Trong 22 ca, PTNS cho thấy 13 ca không

tổn thương lá phúc mạc Chúng tôi chỉ cần 1

trocar ở rốn và ống soi 30o đủ cho phép thám

sát toàn bộ lá phúc mạc và tình trạng chung ổ

bụng Hậu phẫu nhẹ nhàng, bệnh nhân có thể

xuất viện sau 1 ngày Thiết nghĩ cần triển khai

rộng rãi nội soi ổ bụng cho chỉ định này Còn

lại 9 ca có thủng phúc mạc, thêm 2 trocar nữa

để đánh giá chi tiết thương tổn; kết quả 4 ca

không tổn thương tạng 2 ca rách gan, 1 ca

thủng ruột non, 1 ca rách gan kèm thủng túi

mật và rách động mạch vị mạc nối phải đang

chảy máu Tất cả đều xử trí được bằng PTNS

ngoại trừ ca rách gan sâu có thủng túi mật

phải chuyển mở bụng Tỉ lệ xử trí bằng PTNS

là 21/22 ca (91%)

Nghi ngờ tổn thương tạng ở bệnh nhân có bằng chứng vết thương thấu bụng

Có 72 ca được chọn (0) Vết thương được gọi

là thấu bụng khi có tổn thương phúc mạc thành, biểu hiện lâm sàng bằng các triệu chứng như lòi tạng ra ngoài vết thương, thám sát tại chỗ thấy thủng lá phúc mạc thành hay các dấu hiệu tổn thương tạng trong ổ bụng như nôn ra máu, tiêu – tiểu ra máu, tụt huyết áp hoặc có các biểu thấu bụng trên chẩn đoán hình ảnh như liềm hơi tự

do trên Xquang bụng hay CT scan, dịch tự do trong ổ bụng trên siêu âm hay CT scan Tuy nhiên, vết thương thấu bụng không có nghĩa là

có tổn thương tạng Chúng tôi chỉ chọn những ca thấu bụng có khả năng tổn thương tạng bụng hay thương tổn tương đối ổn định theo tiêu chuẩn đã chọn Kết quả có 5 ca chỉ rách phúc mạc rất nhỏ, chủ yếu là tụ máu sau phúc mạc; 27

ca thủng phúc mạc nhưng tạng ổ bụng không bị tổn thương, nghĩa là 32 ca (44,4%) trong chỉ định này là đơn thuần là PTNS chẩn đoán 40 ca có tổn thương tạng theo 0, tất cả đều xử trí được bằng PTNS trừ 4 trường hợp phải mở bụng: 1 ca thủng dạ dày rộng và rách tuỵ, thức ăn đổ vào ổ bụng nhiều; 1 thủng ruột non nhiều nơi, dịch tiêu hoá và giả mạc nhiều; 1 ca thủng cơ hoành,

dạ dày, vỡ lách Đặc biệt 1 ca thủng cơ hoành, thủng dạ dày, vỡ lách; mở bụng phát hiện thêm thủng đại tràng Ngoài ra có 2 ca thủng ruột non

và 2 ca thủng đại tràng cần PTNS hỗ trợ Do đó tỉ

lệ PTNS chẩn đoán và điều trị cho chỉ định này

là 64/72 ca (88,8%) Thời gian nằm viện trung bình 4 ngày, chỉ một trường hợp tụ dịch trong gan sau PTNS được điều trị nội khoa ổn định Không có biến chứng phẫu thuật và tử vong Rõ ràng tính an toàn và chất lượng điều trị được đảm bảo Không chỉ thế, kết quả 88,8% xử trí hoàn toàn bằng PTNS rút ngắn thời gian nằm viện, giảm số lượng mở bụng không điều trị Sẹo

mổ rất nhỏ cũng là một ưu điểm nổi bật của PTNS trong chỉ định này

Trang 9

Vết thương ngực – bụng nghi ngờ tổn

thương cơ hoành

Trước dây, nhiều tác giả khuyến cáo không

nên sử dụng PTNS bơm CO2 vì lo ngại biến

chứng tràn khí màng phổi áp lực Nghiên cứu

thực nghiệm của James E Wiederman(27) cho thấy

nếu ta lưu ý đến vấn đề này, biến chứng này có

thể tránh được Sau tham khảo thành công của

các tác giả khác(11,18), chúng tôi áp dụng PTNS cho

các trường hợp vết thương ngực – bụng 26 ca

trong 0 trong chỉ định này, trong đó có 2 ca

PTNS lồng ngực Kết quả, 13 ca không thủng

hoành, PTNS chỉ thám sát; còn lại 13 ca thủng

hoành được tiến hành thám sát toàn thể ổ bụng

Chúng ta có thể hoàn toàn tin tưởng vào kết quả

loại trừ qua PTNS đối với thương tổn cơ

hoành(11,18) Các thương tổn kèm theo được phát

hiện gồm 6 vết thương gan (thủng hoành phải),

3 vết thương lách, 5 thủng dạ dày, 2 thủng đại

tràng, 1 vết thương tụy, 1 rách thanh mạc ruột

non Tất cả đều xử trí được bằng PTNS 2 trường

hợp cần phối hợp PTNS lồng ngực bên tổn

thương để rửa dịch tiêu hóa và cầm máu khoang

ngực Chỉ duy nhất ca thủng hoành phải kèm vết

thương gan hạ phân thùy 7 -8 sâu phải mở bụng

xử trí Tỉ lệ PTNS chẩn đoán và điều trị trong chỉ

định này là 25/26 ca (96,1%)

