1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nguy cơ sâu răng của trẻ 9-10 tuổi có sâu răng cao tại Quận Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh

9 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 438,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu trình bày về việc khảo sát ảnh hưởng của nước bọt lên sự phân cực sâu răng ở trẻ em tại Việt Nam vẫn còn khá hiếm. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm đặc điểm yếu tố nước bọt giữa 2 nhóm học sinh 9-10 tuổi sâu răng thấp và sâu răng cao tại Bình Chánh.

Trang 1

NGUY CƠ SÂU RĂNG CỦA TRẺ 9-10 TUỔI CÓ SÂU RĂNG CAO TẠI QUẬN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thị Ngọc Diệp*, Ngô Thị Quỳnh Lan**

TÓM TẮT

Việc khảo sát ảnh hưởng của nước bọt lên sự phân cực sâu răng ở trẻ em tại Việt Nam vẫn còn khá hiếm

Mục tiêu: So sánh đặc điểm yếu tố nước bọt giữa 2 nhóm học sinh 9-10 tuổi sâu răng thấp và sâu răng cao tại

Bình Chánh

Phương pháp nghiên cứu: Chọn mẫu thuận tiện gồm toàn bộ 338 học sinh 9, 10 tuổi tại trường Nguyễn

Văn Trân để đánh giá tình trạng sâu răng, sau đó lọc ra 153 học sinh vào hai nhóm (nhóm SR thấp: 62 học sinh

có SMT-R=0 hoặc smt-r ≤1; Nhóm SR cao có 91 học sinh có SMT-R và smt-r ≥SiC) Ghi nhận tình trạng xoang sâu (theo tiêu chí của WHO, 1997); thu thập nước bọt của học sinh ở cả 2 nhóm SR thấp và SR cao, sử dụng bộ Saliva check -GC Nhật Bản để đo lường các đặc điểm gồm: lưu lượng nước bọt không kích thích và kích thích;

pH, khả năng đệm và độ nhớt nước bọt

Kết quả: Tỷ lệ sâu răng rất cao, 86,4%, smt-r và SMT-R lần lượt là 3,08±2,6 và 0,97±1,31 Chỉ số SiC là

7,71; Trung bình pH nước bọt không kích thích ở nhóm sâu răng thấp là 7,31±0,476, cao hơn có ý nghĩa thống kê

so với nhóm sâu răng cao là 6,86± 0,65; tương tự, pH nước bọt có kích thích ở nhóm sâu răng thấp là 7,62±0,337, nhóm sâu răng cao là 7,21±0,609; Trung bình lưu lượng nước bọt kích thích của nhóm sâu răng thấp và sâu răng cao là 1,07±0,45 và 0,94± 0,42 (p>0,05)

Kết luận: yếu tố pH nước bọt không kích thích thấp, trung bình và yếu tố lưu lượng nước bọt thấp là 2 yếu

tố nguy cơ có liên quan đến tình trạng sâu răng nhiều nhất

Từ khóa: nguy cơ sâu răng, yếu tố nước bọt

ABSTRACT

RISK FACTORS ASSOCIATED WITH SEVERE CARIES AMONG 9-10 YEARS-OLD CHILDREN IN

BINH CHANH DISTRICT, HCMC

Nguyen Thi Ngoc Diep, Ngo Thi Quynh Lan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 146 - 154

There have been but few investigations into the role of saliva in the different categories of caries-bearing among Vietnamese children

Objectives: the aim of this study was to compare saliva factor in 2 groups of 9-10 years-old school children

with low and high prevalence of caries in Binh Chanh

Materials and method: a convenient population of 338 children aged 9-10 was selected from Nguyen Van

Tran primary school to evaluate dental caries, among which 153 children were divided into 2 groups (low caries:

62 children with DMF-T=0 or dmf-t≤1, high caries: 91 children with DMF-T and dmf-t≥SiC) Caries were recorded according to WHO 1997 and saliva was collected with Saliva check by GC, Japan to evaluate non-stimulated and non-stimulated saliva flow, pH, buffering capacity and viscosity

Results: very high caries were observed in 86,4% with dmf-t and DMF-T at 3.08±2.6 and 0.97±1.31

* Bệnh Viện RHM TW tại TP HCM, ** Khoa RHM, Đại Học Y dược TP HCM

Tác giả liên lạc: PGS.TS Ngô Thị Quỳnh Lan, ĐT: 0903125864, Email: ngothiquynhlan@yahoo.com

Trang 2

respectively SiC was 7.71 pH of non-stimulated saliva in low caries group was 7.31±0.476, which was significantly higher than in high caries group at 6.86± 0.65; pH of stimulated saliva was 7.62±0.337 in low caries group at 7.21±0.609 in high caries group Stimulated saliva flow was 1.07±0.45 in low caries group and 0.94± 0.42 (p>0.05) in high caries group

