1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hình ảnh lâm sàng, x quang của bướu trung thất: Nghiên cứu loạt ca lâm sàng của Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch

6 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 389,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về bướu trung thất, dịch tễ  học và tỷ lệ mắc phải bướu trung thất ở người lớn, đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X quang của bướu trung thất, bướu quái trưởng thành, bướu tuyến ức thường gặp trong trung thất trước, u nguồn gốc tế bào thần kinh thường gặp ở trung thất sau, và lao hạch bạch huyết, bướu quái trưởng thành thường gặp ở trung thất giữa.

Trang 1

NGHIÊN CỨU LOẠT CA LÂM SÀNG   CỦA BỆNH VIỆN PHẠM NGỌC THẠCH 

Nguyễn Hữu Lân*, Nguyễn Huy Dũng*, Lê Tự Phương Thảo**, Nguyễn Sơn Lam*, Lê Hồng Ngọc*** 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Bướu trung thất là bướu hiếm gặp, bao gồm một nhóm các tổn thương không đồng nhất. Dịch tễ 

học và tỷ lệ mắc phải bướu trung thất ở người lớn thay đổi đáng kể. 

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X quang của bướu trung thất. 

Chất liệu và phương pháp: Phân tích loạt ca lâm sàng 202 bệnh nhân người lớn bị bướu trung thất được 

điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ 2005 đến 2013. Tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật nhằm mục  đích chẩn đoán, điều trị hoặc cả hai. 

Kết quả: Tổng cộng có 202 bệnh nhân bướu trung thất với tuổi trung bình là 40 ± 16 tuổi (từ 15 tuổi đến 

82 tuổi) được thu dung vào nghiên cứu loạt ca lâm sàng này. Tỷ lệ nam/nữ là 87/1. Trong số 202 bệnh nhân  bướu trung thất, có 106 (52,5%) bệnh nhân bướu trung thất trước, 52 (25,7%) bệnh nhân bướu trung thất sau 

và 44 (21,8%) bệnh nhân bướu trung thất giữa. Trong trung thất trước, bướu quái trưởng thành, bướu tuyến 

ức lành tính thường gặp nhất, với tỷ lệ theo thứ tự là 42,6%, 17,9%. Trong trung thất sau, bướu sợi thần kinh,  bướu vỏ bao thần kinh thường gặp nhất, theo thứ tự là 55,8%, 17,3%, trong khi lao hạch bạch huyết, bướu quái  trưởng thành thường gặp nhất trong bướu trung thất giữa, lần lượt là 36,4%, 13,6%   Tỷ lệ lành tính/ác tính là  6,3/1 ở những bệnh nhân < 40 tuổi và 2,6/1 ở những bệnh nhân ≥ 40 tuổi (p < 0,02). Đau ngực, ho, sốt, khó thở,  khàn giọng, ho ra máu, sụt cân, nuốt nghẹn, theo thứ tự gặp ở 72,8%, 66,3%, 13,9%, 13,4%, 5,4%, 5%, 3%,  0,5%.  6,4%  bệnh  nhân  không  có  triệu  chứng  lâm  sàng.  Tổn  thương  có  bờ  ngoài  đa  cung  gặp  ở  79,9%,  tổn  thương bờ ngoài tròn đều gặp ở 17,3%. Tổn thương có bờ ngoài không đều lởm chởm hình tia chiếm 2%.  

Kết luận: Bướu quái trưởng thành, bướu tuyến ức thường gặp trong trung thất trước, u nguồn gốc tế bào 

thần kinh thường gặp ở trung thất sau, và lao hạch bạch huyết, bướu quái trưởng thành thường gặp ở trung thất  giữa. Bệnh nhân  40 tuổi, ho ra máu, khàn tiếng thường có nguy cơ ác tính cao hơn. Bướu có bờ ngoài tròn đều 

gợi ý tổn thương lành tính.  

Từ khóa: Bướu trung thất, trung thất trước, trung thất giữa, trung thất sau. 

