1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Góp phần nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phẫu thuật bệnh lý khe mang ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi Đồng I

5 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 325,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về việc khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phẫu thuật bệnh lý khe mang ở trẻ em. Kết quả cho thấy bất thường khe mang là một bệnh lý bẩm sinh phức tạp cần chẩn đoán và điều trị đúng theo từng loại bất thường để tránh biến chứng và tái phát.

Trang 1

VÀ PHẪU THUẬT BỆNH LÝ KHE MANG Ở TRẺ EM  

TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I 

Nguyễn Phan Nguyên*, Trần Thị Bích Liên**, Đặng Hoàng Sơn*** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phẫu thuật bệnh lý khe mang ở trẻ em. 

Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả hàng loạt ca trên những bệnh nhiđược chẩn đoán và phẫu thuật 

bệnh lý khe mang tại khoa Tai‐mũi‐họng Bệnh Viện Nhi Đồng I từ tháng 9/2012 đến tháng 4/2013. 

Kết quả: Trong 34 ca được khảo sát, tỉ lệ bất thường khe mang số I chiếm 17,65 % biểu hiện là nang/lỗ dò 

chảy dịch vị trí trước tai, sau tai, vùng góc hàm; bất thường khe mang số II chiếm 38,24% biểu hiện chủ yếu là lỗ 

dò  tiết  dịch  (84,62%)  vị  trí  dọc  theo  bờ  trước  cơ  ức  đòn  chủm;  dò  xoang  lê  chiếm  44,11%  biểu  hiện  là  viêm  tấy/áp‐xe vùng tuyến giáp tái đi tái lại (66,67%). Siêu âm là phương tiện cận lâm sàng dễ thực hiện, không xâm  lấn, có thể giúp sàng lọc những khối u vùng cổ. Phẫu thuật lấy nang/đường dò số I đòi hỏi phải bộc lộ thần kinh  mặt, phẫu thuật đường dò số II sử dụng một hay hai đường rạch ngang cổ, phẫu thuật dò xoang lê phải bộc lộ  thần kinh quặt ngược thanh quản trước khi cắt bán phần tuyến giáp. 

Kết luận: Bất thường khe mang là một bệnh lý bẩm sinh phức tạp cần chẩn đoán và điều trị đúng theo từng 

loại bất thường để tránh biến chứng và tái phát. 

Từ khóa: bệnh lý khe mang 

ABSTRACT  

CLINICAL, PARACLINICAL FEATURES AND SURGERY OF BRANCHIAL ANOMALIES IN 

CHILDREN IN CHILDREN HOSPITAL NUMBER I 

Nguyen Phan Nguyen, Tran Thi Bich Lien, Dang Hoang Son 

 * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 242 ‐ 246 

Objectives: survey clinical, paraclinical features and surgery of branchial anomalie in children. 

Subjects and Method: prospective study, case series report 

Patients  who  were  diagnosed  and  operated  on  in  ENT  department  of  Children  Hospital  Number  I  from  September 2012 to April 2013 were enrolled in the study. 

Result:  Of  the  34  patients,  17.65  %  of  the  branchial  anomalies  were  first  branchial  anomalies  with 

presenting  cysts/fistulae  in  parotid  or  retroauricular  or  submandible  region;  38.24%  were  second  branchial  anomalies  with  main  presenting  pit‐like  depression  with/without  fluid  (84.62%)  along  the  anterior  border  of  sternocleidomastoid muscle (SCM); 44.11% were piryform sinus fistulae with presenting recurrent suppurative  thyroiditis (66.67%). Ultrasound were easy to perform, noninvasive and to be able to screen neck mass. Surgical  excision of first branchial anomalies required facial nerve dissection, one of second branchial anomalies used one 

or two (stepladder) transverse cervical incision and one of pityform sinus fistulae required recurrent laryngeal  nerve dissection before hemithyroidectomy. 