Conclusions: low and average pH of non-stimulated saliva as well as low saliva flow were 2 risk factors of

caries

Keywords: caries risk, saliva factor

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sâu răng được ghi nhận là một trong

những bệnh phổ biến trên thế giới, nhất là khu

vực Châu Á và Mỹ La Tinh Liên đoàn Nha

khoa quốc tế (FDI) cũng cảnh báo nước ta là một

trong những nước có tỷ lệ trẻ em mắc bệnh sâu

răng cao nhất trên thế giới hiện nay

Trong các yếu tố sinh học, nước bọt đóng vai

trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe răng

miệng, sự thay đổi một hoặc vài yếu tố nước bọt

có thể làm xáo trộn cân bằng môi trường miệng,

ảnh hưởng đến khả năng khởi phát sang thương

sâu răng, sự trầm trọng cũng như khả năng lành

thương sâu răng (chỉ trong giai đoạn chưa thành

lổ sâu) trong cơ chế mất khoáng và tái khoáng

Khảo sát vai trò nước bọt trong mối liên

quan với bệnh sâu răng khá phổ biến ở nhiều

nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam

trong những năm gần đây (Jentsch và cs, 2003;

Cao Hữu Tiến, 2002; Lê Võ Yến Nhi 2006;

Nguyễn Bạch Dương, 2007; Ngô Uyên Châu,

2006; Trần Thị Bích Vân, 2008)(3,10,14,15,18) Đa số các

nghiên cứu ở Việt Nam thiên về hướng xét các

tính chất nước bọt cùng với tình trạng sâu răng

của trẻ, sau đó tìm xem yếu tố nước bọt nào là

yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sâu răng

Tuy nhiên, việc khảo sát ảnh hưởng của yếu

tố sinh học này lên sự phân cực sâu răng trong

cộng đồng, đặc biệt ở trẻ em vẫn còn khá hiếm

Vì vậy nghiên cứu được thực hiện trên nhóm

học sinh 9-10 tuổi trường tiểu học Nguyễn Văn

Trân, huyện Bình Chánh TPHCM, với mục tiêu

tổng quát: So sánh đặc điểm yếu tố nước bọt

(pH nước bọt không kích thích, độ nhớt nớc bọt

không kích thích, pH nước bọt kích thích, khả

năng đệm nước bọt, độ nhớt nước bọt, lưu

lượng nước bọt kích thích) giữa 2 nhóm học sinh 9-10 tuổi sâu răng thấp và sâu răng cao tại trường này

Mục tiêu cụ thể

- Mô tả tỉ lệ và mức độ trầm trọng sâu răng của học sinh 9-10 tuổi tại trường

- So sánh đặc điểm yếu tố nước bọt (pH nước bọt không kích thích, độ nhớt nước bọt không kích thích, pH nước bọt kích thích, pH mảng bám, khả năng đệm nước bọt, độ nhớt nước bọt, lưu lượng nước bọt kích thích) giữa 2 nhóm học sinh 9-10 tuổi sâu răng thấp và sâu răng cao tại trường

- Xác định mối liên quan của yếu tố nước bọt nêu trên với tình trạng sâu răng cao của học sinh 9-10 tuổi tại trường

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện tại Trường tiểu học Nguyễn Văn Trân, huyện Bình Chánh, Tp.HCM với thiết kế cắt ngang mô tả

Đối tượng nghiên cứu

Học sinh 9-10 tuổi đang học tại trường tiểu học Nguyễn Văn Trân Đối với nghiên cứu điều tra mẫu gồm toàn bộ 338 học sinh 9, 10 tuổi; Cỡ mẫu trong giai đoạn phân tích gồm 153 học sinh đáp ứng tiêu chí chọn vào hai nhóm (62 học sinh sâu răng thấp có SMT-R=0 hoặc smt-r ≤ 1; 91 học sinh sâu răng cao có SMT-R và smt-r ≥ SiC)

Quy trình nghiên cứu

Bước 1: khám lâm sàng tình trạng sâu răng của 338 học sinh 9-10 tuổi trong mẫu nghiên cứu theo tiêu chí WHO (1997), ngay tại trường học Bước 2: sàng lọc cá thể nghiên cứu vào 2 nhóm sâu răng thấp và sâu răng cao

Trang 3

(SMT-R≥SiC) Loại bỏ ra khỏi mẫu các cá thể có sâu

răng thấp và trung bình (1≤ SMT-R< SiC)