ABSTRACT 

CLINICAL AND RADIOLOGICAL ASPECTS OF MEDIASTINAL TUMORS:  

A CASE SERIES FROM PHAM NGOC THACH HOSPITAL 

Nguyen Huu Lan, Nguyen Huy Dung, Le Tu Phuong Thao, Nguyen Son Lam, Le Hong Ngoc 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 55 ‐ 60 

Background:  Mediastinal  tumors  are  rare,  comprise  a  heterogeneous  group  of  lesions.  Epidemiology  and 

incidence of mediastinal lesions in adults has changed considerably.  

Objective: To describe the clinical features, radiological findings of mediastinal tumors. 

Materials and Methods: An analysis of case series studies of 202 adult patients with mediastinal tumors 

who were treated at Pham Ngoc Thach hospital from 2005 to 2013. All patients were submitted to surgery, either  diagnostic, therapeutic or both.  

* Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch  **Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch, Tp. Hồ Chí Minh 

Trang 2

were enrolled in this case series study. Male to female ratio was 87/1. Of the 202, 106 (52.5%) presented tumors 

in  the  anterior  mediastinum,  52  (25.7%)  in  the  posterior  and,  44  (21.8%)  in  the  middle.  In  the  anterior  mediastinum, mature teratoma, benign thymoma were the most common tumors, respectively 42.6%, 17.9%. In  the  posterior  mediastinum,  neurofibroma,  schwannoma  were  the  most  common  tumors,  respectively  55.8%,  17.3%,  whereas  lymph  node  tuberculosis,  mature  teratoma  were  the  most  common  middle  mediastinum,  respectively 36.4%, 13.6%   Benignity to malignance ratio was 6.3/1 in patients < 40 years of age and 2.6/1 in  patients older (p < 0.02). Chest pain, cough, fever, dyspnea, hoarseness, hemoptysis, weight loss and dysphagia  were noted in 72.8%, 66.3%, 13.9%, 13.4%, 5.4%, 5%, 3%, 0.5% of patients, respectively. Asymptomatic was  found in 6.4%. Lobulated lesions was found in 79.9%, smooth lesions was found in 17.3%. Irregular lesions was  found in 2%.  

Conclusion: Mature teratoma, thymoma are more common in the anterior mediastinum, neurogenic tumors 

are  more  common  in  the  posterior  mediastinum  and,  lymph  node  tuberculosis,  mature  teratoma  are  more  common in the middle mediastinum. Patient characteristics such as age  40 years,  hemoptysis, hoarseness are 

associated with higher risk of malignancy. Smooth border suggests benignity. 

Key words: Mediastinal tumors, anterior mediastinum, middle mediastinum, posterior mediastinum. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Có rất nhiều căn nguyên bệnh lý khác nhau 

gây  bướu  trung  thất.  Xác  định  vị  trí  và  thành 

phần của bướu trung thất rất quan trọng để thu 

hẹp chẩn đoán phân biệt. Các nguyên nhân phổ 

biến  nhất  của  bướu  trung  thất  trước  bao  gồm: 

bướu  tuyến  ức,  bướu  quái,  bệnh  tuyến  giáp  và 

ung thư hạch lymphô nguyên phát. Bướu trung 

thất  giữa  thường  là  các  tổn  thương  dạng  nang 

bẩm  sinh  điển  hình,  bao  gồm  cả  các  nang  có 

nguồn gốc từ ruột và màng ngoài tim, trong khi 

bướu  trung  thất  sau  thường  là  bướu  có  nguồn 

gốc thần kinh. Bệnh nhân bướu trung thất có thể 

từ  không  có  triệu  chứng  lâm  sàng  đến  có  triệu 

chứng  ho,  đau  ngực,  khó  thở(2).  Tỷ  lệ  các  tổn 

thương trung thất ở người lớn đã thay đổi đáng 

kể  trong  suốt  5  thập  kỷ  (1952‐1991)(5).  Vì  vậy, 

chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh 

giá đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học X quang và 

tần  suất  các  căn  nguyên  của  bướu  trung  thất 

trong  số  những  bệnh  nhân  nhập  viện  tại  bệnh 

viện Phạm Ngọc Thạch. 