Conclusion:  Branchial  anomalies  were  complicated  congenital  pediatric  head  and  neck  lesions  but  are 

* Bệnh viện Quận Thủ Đức Tp HCM, ** Bộ môn Tai Mũi Họng Đại Học Y Dược TP. HCM,  

*** Bệnh viện Nhi Đồng I 

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Phan Nguyên   ĐT: 0909652217  Email: southsapphire@yahoo.com  

Trang 2

comprised by several diverse anomalies. Diagnosis and treatment must be tailored depending on which branchial  arch was involved to avoid complication and recurrence. 

Key words: Branchial anomalies 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh lý khe mang là một trong những bệnh 

lý bẩm sinh thường gặp ở trẻ em với tỉ lệ chiếm 

30% trong những khối u bẩm sinh vùng cổ(5). 

Bệnh xuất phát từ sự phát triển không bình 

thường của bộ phận mang trong quá trình phát 

triển  phôi  thai,  làm  tồn  tại  những  nang,  xoang 

hay đường dò khe  mang  vùng  đầu  cổ  mà  theo 

như  bình  thường  phải  đóng  lại  và  thoái  triển. 

Những bệnh lý này biểu hiện về mặt lâm sàng là 

những khối u vùng cổ bên hay lỗ dò vùng cổ và 

tai  kèm  theo  nhiễm  trùng  tái  phát  nhiều  lần. 

Bệnh  có  thể  diễn  tiến  thành  những  đợt  nhiễm 

trùng  nặng,  áp‐xe  hoá  vùng  cổ  hay  lan  xuống 

trung thất và có thể gây ra hậu quả nặng nề đối 

với trẻ. Đây là một bệnh lý phức tạp, liên quan 

giải  phẫu  phức  tạp  với  những  cấu  trúc  quan 

trọng vùng đầu cổ, biểu hiện đa dạng, có thể xơ 

dính  do  quá  trình  viêm  nhiễm  tái  đi  tái  lại.  Từ 

đó dẫn tới việc chẩn đoán và điều trị ban đầu có 

thể không đầy đủ và chính xác, phẫu thuật  lấy 

đường  dò  gặp  nhiều  khó  khăn,  dễ  dàng  nhầm 

lẫn hay bỏ sót đường dò. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Khảo  sát  đặc  điểm  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng 

và phương pháp phẫu thuật của từng loại bệnh 

lý khe mang ở trẻ em. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Những  bệnh  nhi  được  chẩn  đoán  và  phẫu 

thuật bệnh lý khe mang tại khoa Tai Mũi Họng 

bệnh viện Nhi Đồng I từ tháng 9/2012 đến tháng 

4/2013. 

Đối với bệnh lý khe mang I:  

‐ Có nang hoặc lỗ dò ngoài da vùng sau tai 

hoặc vùng tam giác Poncet. 

‐ Có một lỗ dò bên trong thành ống tai ngoài 

hay hòm nhĩ. 

‐ Phẫu thuật cho thấy ống dò chạy từ lỗ dò  ngoài da vào đến ống tai ngoài hay hòm nhĩ.  Đối với bệnh lý khe mang II:  

‐ Có nang hoặc lỗ dò vùng cổ bên thấp, dọc  theo bờ trước cơ ức đòn chủm. 

‐ Có lỗ dò ở vùng hạnh nhân khẩu cái. 

‐ Nội soi hạ họng kiểm tra thấy hai xoang lê  bình thường. 

‐ Phẫu thuật thấy ống dò chạy từ lỗ dò ngoài 

da  đi  lên  gần  thành  bên  họng,  tận  hết  ở  vùng  hạnh nhân khẩu cái. 

Bệnh lý khe mang III, IV:  

‐ Có biểu hiện bằng một hay nhiều đợt viêm  tấy hoặc áp‐xe cổ bên. 

‐ Ngoài giai đoạn viêm nhiễm, có lõ dò ở cổ  bên dọc theo bờ trước cơ ức đòn chủm. 