Bước 3: thu thập nước bọt của học sinh ở cả 2

nhóm, sử dụng bộ Saliva check -GC Nhật Bản

để đo lường các đặc điểm gồm: lưu lượng nước

bọt không kích thích và kích thích; pH, khả năng

đệm và độ nhớt nước bọt

Bước 4: Phân tích và so sánh các đặc điểm

nêu trên bằng những phương pháp thống kê

thích hợp

Đánh giá tình trạng sâu răng

Ghi nhận tình trạng xoang sâu (theo tiêu chí

của WHO, 1997), tính:

1 Tỷ lệ % sâu răng toàn bộ: là tỷ lệ % số

người hiện mắc trong cộng đồng

2 Chỉ số sâu mất trám: là chỉ số nhằm xác

định tình trạng sâu răng quá khứ và hiện tại

3 Chỉ số SiC (chỉ số sâu răng đáng kể): là chỉ

số bổ sung cho chỉ số SMT (smt), nhằm đề cập

đến những cá thể có nguy cơ sâu răng cao trong

quần thể (SiC là số trung bình SMT-R (smt-r) của

1/3 quần thể có SMT-R (smt-r) cao nhất)

Đánh giá các đặc điểm nước bọt

Độ nhớt nước bọt

Độ nhớt cao: Đặc, quánh có bọt, nước bọt

kéo thành sợi dài > 5cm

Độ nhớt trung bình: Nhày, không đọng lại,

nước bọt kéo thành sợi ngắn < 5cm

Độ nhớt thấp: Loãng như nước, tạo lớp bóng

ở sàn miệng, nước bọt không tạo thành sợi, đứt

đoạn ngay khi kéo lên

Xác định pH nước bọt

Đo bằng giấy chỉ thị màu, nhúng mảnh giấy

chỉ thị màu vào mẫu nước bọt trong 10 giây, đối

chiếu màu của giấy quỳ với bảng mẫu của nhà

sản xuất

pH = 5,0-5,8: pH thấp, pH = 6,0-6,6: pH trung

bình, pH = 6,8-7,8: pH cao

Lưu lượng không kích thích nước bọt nhổ ra sau 5 phút

<3,5ml: lưu lượng nước bọt thấp

3,5-5ml: lưu lượng nước bọt trung bình

>5,0ml: lưu lượng nước bọt cao

Đo khả năng đệm của nước bọt (bằng bộ Saliva check của hãng GC Nhật Bản)

Theo hướng dẫn của nhà sản xuất (giấy chỉ thị màu); xếp hạng khả năng đệm của nước bọt: 0-5 điểm: khả năng đệm thấp

6-9 điểm: khả năng đệm trung bình

10-12 điểm: khả năng đệm cao

Dùng phần mềm SPSS 15.0 để xử lý số liệu

KẾT QUẢ - BÀN LUẬN Tình trạng sâu răng

Tỷ lệ % sâu răng toàn bộ

Tỷ lệ % sâu răng của học sinh 9-10 tuổi trong mẫu nghiên cứu là 86,4%, trong đó tỷ lệ % sâu răng của học sinh 9 tuổi và 10 tuổi lần lượt là 90% và 83,1% Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về phân bố tỷ lệ % sâu răng giữa học sinh nam và nữ ở nhóm học sinh 9 tuổi, nhóm 10 tuổi và học sinh 9-10 tuổi (p>0,05) (bảng 1)

Bảng 1: Tỷ lệ % sâu răng toàn bộ

Có SR

N (%)

Không

SR

n (%)

Có SR

n (%)

Không

SR

n (%)

Có SR

N (%)

Không

SR

N (%)

Nam (89,5%)77 (10,5%)9 (83,7%) 87 (16,3%) 17 (86,3%)164 (15,7%)26

Nữ (90,5%)67 7 (9,5%)(82,4%) 61 (17,6%) 13 (86,5%)128 (13,5%)20 Chung (90%) 144 (10%) 16 (83,1%) 148 (16,9%) 30 (86,4%)292 (13,6%)46

P (nam/

nữ) 0,833 0,83 0,964

Kiểm định 2

Mức độ bệnh sâu răng

Mức độ bệnh sâu răng của quần thể được đánh giá qua SMT-R, smt-r và SiC Ở nhóm 10 tuổi, sự khác biệt về trung bình SMT-R, smt-r giữa trẻ nam và nữ có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Trang 4