BỆNH NHÂN VÀ PHƯƠNG PHÁP 

Chúng  tôi  thực  hiện  nghiên  cứu  phân  tích 

mô tả loạt ca lâm sàng 202 bệnh nhân được phẫu 

thuật  tại  bệnh  viện  Phạm  Ngọc  Thạch,  thành 

phố Hồ Chí Minh để chẩn đoán và/hoặc điều trị 

tổn  thương  bướu  trung  thất  từ  năm  2005  đến  năm 2013. Tất cả các bệnh nhân đều được chụp  cắt  lớp  điện  toán  lồng  ngực  trước  phẫu  thuật.  Các yếu tố tuổi, giới tính, triệu chứng lâm sàng,  đặc điểm hình ảnh học X quang của bướu trung  thất  được  đưa  vào  phân  tích  thống  kê.  Các  số  liệu  sau  khi  thu  thập  sẽ  được  mã  hóa  và  nhập  vào máy vi tính, sử dụng phần mềm Stata 10 để 

xử  lý.  Chúng  tôi  sử  dụng  phép  kiểm  χ2  để  so  sánh  sự  khác  biệt  về  tỷ  lệ  giữa  hai  nhóm  bệnh  nhân  cho  các  biến  định  tính.  Thực  hiện  phép  kiểm  chính  xác  của  Fisher  (Fisher’s  Exact  Test)  nếu có trên 20% số ô trong bảng chéo có tần số 

mong  đợi  nhỏ  hơn  5.  Chúng  tôi  sử  dụng  kiểm 

định thống kê “Shapiro test”để xác định giả thiết  phân  phối  chuẩn  của  một  biến  số.  Nếu  biến  số 

có  phân  phối  chuẩn,  chúng  tôi  dùng  số  trung  bình và độ lệch chuẩn để mô tả dữ liệu; sử dụng  kiểm  định  t  với  2  mẫu  độc  lập  để  so  sánh  sự  khác  biệt  cho  các  biến  định  lượng;  nếu  biến  số  không  có  phân  phối  chuẩn,  chúng  tôi  dùng  số  trung  vị  để  mô  tả  dữ  liệu;  sử  dụng  kiểm  định  Mann‐Whitney để so sánh sự khác biệt cho  các  biến định lượng. Tất cả các  phương  pháp  kiểm  định  giả  thuyết  được  thực  hiện  bằng  cách  sử  dụng  kiểm  định  2  bên  (two‐sided  alternatives).  Ngưỡng ý nghĩa là 0,05 (p < 0,05) để chấp nhận 

hay bác bỏ giả thuyết thống kê.  

Trang 3

Có  202  bệnh  nhân  được  thu  dung  vào 

nghiên cứu, bao gồm 94 bệnh nhân nam và 108 

bệnh nhân nữ, tuổi trung bình là 40 ± 16 tuổi (từ 

15 đến 82 tuổi). Tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ ở nhóm 

bướu  trung  thất  lành  tính  là  69/91,  của  nhóm 

bướu  trung  thất  ác  tính  là  25/17  (p  >  0,5).  Tuổi 

trung  bình  của  bệnh  nhân  có  bướu  trung  thất 

lành tính là 38 ± 15 tuổi, của bệnh nhân có bướu 

trung thất ác tính là 48 ± 17 tuổi (p = 0,001). Triệu 

chứng  thường  gặp  là  đau  ngực  (72,8%),  ho 

(66,3%). Đặc điểm nhân khẩu học và tần suất các 

triệu  chứng  lâm  sàng  chia  nhóm  theo  loại  bản 

chất giải phẫu bệnh của tổn  thương  được  trình 

bày trong bảng 1.  

Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học và tần suất các 

triệu chứng lâm sàng chia nhóm theo loại bản chất 

giải phẫu bệnh của tổn thương 

(n = 160)

Ác tính (n = 42)

P - value

Nam/Nữ (n/n) 69/91 25/17 > 0,5

Khoảng tuổi (năm) 15 to 77 16 to 82

Tuổi trung bình (năm) 38 ± 15 48 ± 17 = 0,001

Bệnh nhân ≥ 40 tuổi / <

40 tuổi (n/n)