‐ Có lỗ dò bên trong xoang lê. 

‐  Phẫu  thuật  cho  thấy  ống  dò  đi  từ  phần  dưới của cổ tận hết ở đáy xoang lê. 

Phương pháp nghiên cứu 

Tiến cứu mô tả hàng loạt ca. 

Tiến hành nghiên cứu 

Thu thập các chỉ số về đặc điểm lâm sàng và  hình ảnh học trước phẫu thuật. Thu thập các chỉ 

số về phẫu thuật, đặc điểm đường dò trong khi  phẫu thuật.Thu thập các chỉ số về đặc điểm mô  bệnh học. 

KẾT QUẢ 

Kết quả khảo sát trên 34 bệnh nhi bất thường  khe mang: nam 55,88%, nữ 44,12%, độ tuổi 5‐10  tuổi thường gặp nhất chiếm 44,12%. 

Tỉ lệ từng loại bất thường khe mang: Bệnh lý  khe mang số I 17,65 %, bệnh lý khe mang số II  38,24 %, bệnh lý dò xoang lê 44,11%. 

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng chính 

Bệnh lý khe mang số I 

Bảng 1: Vị trí bệnh lý khe mang số I 

Trang 3

VỊ trí Phải Trái

Trước tai 1 ca (16,67%)

Sau tai 2 ca (33,34%) 1 ca (16,67%)

Góc hàm, trên xương

Siêu  âm  6  ca  có  khối  dạng  nang  chứa  dịch 

hồi âm 

Bệnh lý khe mang số II 

Bảng 2: Lí do nhập viện bệnh lý khe mang số II 

Lỗ dò nguyên phát chảy dịch 11 84,62

Lỗ dò thứ phát chảy dịch 1 7,69

XQ đường dò cản quang 

Chụp cản quang: 5 ca (38,46%) 

Dò xoang lê 

Lý do nhập viện 

Bảng 3: Lý do nhập viện dò xoang lê 

Lỗ dò thứ phát chảy dịch 2 13,33

Viêm tấy/áp xe tuyến giáp 10 66,67

Áp-xe cạnh cổ 2 13,33

Vị trí: 1/3  cổ  dưới,  bên  trái:  13  ca  (86,67  %), 

bên phải: 2 ca (13,33 %) 

Bảng 4: Vị trí lỗ dò trong của dò xoang lê 

Không thấy lỗ dò trong 1 6,67

Đáy xoang lê 4 26,7

Thành xoang lê 7 46,63

Đỉnh xoang lê 3 20

Bảng 5: Kết quả siêu âm của dò xoang lê 

Kết quả siêu âm Số ca Tỉ lệ %

Mô viêm/áp-xe tuyến giáp 6 40

Mô viêm/áp-xe cạnh tuyến giáp, lan

Đặc điểm phẫu thuật bệnh lý khe mang số I 

Sử dụng đường rạch như phẫu thuật tuyến 

mang tai, bộc lộ dây thần kinh VII đoạn thoát ra 

khỏi lỗ châm chủm, bộc lộ các nhánh chính, cắt 

một phần thùy nông tuyến nước bọt mang tai. 

Bảng 6: Liên quan với TK VII của bất thường khe 

mang số I 

Nông, ngoài TK VII Sâu, trong TK VII

Tai biến: 1 ca tiết dịch kéo dài, phẫu thuật lại  lần hai yếu nhẹ dây thần kinh VII. 

Đặc điểm phẫu thuật bệnh lý khe mang số II 

Sử  dụng  đường  rạch  da  ngang  cổ  một  đường  hay  hai  đường  kiểu  ”  bậc  thang” 

(Stepladder). 