Bảng 2: Trung bình sâu mất trám của mẫu nghiên cứu

Smt-r SMT-R smt-r SMT-R smt-r SMT-R

TB±ĐLC TB±ĐLC TB±ĐLC TB±ĐLC TB±ĐLC TB±ĐLC

Nam 3,87±2,85 0,77±1,13 2,64±2,45 0,92±1,25 3,2±2,7 0,85±1,2

Nữ 3,95±2,68 0,86±1,24 1,91±2,12 1,38±1,55 2,93±2,62 1,12±1,42

Chung 3,91±2,76 0,81±1,18 2,34±2,34 1,11±1,4 3,08±2,6 0,97±1,31

P nam/nữ 0,867 0,605 0,033 0,039 0,384 0,066

Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

Kết quả SiC ở bảng 3.5 cho thấy không có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số SiC giữa

nam và nữ ở cả hệ răng sữa và răng vĩnh viễn

của học sinh 9 tuổi, 10 tuổi và học sinh 9-10 tuổi

(p>0,05) Ngoại trừ SiC răng sữa ở trẻ 9 tuổi và

trẻ 9-10 tuổi có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

cao (p<0,05) (bảng 3)

Bảng 3: SiC của mẫu nghiên cứu

9 tuổi

SiC sữa 7,21±2,01 5,93±1,76 6,43±1,95 0,006

SiC vĩnh viễn 2,29±1,04 2,24±1,05 2,27±1,04 0,864

SiC chung 8,1±2,26 7,85±1,97 7,97±2,1 0,639

10 tuổi

SiC sữa 6,31±1,23 5,92±1,44 6,2±1,29 0,38

SiC vĩnh viễn 2,52±1,03 2,97±1,08 2,73±1,07 0,09

SiC chung 7,55±1,88 7,14±1,98 7,38±1,91 0,46

9-10 tuổi

SiC sữa 6,75±1,7 5,93±1,68 6,34±1,69 0,01

SiC vĩnh viễn 2,42±1,03 2,64±1,12 2,53±1,08 0,276

SiC chung 7,83±2,08 7,57±1,99 7,71±2,05 0,506

Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

Điều này chứng tỏ trong cộng đồng này có ít

nhất là 1/3 số cá thể có SMT-R, smt-r rất cao bên

cạnh những trẻ sâu răng thấp, một sự phân cực

rõ rệt về mức độ bệnh Vì vậy giá trị SMT-R,

smt-r không thể là đặc trưng của mẫu khi đánh

giá về mức độ của bệnh So sánh với các nghiên

cứu khác(2,10,14,15), tỷ lệ bệnh trong nghiên cứu cao

hơn rất nhiều

So sánh đặc điểm nước bọt giữa hai nhóm sâu răng thấp và sâu răng cao

So sánh trung bình pH nước bọt không kích thích, nước bọt kích thích

Bảng 3: So sánh trung bình pH nước bọt giữa 2

nhóm sâu răng thấp và sâu răng cao

pH

Nước bọt không

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Trung bình

Độ lệch chuẩn

Nhóm sâu răng thấp 7,31 0,476 7,62 0,337 Nhóm sâu

răng cao 6,86 0,65 7,21 0,609

P <0,001 <0,001

Kiểm định t cho 2 mẫu độc lập

pH nước bọt là chỉ số thể hiện độ axit hay kiềm của nước bọt Bình thường, pH tới hạn pH mà tại

đó nước bọt bão hòa với apatite men răng (Dawes, 1996)(4) của hydroxyapatide là 5,5 gần bằng với pH nước bọt không kích thích, pH nước bọt không kích thích thấp hơn mức độ này có thể xảy ra sự mất khoáng Trong nghiên cứu này, kết quả pH nước bọt không kích thích của nhóm sâu răng thấp

và sâu răng là 7,31 ± 0,476; 6,86 ± 0,65 Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về trung bình pH nước bọt không kích thích giữa hai nhóm sâu răng thấp và sâu răng cao Khi so sánh kết quả pH không kích thích với các nghiên cứu khác, nhận thấy có các kết quả khác nhau, cao hơn kết quả của Bùi Đăng Quốc Thái (2003)(2), Mohammad (2008)(13), Sanchez (2003)(17) và tương đương với Tulunoglu (2006)(19), Preethi (2010)(16) Có lẽ do nghiên cứu ở các độ tuổi khác nhau, nên cho kết quả khác nhau, nhưng nhìn chung các nghiên cứu khi so sánh giữa hai nhóm sâu răng thấp và sâu răng cao thì trung bình pH không kích thích ở nhóm sâu răng thấp luôn cao hơn nhóm sâu răng cao

Trang 5

Bảng 3: So sánh trung bình pH nước bọt không kích thích giữa nghiên cứu này và các nghiên cứu khác