72/88 28/14 < 0,02 Đau ngực n (%)  115 (71,9%) 32 (76,2%) > 0,6

Ho n (%)  103 (64,4%) 31 (73,8%) > 0,2

Khó thở n (%)  21 (13,1%) 6 (14,3%) > 0,8

Sốt n (%) 22 (13,8%) 6 (14,3%) > 0,9

Khàn tiếng n (%) 4 (2,5%) 7 (16,2%) < 0,002

Ho ra máu n (%) 5 (3,1%) 5 (11,9%) < 0,03

Sụt cân n (%)  5 (3,1%) 1 (2,4%) > 0,8

Nuốt nghẹn n (%) 1 (0,6%) 0 (0%)

Không triệu chứng lâm

sàng n (%) 

10 (6,2%) 3 (7,1%) > 0,7

Các  bướu  trung  thất  thường  nằm  ở  trung 

thất  trước  (52,5%)  tiếp  đến  là  trung  thất  sau 

(25,7%) và cuối cùng là trung thất giữa (21,8%). 

Không có khác biệt có ý nghĩa thống kê về vị trí 

(trước, giữa, sau) và bản chất lành ác của bướu 

trung thất (p > 0,5). Bướu trung thất có bờ ngoài 

hình  đa  cung  thường  gặp  nhất  (79,7%),  ít  gặp 

hơn là bướu có bờ ngoài tròn đều (17,3%), ít gặp 

nhất là bướu có bờ ngoài không đều, lởm chởm 

hình  tia  (3%).  Tỷ  lệ  ác  tính/lành  tính  của  bướu 

trung  thất  có  bờ  ngoài  không  đều  lởm  chởm 

hình tia cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bướu  trung thất có bờ ngoài hình đa cung (p < 0,02) và  bướu  trung  thất  có  bờ  ngoài  tròn  đều  (p  < 

0,0001).  Tỷ  lệ  ác  tính/lành  tính  của  bướu  trung  thất  có  bờ  ngoài  hình  đa  cung  cao  hơn  có  ý  nghĩa  thống  kê  so  với  bướu  trung  thất  có  bờ  ngoài tròn đều (p < 0,03). Bướu trung thất có mật 

độ  đồng  nhất  chiếm  64,9%,  trong  khi  bướu  trung thất có mật độ không đồng nhất, vôi hóa  chiếm  tỷ  lệ  35,1%.  Đặc  điểm  vị  trí,  hình  ảnh  bướu  trung  thất  chia  nhóm  theo  loại  bản  chất  giải  phẫu  bệnh  của  tổn  thương  được  trình  bày  trong bảng 2. Bảng 3 mô tả các loại tổn thương 

mô  học  theo  vị  trí  của  bướu  trong  trung  thất  (trước, giữa, sau). 

Bảng 2: Đặc điểm vị trí, hình ảnh bướu trung thất 

chia nhóm theo loại bản chất giải phẫu bệnh của tổn  thương 

Đặc điểm vị trí, hình ảnh bướu trung thất

Lành tính (n = 160)

Ác tính (n = 42)

P - value

Bướu trung thất trước n (%) 82 (51,3%) (57,1%) 24

> 0,5 Bướu trung thất giữa n (%) 36 (22,5%) 8 (19%) Bướu trung thất sau n (%) 42 (26,3%) (23,8%) 10 Trung vị kích thước bướu trên

CT Scan (cm) 5,3 7 > 0,1 Trung vị kích thước bướu

đánh giá sau mổ (cm) 8 8 > 0,2 Bướu có bờ ngoài đa cung n

(%) 125 (78,1%) 36 (%)

<0,03

Bướu có bờ ngoài tròn đều n

(%) 33 (20,6%) 2 (4,8%) Bướu có bờ ngoài lởm chởm

hình tia n (%) 2 (1,3%) 4 (4,8%) Bướu có mật độ đồng nhất n

(%) 102 (63,7%) 29 (69%)

> 0,5 Bướu có mật độ không đồng

nhất, vôi hóa n (%) 58 (36,3%) 13 (31%)

Bảng 3: Các loại tổn thương mô học theo vị trí của 

bướu trong trung thất (trước, giữa, sau) 

Tổn thương mô học

Trung thất trước

n (%)

giữa

n (%)

sau

n (%)