Giá trị xử trí thương tổn tạng bằng PTNS

Đối với tạng đặc

Gan

Có 36 tổn thương gan, trong đó 11 vỡ gan độ

1- 3, 25 vết thương gan

Theo Leniot, Pilgrim, Usatoff(20), 50% vỡ gan

độ 4 và 70% vỡ gan độ 5 có khả năng điều trị bảo

tồn thất bại cần can thiệp lại, 10% bị mổ lại do dò

dịch mật vào trong ổ bụng, dẫn lưu các ổ tụ dịch

không đủ (40% thất bại) nên cần mở bụng dẫn

lưu PTNS rửa bụng và dẫn lưu sẽ hiệu quả,

tránh được mở bụng lớn 80% các trường hợp vỡ

gan độ 1 – 3 tự cầm Trong nghiên cứu có 5

trường hợp vỡ gan độ 1 – 2, đang chảy máu ít,

chúng tôi cầm máu bằng dùng dao điện đốt

điểm; 2 trường hợp vỡ gan độ 3 được cầm máu

bằng khâu chỉ tan chậm 1.0 Theo chúng tôi, các trường hợp vỡ gan độ 1-3 có thể tự cầm, chỉ cần can thiệp cầm máu khi tổn thương vẫn đang chảy máu khi PTNS Các thương tổn phân bố khắp các thùy gan nhưng hầu như các vị trí và tính chất chảy máu đều có thể quan sát qua nội soi rõ ràng 4 trường hợp vỡ gan độ 3-4 chảy máu nhiều có hay không đang kèm rách thanh mạc ruột non phức tạp, không cầm máu qua nội soi được phải chuyển sang mổ kinh điển

Tất cả vết thương gan đều cần được xử trí

vì vết thương thường sâu, rách ngang mạch máu, chảy máu hiếm khi tự cầm Trong nghiên cứu 25 vết thương gan, qua PTNS chúng tôi đốt cầm máu và khâu vết thương gan thành công cho 23 ca (92%)

Lách

Lách khó quan sát hơn gan, đặc biệt bờ sau trên và mặt sau rốn nhưng các dấu hiệu gián tiếp như máu cục dưới hoành trái là chỉ điểm tốt thương tổn lách

Đặc điểm của tổn thương lách trong nghiên cứu của chúng tôi thường từ độ 1-3, chảy máu thường đã tự cầm hay rỉ rả nên khả năng can thiệp được bằng PTNS cao

15 ca vỡ lách trong nghiên cứu: 7 ca vỡ độ 1-2 cầm máu được bằng đốt điện; 3 ca vỡ độ 2-3 cầm máu bằng khâu bằng chỉ PDS 3.0 qua PTNS 5 ca

vỡ lách độ 1-2 được thấy đã tự cầm, chúng tôi đặt thêm 1 mảnh Surgicell để “dán” lên tổn thương giúp tránh chảy máu lại

7 ca vết thương lách, 5 vết thương lách được khâu cầm máu bằng chỉ PDS 3.0 qua PTNS 2 vết thương lách còn lại có chỉ định mở bụng do tổn thương khác (cơ hoành, dạ dày)

PTNS cắt lách cần nhiều thiết bị hiện đại như dao siêu âm, dao cắt và khâu nội soi, kẹp Bulldog khống chế bó mạch lách, dao Argon để cầm máu bề mặt cắt lách, máy lọc máu hoàn hồi…Vì vậy dù cắt lách chọn lọc (mổ chương trình), chúng tôi đã dùng PTNS cắt lách thành thạo nhưng chưa dùng cho cấp cứu