Nhóm SR thấp Nhóm SR cao

Tulunoglu (2006) Thổ Nhĩ Kì 7-10 tuổi Nữ: 7,26±0,45

Nam:7,03±0,43

Nữ: 7,18±0,2 Nam: 7,22±0,33 Preethi (2010) Ấn Độ 7-10 tuổi Nữ: 7,15±0,15

Nam: 7,28±0,34

Nữ: 7,07±0,43 Nam: 7,24±0,45 Mohammad (2008) Iran ≥43 tuổi 6,76±0,03 6,67±0,03 Sanchez (2003) Argentina 4-10 7,12±0,05 6,55±0,07 Bùi Đăng Quốc Thái (2003) Tp.HCM 6-8 tuổi 6,76±0,38 6,5±0,34 Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2010) Huyện Bình Chánh 9-10 tuổi 7,31±0,476 6,86±0,65 Khi so sánh phân bố các mức pH nước bọt

không kích thích giữa hai nhóm sâu răng thấp

và sâu răng cao: tỷ lệ % học sinh có pH thấp

trong nhóm sâu răng cao là 11%, cao hơn rất

nhiều so với nhóm học sinh sâu răng thấp, chỉ có

1,6% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự

phân bố các mức pH không kích thích giữa hai

nhóm học sinh này Kết quả này tương tự với

kết quả của Gopinath, 2006(9) Kết quả này góp

phần chứng minh những cá thể pH nước bọt

thấp có nguy cơ sâu răng cao thể hiện tình trạng

sâu răng cao Về pH nước bọt kích thích cũng

được phân thành ba mức độ thấp, trung bình và

cao Trong đó, đa số học sinh có pH cao, kế đến

là nhóm có pH trung bình và thấp nhất là nhóm

có pH thấp Khi so sánh phân bố các mức pH

kích thích giữa hai nhóm sâu răng và sâu răng

thấp, nhận thấy tỷ lệ % học sinh có pH thấp và

trung bình ở hai nhóm tương ứng là 27,5% và

4,8% Nghĩa là ở nhóm sâu răng cao, có tỷ lệ %

học sinh có pH thấp (nguy cơ sâu răng cao) thì

nhiều hơn nhóm sâu răng thấp

So sánh trung bình lưu lượng nước bọt kích

thích giữa hai nhóm sâu răng thấp và sâu

răng cao

Kết quả cho thấy lưu lượng nước bọt trung

bình của nhóm sâu răng thấp là 1,07ml/phút,

nhóm sâu răng cao là 0,94 Không có sự khác

biệt có ý nghĩa thống kê về trung bình lưu lượng

nước bọt kích thích giữa nhóm sâu răng thấp và

sâu răng cao (p>0,05)

Liên quan giữa lưu lượng nước bọt kích

thích và sự gia tăng sang thương sâu răng đã

được nghiên cứu một cách rộng rãi Thiếu nước

bọt hoàn toàn, khô tuyến, hoặc lưu lượng nước bọt kích thích thấp có thể dẫn đến kết quả tăng nguy cơ sâu răng trầm trọng Hầu hết các nghiên cứu tìm thấy tương quan nghịch giữa lưu lượng nước bọt và nguy cơ sâu răng, và đã được chứng minh ở một số nghiên cứu cắt ngang Tuy nhiên, điều này không hẳn luôn luôn xảy ra, một vài nghiên cứu lại cho thấy mối liên quan yếu, hoặc không có ý nghĩa thống kê giữa lưu lượng nước bọt và sâu răng xảy ra ở nhóm thanh thiếu niên từ 15-18 tuổi Theo kết quả nghiên cứu, lưu lượng nước bọt kích thích trung bình ở nhóm học sinh sâu răng thấp và nhóm học sinh sâu răng cao là 1,07± 0,45 và 0,94± 0,42 Không có sự khác biệt có ý nghĩa về trung bình lưu lượng nước bọt kích thích giữa hai nhóm học sinh này Điều này có thể được giải thích là do giới hạn bình thường của lưu lượng nước bọt là rất lớn, nên giữa các cá thể khỏe mạnh bình thường, sự chênh lệch về giá trị này cũng rất lớn (Dawes, 1996)(4) Theo Dawes, 1996: nhóm sâu răng cao có lưu lượng nước bọt thấp có thể do kết hợp với các yếu tố khác như thiếu lượng nước, thiếu kích thích đến tuyến nước bọt hoặc vấn đề của chính tuyến nước bọt Thật ra, cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu

rõ về cơ chế sinh học của sự thay đổi này Nhưng một điều mà hầu như các tác giả đều đồng ý là khi lưu lượng nước bọt nhiều thì khả năng làm sạch cơ học của nước bọt càng tăng, tốc độ làm sạch các mảnh vụn thức ăn, làm sạch đường và các sản phẩm axit sinh ra từ sự lên men đường của vi khuẩn càng cao, do đó sâu răng càng giảm Trong nghiên cứu này, nhóm

Trang 6

thích cao hơn nhóm trẻ sâu răng cao, nhưng

khác biệt không có ý nghĩa Kết quả cũng phù

hợp với nghiên cứu Cao Hữu Tiến, 2002(3);