Bướu quái trưởng thành 45 6 0 Nang trung thất 14 4 3 Ung thư biểu mô tuyến ức 17 1 2 Bướu tuyến ức lành tính 19 1 0 Bướu sợi thần kinh lành tính 2 2 29

Trang 4

Tổn thương mô học

Trung thất trước

n (%)

giữa

n (%)

sau

n (%)

Bướu sợi thần kinh ác tính 0 0 2

Bướu vỏ bao thần kinh lành tính 0 1 9

Bướu vỏ bao thần kinh ác tính 0 0 3

Lao hạch bạch huyết 0 15 0

Ung thư hạch bạch huyết 4 4 3

Ung thư kết hợp lao hạch bạch huyết 0 1 0

Hạch viêm mạn tính 0 4 0

Hạch Sarcoidosis 0 2 0

Bướu giáp thòng 1 0 0

Bướu quái trưởng thành + U sợi thần

Bướu quái chưa trưởng thành 0 0 1

Bướu tế bào mầm ác tính 1 0 0

Bướu mạch máu 2 1 0

BÀN LUẬN 

Trung thất được giới hạn phía trước bởi mặt 

sau xương ức và các sụn sườn, phía sau bởi mặt 

trước cột sống ngực. Phía trên là lỗ trên của lồng 

ngực, nơi trung thất thông với nền cổ. Phía dưới 

là  cơ  hoành,  nơi  có  các  thành  phần  đi  từ  lồng 

ngực  xuống  ổ  bụng  và  ngược  lại.  Hai  bên  là 

màng  phổi  trung  thất.  Trung  thất  được  chia 

thành trung thất trước, trung thất giữa và trung 

thất  sau  dựa  trên  các  mốc  giải  phẫu  thấy  được 

trên phim X quang lồng ngực nghiêng. Điều này 

rất  quan  trọng  trong  ứng  dụng  chẩn  đoán  các 

tổn  thương  nghi  ngờ  bướu  trung  thất.  Trung 

thất  trước  chứa  tuyến  ức,  mỡ  và  hạch  bạch 

huyết.  Trung  thất  giữa  chứa  tim,  màng  ngoài 

tim,  động  mạch  chủ  ngang  và  động  mạch  chủ 

xuống,  tĩnh  mạch  cánh  tay  đầu,  khí  quản,  phế 

quản  và  hạch  bạch  huyết.  Trung  thất  sau  chứa 

động  mạch  chủ  xuống,  thực  quản,  tĩnh  mạch 

đơn,  ống  ngực,  dây  thần  kinh  X  và  chuỗi  hạch 

giao  cảm  ngực  và  mỡ.  Khả  năng  ác  tính  của 

bướu  trung  thất  bị  ảnh  hưởng  chủ  yếu  bởi  ba 

yếu  tố  là  tuổi  bệnh  nhân,  vị  trí  bướu,  sự  hiện 

diện  hay  vắng  mặt  của  triệu  chứng(2).  Theo 

Esposito  D.  và  Millikan  K.  W.,  tuổi  của  bệnh 

nhân và vị trí của bướu ảnh hưởng đến tỷ lệ ác 

tính.  Bệnh  nhân  từ  20‐40  tuổi  có  khả  năng  ác 

tính cao nhất, thường gặp nhất là ung thư hạch  lymphô nguyên phát và các u tế bào mầm. 73%  bướu  trung  thất  ở  trẻ  em  là  lành  tính(3).  Trong  một nghiên cứu trên 103 trường hợp bướu trung  thất ở người lớn lẫn trẻ em, Nguyễn Bá Trung và  cộng  sự  nhận  thấy  tuổi  trung  bình  của  bệnh  nhân bướu trung thất là 43,48 tuổi (từ 8 tuổi đến 

76 tuổi). Lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là từ 41  đến  50  tuổi.  Đa  số  bướu  khu  trú  ở  trung  thất  trên, trung thất trước và trung thất trước trên(4).  Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình  của bệnh nhân có bướu trung thất lành tính là 38 