Bảng 6: Phân loại theo Bailey ( 2 )  

Phân loại Số ca Tỉ lệ (%)

Loại 1: đến cơ platysma 0 0 Loại 2: sâu xuống tới cơ ức đòn chủm, nằm

ngoài bao cảnh 6 46,15 Loại 3: vào giữa chạc cảnh, nằm ngoài

Loại 4: vào chạc cảnh, vào hố amydan 3 23,08

Đặc điểm phẫu thuật dò xoang lê 

Bộc lộ thần kinh quặt ngược thanh quản, cắt  bán phần tuyến giáp bị viêm hay dính với u, cắt  trọn  u  kèm  đường  dò.  Soi  hạ  họng  bằng  Mac‐

inktosh đốt lỗ dò trong bằng coblator. 

6 ca viêm trong tuyến giáp, 8 ca u nằm cạnh 

và dính chặt vào tuyến giáp không phân biệt rõ  giới hạn,1 ca dạng nang nằm ngoài tuyến giáp; 

đường dò hướng về màng giáp móng. 

Bảng 7: Giải phẫu bệnh của bệnh lý khe mang 

Biểu mô gai 13 38,24 Biểu mô trụ giả tầng có lông chuyển 1 2,94 Biểu mô gai và trụ giả tầng có lông

chuyển

10 29,41 Không có biểu mô lót 2 5,88

BÀN LUẬN 

Về  tỉ  lệ  từng  loại  bệnh  lý  khe  mang  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  bệnh  lý  khe  mang 

số I là 17,65 %, bệnh lý khe mang số II là 38,24 

% và dò xoang lê là 44,11 %. Tỉ lệ này khác biệt 

Trang 4

tỉ  lệ  cao  nhất  là  bệnh  lý  khe  mang  số  II  là 

77,7%,  bệnh  lý  khe  mang  số  I  18,75  %  và  dò 

xoang lê chỉ chiếm 3,75 %.  

Đặc điểm lâm sàng của bệnh lý khe mang số 

I trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân chủ 

yếu  đến  khám  bởi  lỗ  dò  chảy  dịch  hay  nang 

vùng trước tai, sau tai hay góc hàm trên xương 

móng. Điều này phù hợp với hầu hết y văn đã 

mô  tả.  Ngoài  ra  bệnh  nhân  có  thể  tới  vì  chảy 

dịch hay viêm tấy vết rạch áp‐xe hay vết mổ cũ 

ở vị trí như trên, nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ 

này  là  50%.  Siêu  âm  giúp  phân  biệt  tốt  dạng 

nang chứa dịch hồi âm với hạch viêm vùng này 

hay những khối u cần phân biệt khác. 

Đặc điểm lâm sàng của bệnh lý khe mang II 

ở  trẻ  em  chủ  yếu  là  lỗ  dò  tiết  dịch  dọc  theo  bờ 

trước cơ ức đòn chủm. Nghiên cứu chúng tôi là 

84,62  %  phù  hợp  với  Stephanie  và  cộng  sự(1). 

Theo  Peter  M.Som  và  cộng  sự,  nang  khe  mang 

số II hầu hết được chẩn đoán lần đầu ở độ tuổi 

20‐40.  Chụp  cản  quang  đường  dò  thực  hiện 

được  trên  5  ca  có  thể  luồn  catheter  để  bơm 

thuốc, 2 ca thuốc vào đến hố amydan, 3 ca thuốc 

đọng  tại  mô  vùng  cổ.  XQ  cản  quang  chụp 

đường  dò  có  thể  giúp  ích  cho  việc  khảo  sát 

đường đi của đường dò trước phẫu thuật. 

Đặc  điểm  lâm  sàng  của  dò  xoang  lê  trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi  chủ  yếu  là  viêm 

tấy/áp‐xe vùng tuyến giáp tái đi tái lại nhiều lần 

chiếm  66,67%.  Cận  lâm  sàng  có  giá  trị,  dễ  thực 

hiện  và  ít  xâm  lấn  là  siêu  âm.  Kết  quả  siêu  âm 

cho  thấy  khối  echo  kém  không  đồng  nhất  hay 

echo hỗn hợp cạnh tuyến giáp 9/15 ca hay trong 

tuyến  giáp  6/15  ca.  Siêu  âm  phân  biệt  tốt  tổn 

thương dạng đặc với tổn thương dạng nang hay 

hỗn hợp và cho thấy hiện tượng viêm và khí bên 

trong hay bao quanh tuyến giáp(11). 