Akpata, 2009(1) Nhưng kết quả này khác với

Sanchez, 2003(17), cho rằng có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về trung bình lưu lượng nước

bọt kích thích giữa hai nhóm sâu răng thấp và

sâu răng cao Các nghiên cứu thực hiện trên các

lứa tuổi khác nhau, nhưng nhìn chung, thì lưu

lượng nước bọt ở nhóm sâu răng thấp luôn cao

hơn nhóm sâu răng cao

Khả năng đệm nước bọt kích thích

Xét về mức độ các loại khả năng đệm nước

bọt kích thích của hai nhóm sâu răng thấp và

sâu răng cao, nhận thấy ở nhóm sâu răng cao,

27,4% học sinh có khả năng đệm thấp, ở nhóm

sâu răng thấp, tỷ lệ này là 11,3% Tỷ lệ học sinh

có khả năng đệm nước bọt kích thích cao, trung

bình, thấp ở nhóm sâu răng thấp lần lượt là:

40,3%, 48,4%, 11,3%, ở nhóm sâu răng cao là:

26,4%, 46,2%, 27,4% Có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về sự phân bố các mức khả năng đệm

nước bọt kích thích giữa hai nhóm học sinh sâu

răng thấp và sâu răng cao (p<0,05)

Có nhiều bằng chứng cho rằng, khả năng

đệm của nước bọt bảo vệ răng chống lại sâu

răng (Lendenmann và Oppenheim, 2000)(11)

Chúng tôi nhận thấy trong nhóm sâu răng cao,

học sinh có khả năng đệm thấp chiếm tỷ lệ cao

hơn so với nhóm sâu răng thấp Có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê Kết quả này cũng phù hợp

với nghiên cứu của Gopinath, 2006(9); Sanchez,

2003(17) Nhưng không giống với kết quả nghiên

cứu của Akpata và cs, 2009(1), cho rằng khả năng

đệm chống lại sâu răng của hai nhóm sâu răng

thấp và sâu răng thì tương đương nhau, mặc dù

mức khả năng đệm thấp ở nhóm sâu răng cao

chiếm tỷ lệ cao hơn nhưng sự khác biệt không có

ý nghĩa thống kê

Hầu hết các nghiên cứu trước đây như

Edgar, 1995(5) cho rằng khả năng đệm nước bọt

tương quan nghịch với chỉ số sâu răng Khả năng đệm nước bọt phụ thuộc vào lưu lượng nước bọt, vì khi lưu lượng nước bọt tăng sẽ làm tăng nồng độ protein, calcium, chloride và bicarbonate Quan trọng nhất là tăng nồng độ bicarbonate giúp tăng khả năng đệm nước bọt Thành phần nước bọt cũng phụ thuộc khoảng thời gian kích thích nước bọt

Phân tích tổng hợp ảnh hưởng của các yếu tố nước bọt lên tình trạng sâu răng cao

Bảng 6: So sánh đặc điểm các yếu tố nước bọt giữa

hai nhóm học sinh sâu răng thấp và sâu răng cao

N (%) Cao n (%) Trung

bình n (%)

Thấp n (%)

ĐỘ NHỚT NB KKT

Nhóm sâu răng thấp

62 (100%) 5 (8,05%)

52 (83,9%)

5 (8,05%)

Nhóm sâu răng cao (100%) 91 (19,8%) 18 (71,4%) 65 8 (8,8%)

P=0,126

pH NB KKT Nhóm sâu răng

thấp

62 (100%)

54 (87,1%)

7 (11,3%) 1 (1,6%)

Nhóm sâu răng cao (100%) 91 (59,3%) 54 (29,7%) 27 10 (11%)

P*= 0,001

pH NB KT Nhóm sâu răng

thấp (100%) 62 (95,2%) 59 3 (4,8%) 0 (0%) Nhóm sâu răng

cao

91 (100%)

66 (72,5%)

22 (24,2%)

3 (3,3%)

P*=0,002 LƯU LƯỢNG NB KT Nhóm sâu răng

thấp

62 (100%)

22 (35,5%)

33 (53,2%)

7 (11,3%)

Nhóm sâu răng cao

91 (100%)

28 (30,8%)

39 (42,8%)

24 (26,4%) P=0,073

KHẢ NĂNG ĐỆM NB KT Nhóm sâu răng

thấp

62 (100%)

25 (40,3%)

30 (48,4%)

7 (11,3%)

Nhóm sâu răng cao (100%) 91 (26,4%) 24 (46,2%) 42 (27,4%) 25

P=0,032

(kiểm định 2 ; (*) Kiểm định chính xác Fisher)

Trang 7

Biểu đồ 1: So sánh đặc điểm các yếu tố nước bọt giữa hai nhóm học sinh sâu răng thấp và sâu răng cao