± 15 tuổi, của bệnh nhân có bướu trung thất ác  tính là 48 ± 17 tuổi (p = 0,001). Tỷ lệ bệnh nhân  lớn  hơn  hoặc  bằng  40  tuổi  có  bướu  trung  thất  lành tính là 72% và có bướu trung thất ác tính là  28%.  Trong  khi  tỷ  lệ  bệnh  nhân  nhỏ  40  tuổi  có  bướu  trung  thất  lành  tính  là  86,3%  và  có  bướu  trung  thất  ác  tính  là  13,7%  (p  <  0,02).  Theo  Vaziri1 M. và cộng sự, 60% bướu trung thất là ác  tính(7). Theo Duwe B.V. và cộng sự, mặc dù hơn  hai  phần  ba  các  bướu  trung  thất  là  lành  tính,  bướu  trung  thất  trước  có  nhiều  khả  năng  là  ác  tính(2). Theo nghiên cứu của Davis R.D. và cộng 

sự  thực  hiện  trên  400  bệnh  nhân  bướu  trung  thất, tỷ lệ ác tính theo thứ tự là 59%, 29% và 16% 

ở trung thất trước, giữa và sau(0). Theo Esposito 

D.  và  Millikan  K.  W.,  khoảng  25‐42%  bướu  trung thất là ác tính. Tỷ lệ ác tính theo vị trí lần  lượt là 59% đối với bướu trung thất trước, 29%  đối với bướu trung thất giữa, 16% đối với bướu  trung thất sau(3). Theo nghiên cứu của chúng tôi,  20,8%  bướu  trung  thất  là  ác  tính.  Tỷ  lệ  ác  tính  theo vị trí lần lượt là 57,1% đối với bướu trung  thất  trước,  19%  đối  với  bướu  trung  thất  giữa,  23,8%  đối  với  bướu  trung  thất  sau.  Không  có  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  về  vị  trí  (trước,  giữa, sau) và bản chất lành tính hay ác tính của  bướu trung thất (p > 0,5). 

Theo Davis R.D. và cộng sự, 85% bệnh nhân  bướu trung thất ác tính có triệu chứng lâm sàng 

so với 46% bệnh nhân bướu trung thất lành tính.  Các  triệu  chứng  thường  gặp  là  ho  (60%),  đau  ngực (30%), sốt/ớn lạnh (20%),  khó  thở  (16%)(0).  Theo  Nguyễn  Bá  Trung  và  cộng  sự,  các  triệu 

Trang 5

chứng  thường  gặp  là  ho  (48,5%),  đau  ngực 

(44,7%), khó thở (12,6%)(4). Trong nghiên cứu của 

chúng tôi, bệnh nhân không có triệu chứng lâm 

sàng chiếm 6,2% trong nhóm bướu lành tính và 

7,1% trong nhóm bướu ác tính. Các triệu chứng 

thường gặp là đau ngực (72,8%), ho (66,3%), sốt 

(13,9%),  khó  thở  (13,4%).  Theo  Duwe  B.V.,  các 

triệu  chứng  tại  chỗ  thường  gặp  do  bướu  trung 

thất xâm lấn là nuốt nghẹn, khàn tiếng, liệt chi, 

liệt cơ hoành(2). Nghiên cứu tại Iran cho thấy tỷ 

lệ các triệu chứng lâm sàng của bướu trung thất 

theo thứ tứ giảm dần là khó thở (41%), ho (40%), 

sụt cân 21 (20%), đau ngực (28%), sốt (14%), tràn 

dịch màng phổi (12%) và không triệu chứng lâm 

sàng  (12%)(7).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi, 

triệu chứng khàn tiếng, nuốt nghẹn, theo thứ tự 

gặp  ở  5,4%  và  0,5%  bướu  trung  thất.  Các  triệu 

chứng khác gồm ho  ra  máu  (5%),  sụt  cân  (3%). 

Triệu chứng ho ra máu gặp ở 3,1% bướu trung 

thất lành tính và 11,9% bướu trung thất ác tính 

(p  <  0,03).  Triệu  chứng  khàn  tiếng  gặp  ở  2,5% 

bướu trung thất lành tính và 16,2% bướu trung 

thất  ác  tính  (p  <  0,002),  Đây  có  thể  là  hai  triệu 

chứng quan trọng để hướng đến chẩn đoán bản 

chất lành tính hay ác tính của bướu trung thất.  