Trang 10

Tụy

Tụy nằm sau phúc mạc cũng không nằm

ngoài tầm kiểm soát của nội soi Vào hậu cung

mạc nối qua dây chằng vị đại tràng, tạo cửa sổ ở

vùng vô mạch của dây chằng, sau đó dùng hai

kẹp không sang chấn để nâng bờ cong lớn của

dạ dày và cho ống soi vào hậu cung mạc nối qua

cửa sổ này là có thể quan sát được toàn bộ mặt

trước tụy Chỉ kiểm tra hậu cung mạc nối khi

nghi ngờ thương tổn tụy với các dấu hiệu gián

tiếp ở phía trước như dạ dày bị đội lên cao ra

phía trước (tư thế nằm), vảy nến hay có dịch

máu trong bụng mà không phát hiện thương tổn

nào khác Như vậy hoàn toàn có thể chẩn đoán

thương tổn tụy qua nội soi Tuy vậy, do số lượng

ít, chưa dám kết luận về độ nhạy và chuyên biệt

trong chẩn đoán Thường những chấn thương

tụy độ 1-2 thường ít gây biến chứng nặng, có thể

gây viêm tụy cấp hay nang giả về sau Trong

nghiên cứu, có 3 trường hợp dập tụy độ 1-2 được

rửa dẫn lưu hậu cung mạc nối và 1 vết thương

tụy khâu cầm máu và phòng ngừa rò tụy 1 vết

thương tụy phải mở bụng vì kèm vết thương lớn

dạ dày gây viêm phúc mạc Tuy nhiên sau PTNS

tụy, 1 ca phải mở bụng do tụ dịch tụy trong hậu

cung mạc nối Chúng tôi không gặp tổn thương

tụy độ 3-4 cần cắt tụy trong nghiên cứu

Đối với tạng rỗng

Vì vấn đề này còn mới, chỉ chọn các lỗ thủng

vỡ ống tiêu hoá có mép gọn và nhỏ hơn ½ khẩu

kính Đối với các thương tổn cần cắt đoạn hay

nối ống tiêu hoá, chọn vị trí gần thành bụng, tạo

một đường mổ nhỏ để đưa thương tổn ra ngoài

xử lý; sau đó đưa lại vào trong ổ bụng cũng

mang một ý nghĩa nhất định của nội soi Đặc

biệt, tất cả các vỡ bàng quang trong phúc mạc

đều có thể xử trí tốt bằng nội soi

Ruột non

22 ca thương tổn ruột non (10 vỡ, 12

thủng) 8 ca vỡ và 11 thủng ruột non (86,4%)

xử trí được bằng PTNS hay PTNS hỗ trợ Xử

trí bao gồm khâu đơn giản một lớp bằng vicryl

3.0 qua PTNS (16 ca) và đưa ruột non tổn

thương ra ngoài qua vết rạch thành bụng 3 – 4

cm bờ ngoài cơ thẳng bụng, cắt nối ruột bằng vicryl 3.0 hoặc PDS 4.0, rồi đưa lại vào ổ bụng bằng PTNS có hỗ trợ (3 ca)

28/29 ca (96,6%) tổn thương thanh mạc hay mạc treo ruột non trong nghiên cứu được xử trí hoàn toàn bằng PTNS khâu bằng chỉ vicryl 3.0 Trong 28 ca này, có 1 ca sau khi khâu mạc treo, nghi ngờ thiếu máu nuôi thành ruột, PTNS được thực hiện lần 2 (sau 12 giờ) để kiểm tra, không ghi nhận bất thường của vùng ruột có liên quan

Ruột già

6/8 (75%) thương tổn ruột già xử trí được bằng PTNS hoặc PTNS hỗ trợ PTNS (4 ca) thủng nhỏ (<2cm) sạch, được khâu ruột 1 lớp chỉ PDS 4.0 PTNS hỗ trợ cho 2 ca thủng lớn (>2cm), không sạch được làm hậu môn tạm

Tất cả tổn thương thanh mạc ruột già (7 ca) ngắn 2cm đến dài 10 cm đều khâu được bằng PDS 4.0 qua PTNS

Dạ dày

10/13 ca tổn thương dạ dày mặt trước hay sau khâu được qua PTNS Kỹ thuật khâu mặt trước đơn giản 2 lớp bằng vicryl 3.0; mặt sau phải vào được hậu cung mạc nối qua ngả bờ cong lớn dạ dày thám sát và khâu 2 lớp bằng vicryl 3.0 Tổn thương dạ dày thường xử trí được bằng PTNS trừ khi tổn thương dài trên 3 cm, bẩn, hay nằm ở mặt sau gần tâm vị, hoặc vùng hang vị sát đầu tụy khiến khó tiếp cận để xử trí

Túi mật

Nhờ kinh nghiệm cắt túi mật bằng PTNS, chúng tôi dễ dàng cắt túi mật bị tổn thương cho 2/3 ca tổn thương túi mật

Bàng quang

50/50 (100%) ca vỡ bàng quang trong phúc mạc được phẫu thuật viên niệu khoa khâu 2 lớp, chỉ vicryl 2.0 được bằng PTNS Không cần mở bàng quang ra da, chỉ đặt thông tiểu

Can thiệp điều trị thương tổn cơ hoành

Trong 272 ca nghiên cứu, chúng tôi đều thực

Ngày đăng: 22/01/2020, 14:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w