Vai trò quan trọng của nước bọt trong việc

duy trì sức khỏe răng miệng, từ lâu đã được

công nhận (Edgar và cs, 1995)(5) Nước bọt là yếu

tố bảo vệ chủ yếu trong khoang miệng, cung cấp

sự bảo vệ cho mô cứng và mô mềm, đảm bảo

cho các hoạt động chức năng trong khoang

miệng (Mandel, 2000)(12) Tuy nhiên, tùy thuộc

vào những thay đổi đặc tính của nó, nó sẽ trở

thành yếu tố bảo vệ hay nguy cơ Theo kết quả

nghiên cứu, khi xét riêng từng yếu tố nước bọt

thì yếu tố độ nhớt nước bọt và lưu lượng nước

bọt là hai yếu tố không liên quan đến tình trạng

sâu răng (p>0,05) Các yếu tố còn lại là pH nước

bọt không kích thích, pH nước bọt có kích thích,

khả năng đệm nước bọt có kích thích là có liên

quan đến tình trạng sâu răng (p<0,05)

Tuy nhiên, do sâu răng là bệnh đa yếu tố

nên không thể xét riêng lẽ từng yếu tố nước bọt

Vì vậy, phân tích hồi quy chung về ảnh hưởng

của các yếu tố nước bọt lên tình trạng sâu răng

cao của học sinh 9-10 tuổi mới thấy tác động

tổng thể của nó Kết quả phân tích cho thấy yếu

tố pH nước bọt không kích thích thấp và trung

bình và yếu tố lưu lượng nước bọt thấp là 2 yếu

tố nguy cơ sâu răng cao nhất

Học sinh có pH nước bọt không kích thích

thấp và trung bình có nguy cơ sâu răng cao

gấp 3,83 lần so với trẻ có pH nước bọt cao

(p<0,05) Học sinh có lưu lượng nước bọt kích thích thấp có nguy cơ sâu răng cao gấp 3,45 lần so với trẻ có lưu lượng nước bọt trung bình

và cao (p<0,05)

Lưu lượng nước bọt được xem là thông số lâm sàng quan trọng nhất của nước bọt ảnh hưởng đến sự nhạy cảm sâu răng của cá thể Trong thực hành lâm sàng, đo lường lưu lượng nước bọt được chỉ định như thử nghiệm khởi đầu ở một bệnh nhân mới trước khi điều trị sâu răng Giảm lưu lượng nước bọt sẽ kèm theo giảm hệ thống bảo vệ của xoang miệng, một số đặc tính như tính kháng khuẩn, khả năng đệm, tái khoáng hóa và làm sạch của nước bọt bị mất

đi, gây ra sâu răng trầm trọng và viêm niêm mạc miệng (Fejerskov, 2003(7,8); Ferguson,

2006(5)) Sâu răng là hậu quả phổ biến nhất của thiểu sản tuyến nước bọt, sâu răng tiến triển nhanh trên các bề mặt răng thường ít nhạy cảm với sâu răng, thường có chỉ số sâu răng cao (Fejerskov, 2003)

Mô thức hồi quy logistic về ảnh hưởng của các yếu tố nước bọt lên tình trạng sâu răng cao của học sinh 9-10 tuổi (so với nhóm sâu răng thấp)

Khi phân tích hồi quy chung về ảnh hưởng của các yếu tố nước bọt lên tình trạng sâu răng cao của học sinh 9-10 tuổi cho kết quả: yếu tố pH

Trang 8

nước bọt không kích thích thấp và trung bình và

lưu lượng nước bọt thấp là 2 yếu tố nguy cơ sâu

răng cao nhất

Học sinh có pH nước bọt không kích thích

thấp và trung bình (pH<6,8) có nguy cơ sâu răng

cao cao gấp 3,83 lần so với trẻ có pH nước bọt cao (p<0,05) Học sinh có lưu lượng nước bọt thấp (<0,7ml/phút) có nguy cơ sâu răng cao cao gấp 3,45 lần so với trẻ có lưu lượng nước bọt trung bình và cao (p<0,05)

Bảng 7: Mô thức hồi quy logistic về ảnh hưởng của các yêu tố nước bọt lên tình trạng sâu răng cao của học sinh

9-10 tuổi ( so với nhóm sâu răng thấp)

Đặc điểm nước bọt có sâu răng cao n (%) % Học sinh 9-10 tuổi Hệ số hồi quy B OR thô KTC 95%

OR hiệu chỉnh KTC 95%

P

pH nước bọt không

kích thích

Cao 54 (50%) 1,344 4,63 (1,97-0,85) 3,83

(1,49-9,84)

0,005 Trung bình và thấp 37 (82,2%)