Roberts  J.R.,  Kaiser  L.R.  nhận  thấy  trong  5 

thập kỷ (1952‐1991), tỷ lệ các bướu trung thất ở 

người  lớn  ghi  nhận  được  qua  các  nghiên  cứu 

vào năm 1952, 1963, 1972, 1987, 1991 theo thứ tự 

nang  trung  thất  (17%,  24%,  9%,  25%,  20%),  u 

nguồn gốc thần kinh (20%, 21%, 23%, 14%, 17%), 

u tuyến ức (17%, 10%, 16%, 17%, 24%), ung thư 

hạch  bạch  huyết  (9%,  10%,  13%,  10%,  10%),  u 

trung mô (1%, 4%, 11%, 6%, 7%), u nội tiết (2%, 

8%, 11%, 3%, 2%), những u khác (23%, 14%, 2%, 

10%, 4%)(5). Sodha N.R. và DeCamp M.M. nhận 

thấy  trong  6  thập  kỷ  (1952‐2003),  tỷ  lệ  nang 

trung  thất  ghi  nhận  được  qua  các  nghiên  cứu 

vào năm 1952, 1963, 1972, 1987, 1993, 1999, 2003 

theo thứ tự là 20%, 24%, 9%, 25%, 18%, 4%, 13% 

trong tổng số các tổn thương bướu trung thất(6). 

Theo  Vaziri1  M.  và  cộng  sự,  có  22  loại  tổn 

thương  khác  nhau  trong  105  bệnh  nhân  bướu 

trung thất được phẫu thuật, tỷ lệ các loại bướu 

trung  thất  là  ung  thư  hạch  bạch  huyết  (31,5%), 

Hodgkin  (10,5%),  bướu  vỏ  bao  thần  kinh  (10,5%), bướu quái (7,5%), bướu tuyến ức (7,5%),  ung  thư  biểu  mô  không  biệt  hóa  (3,7%),  bướu  giáp  thòng  (3,7%),  nang  nguồn  gốc  phế  quản  (1,8%), ung thư biểu mô tế bào vẩy của tuyến ức  (1,8%),  sarcôm  tế  bào  hình  thoi  (1,8%),  bướu  hạch  thần  kinh  (1,8%),  sarcôm  đa  dạng  tế  bào  (1,8%),  đa  u  nội  tiết‐thần  kinh  (1,8%),  tăng  sản  tuyến  ức  (1,8%),  sarcôm  nguồn  gốc  thần  kinh  (0,9%),  bướu  mỡ  (0,9%),  bướu  carcinoid  (0,9%),  sarcôm  mỡ  (0,9%),  sarcôm  sụn  (0,9%),  nang  tuyến  ức  (0,9%),  nang  có  nguồn  gốc  từ  ruột  (0,9%),  bướu  tế  bào  mầm  (0,9%),  bệnh  Castleman  ở  hạch  (0,9%)(7).  Theo  Nguyễn  Bá  Trung  và  cộng  sự,  các  loại  bướu  trung  thất  thường  gặp  là  bệnh  lý  tuyến  ức  (42,42%),  ung  thư  tế  bào  biểu  mô  các  loại  (19,19%),  bướu  nguồn  gốc  thần  kinh  (9%),  bướu  quái  (7,07%),  hạch lao (6,06%)(4). Tỷ lệ các tổn thương thường  gặp theo thứ tự giảm dần trong nghiên cứu của  chúng  tôi  là  bướu  quái  trưởng  thành  (25,2%),  bướu  sợi  thần  kinh  lành  tính  (16,3%),  các  nang  lành tính (10,4%), ung thư tế bào biểu mô tuyến 