Lưu lượng nước bọt

kích thích

Trung bình và cao 67 (54,9%) 1,24 2,81 (1,13-7,02) 3,45

(1,33-8,94)

0,011 Thấp 24 (77,4%)

Khả năng đệm nước

bọt kích thích

Cao và trung bình 66 (54,5%) 0,544 2,97 (1,2-7,4) 1,72

(0,57-5,17)

0,33 Thấp 25 (78,1%)

Độ nhớt nước bọt

không kích thích Trung bình và thấp 73 Cao 18 (78,3%) (56,2%) 0,335 2,8 (0,98-8,03) 1,4 4,93) (0,396- 0,603

KẾT LUẬN

Nghiên cứu đưa ra một số kết luận như sau:

Tình trạng sâu răng của học sinh

Tỷ lệ sâu răng rất cao, 86,4%, smt-r và

SMT-R lần lượt là 3,08±2,6 và 0,97±1,31 Chỉ số SiC là

7,71 Có sự chênh lệch rất lớn giữa SiC và

SMT-R, smt-r, cho thấy sự phân cực về tình trạng sâu

răng giữa các cá thể trong cộng đồng (tỷ lệ % sâu

răng thấp là 18,34%, tỷ lệ % sâu răng cao là

26,92%)

So sánh đặc điểm nước bọt giữa hai nhóm

học sinh sâu răng thấp và sâu răng cao

- Trung bình pH nước bọt không kích thích

và pH nước bọt kích thích

Đa số pH nước bọt không kích thích lẫn

nước bọt kích thích của mẫu nghiên cứu đều

>6,8, chỉ có 7,2% (11 trẻ) có pH<6 Trung bình pH

nước bọt không kích thích ở nhóm sâu răng thấp

là 7,31±0,476, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với

nhóm sâu răng cao là 6,86± 0,65; tương tự, pH

nước bọt có kích thích ở nhóm sâu răng thấp là

7,62±0,337, nhóm sâu răng cao là 7,21±0,609

- Trung bình lưu lương nước bọt kích thích

Trung bình lưu lượng nước bọt kích thích

của nhóm sâu răng thấp và sâu răng cao là 1,07 ±

0,45 và 0,94 ± 0,42 Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

- Phân tích hồi quy chung về ảnh hưởng của các yếu tố nước bọt lên tình trạng sâu răng cao của học sinh 9-10 tuổi

Trong nghiên cứu này, yếu tố pH nước bọt không kích thích thấp, trung bình và yếu tố lưu lượng nước bọt thấp là 2 yếu tố nguy cơ có liên quan đến tình trạng sâu răng nhiều nhất Học sinh có pH nước bọt không kích thích thấp và trung bình (pH<6,8) có nguy cơ sâu răng cao cao gấp 3,83 lần so với trẻ có pH nước bọt cao (p<0,05) Học sinh có lưu lượng nước bọt thấp (<0,7ml/phút) có nguy cơ sâu răng cao cao gấp 3,45 lần so với trẻ có lưu lượng nước bọt trung bình và cao (p<0,05)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Severe Caries among Adults in Kuwait, Med Princ Pract, 18, pp

93-99

tuổi có hoạt động sâu răng khác nhau Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Răng Hàm Mặt

khuẩn trong nước bọt liên quan tới sâu răng Luận văn Thạc

sĩ Y hoc

composition In Edgar WM, Mullance DM, eds Saliva and oral

health 2nd ed.London: British Dental Association, pp 27-41

Trang 9

6 Fejerskov and Edwina Kidd (2003) Dental Caries Blackwell

Munksgaard, second edition pp 190-207

second edition, pp 42, 103-104, 212

Livingstone:27-41, 67-72, 123-136

for Assessment of Dental caries Archives of Orofacial Sciences,

1, pp 57-59

Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Răng Hàm Mặt

Dental Pellicle – A review Adv Dent Res, 14, pp 22-28

Dental Caries Adv Dent Res, 14, pp 40-47

Farzaneh (2008) Buffering capaxity of saliva in patients with

Active Dental caries Asian Journal of Biochemistry, 3(5), pp

280-283

cơ ở học sinh 12 tuổi trường trung học cơ sở An Lạc, quận Bình Tân, Tp.HCM Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ nội trú

và sâu răng Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ Răng Hàm Mặt

buffering capaxity, calcium, total protein and total antioxidan levels of saliva in caries free and caries active children-An in vivo study Biomedical Research, 21(3), pp 289-294

drinks consumption in children Internation Journal of Paediatric

dentistry, 13, 251-257

ở học sinh 12 tuổi (Trường THCS An Lạc, Bình Tân, Tp Hồ Chí Minh Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ nội trú

in children related to caries, age, and gender Int J Paediatric Dentistry, 16, pp.186-191

Ngày đăng: 22/01/2020, 14:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w