ức  (9,9%),  bướu  tuyến  ức  lành  tính  (9,9%),  lao  hạch  bạch  huyết  (7,4%),  ung  thư  hạch  bạch  huyết  (5,4%),  bướu  vỏ  bao  thần  kinh  lành  tính  (5%),  hạch  viêm  mạn  tính  (2%),  bướu  vỏ  bao  thần kinh ác tính (1,5%), bướu mạch máu (1,5%),  bướu  sợi  thần  kinh  ác  tính  (1%),  hạch  Sarcoidosis  (1%),  bướu  quái  chưa  trưởng  thành  (0,5%),  bướu  giáp  thòng  (0,5%),  sarcôm  mỡ  (0,5%),  bướu  tế  bào  mầm  ác  tính  (0,5%),  bướu  sợi (0,5%), ung thư kết hợp lao hạch bạch huyết  (0,5%),  bướu  quái  trưởng  thành  kết  hợp  u  sợi  thần  kinh  (0,5%).  Các  loại  bướu  thường  gặp  trong  trung  thất  trước  là  bướu  quái  trưởng  thành, bướu tuyến ức lành tính với tỷ lệ lần lượt  42,5%,  17,9%.  Các  loại  bướu  thường  gặp  trong  trung  thất  sau  là  bướu  sợi  thần  kinh  (55,8%),  bướu  vỏ  bao  thần  kinh  (17,3%),  trong  khi  lao  hạch  bạch  huyết,  bướu  quái  trưởng  thành  thường  gặp  ở  trung  thất  giữa  theo  thứ  tự  là  34,1%, 13,6%. 

Trang 6

Tần suất các bướu trung thất trong nghiên 

cứu  của  chúng  tôi  có  thay  đổi  so  với  những 

nghiên  cứu  đã  được  công  bố  trước  đây.  Lao 

hạch  tuy  chỉ  chiếm  tỷ  lệ  7,9%  nhưng  không 

thấy báo cáo trong những nghiên cứu ở ngoài 

nước.  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  tỷ  lệ 

bướu  không  điều  trị  phẫu  thuật  như  ung  thư 

hạch  bạch  huyết  thấp  hơn  và  tỷ  lệ  bệnh  cần 

điều  trị  phẫu  thuật  như  bướu  quái,  bướu  có 

nguồn  gốc  thần  kinh,  bướu  tuyến  ức  cao  hơn 

so với các số liệu đã được công bố trong những 

nghiên cứu trước đây.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Davis  RD,  Newland  OH,  Sabiston  DC  (1987).  Primary  cysts 

and neoplasms of the mediastinum: recent changes in clinical 

presentation, methods of diagnosis, management and results. 

Ann Thorac Surg, 44: 229‐237. 

2 Duwe  BV,  Sterman  DH,  Musani  AI  (2005).  Tumors  of  the 

Mediastinum. Chest, 128(4): 2893‐2909. 

3 Esposito  D,  Millikan  KW  (2001).  Mediastinal  masses.  In:  Saclarides  TJ,  Millikan  KW,  Godellas  CV.  Surgical 

oncology: An algorithmic approach, pp 652‐659, Springer‐ Verlag, New York. 

4 Nguyễn  Bá  Trung,  Phó  Đức  Mẫn,  Đoàn  Hữu  Nam  và  Cs  (1999). Bướu trung thất: dịch tễ học – chẩn đoán và điều trị. Y  học Thành phố Hồ Chí Minh, 3(4): 390‐398. 

5 Roberts  JR,  Kaiser  LR  (2008).  Acquired  Lesions  of  the  Mediastinum:  Benign  and  Malignant.  In:  Fishman  A.P.  Fishman’s  Pulmonary  Diseases  and  Disorders,  Vol.  2,  4 th   edition,  pp  1583‐1614,  The  McGraw‐Hill  Companies,  Inc.,  New York. 

6 Sodha  N,  DeCamp  MM  (2008).  Congenital  Cysts  of  the  Mediastinum:  Bronchopulmonary  Foregut  Anomalies.  In:  Fishman  AP.  Fishman’s  Pulmonary  Diseases  and  Disorders,  Vol.  2,  4 th   Ed.,  pp  1571‐1582,  The  McGraw‐Hill  Companies,  Inc., New York. 

7 Vaziri1  M,  Pazooki  A,  Zahedi‐Shoolami  L  (2009).  Mediastinal 

Masses: Review of 105 Cases. Acta Medica Iranica. 47(4): 297‐300. 

 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 14:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w