Phương  pháp  phẫu  thuật  bệnh  lý  khe 

mang  số  I,  bộc  lộ  nhánh  chính  dây  thần  kinh 

VII tương tự như tác giả Lê Tự Thành Nhân đã 

thực  hiện(8),  có  thể  cắt  một  phần  tuyến  mang 

tai dính vào đường dò. Phân loại theo Work(12), 

bất  thường  khe  mang  số  I  loại  I  4  ca,  bất 

thường khe mang số I loại II 2 ca tương tự với  kết quả của Schroeder(10). 

Biểu đồ 1: So sánh vị trí bất thường khe mang một 

so với dây thần kinh VII với một số tác giả 

Liệt  nhẹ  thần  kinh  VII  xảy  ra  trong  một  trường hợp trong nghiên cứu của chúng tôi tuy  nhiên theo D’Souza(4)hầu hết chỉ liệt tạm thời, chỉ  một phần nhỏ liệt vĩnh viễn. 

Phẫu thuật bệnh lý khe mang số II sử dụng  một  đường  rạch  hay  hai  đường  rạch  (Stepladder)  để  lấy  trọn  đường  dò  dài  và  sâu.  Việc  sử  dụng  chụp  cản  quang  và  bơm  xanh  methylene  trong  phẫu  thuật  cũng  còn  nhiều  tranh  cãi.  Phân  loại  đường  dò  khe  mang  số  II  theo  Bailey,  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  loại  1  không có ca nào, loại 2 có 6/13 ca, loại 3 có 4/13,  loại  4  có  3/13  ca.  Kết  quả  của  Y.  Bajaj  và  cộng 

sự(3) 6/74 đường dò loại 1, 14/74 đường dò loại 2,  44/74 đường dò loại 3, 6/74 đường dò loại 4.  Phẫu  thuật  dò  xoang  lê  đòi  hỏi  phải  bộc  lộ  thần kinh quặt ngược thanh quản trước  khi  cắt  một phần tuyến giáp kèm đường dò. Chúng tôi  không phân biệt được dò khe mang số III hay IV 

vì  không  thiết  lập  được  mối  liên  quan  về  mặt  giải  phẫu  giữa  đường  dò  với  thần  kinh  thanh  quản trên và chỉ dựa vào vị trí lỗ dò trong ở đỉnh  xoang lê là dò số IV hay đáy xoang lê là dò số III  thì  không  đủ  để  kết  luận.  Chúng  tôi  tiến  hành  phẫu thuật lấy đường dò kết hợp với đốt lỗ dò  trong xoang lê bằng coblator để tránh tối đa tái  phát.  Tuy  nhiên  theo  Jordan  và  cộng  sự(6)  một  phần đường dò sẽ tự bít tắc sau quá trình viêm  nhiễm do đó chỉ cần đốt lỗ dò trong là đủ.  Đối  với  kết  quả  giải  phẫu  bệnh,nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  biểu  mô  lát  tầng  chiếm  38,24  %,  biểu  mô  trụ  giả  tầng  có  lông  chuyển 

Trang 5

2,94%,  sự  kết  hợp  của  hai  loại  biểu  mô  này 

29,41%,mô viêm lympho và tương bào hoặc chỉ 

có các tế bào viêm, mô hoại tử và xác bạch cầu 

chiếm  23,53%,  (5,88%)  có  cấu  trúc  dạng  ống 

không còn biểu mô lót, không phát hiện tế bào 

ác tính trong tất cả mẫu bệnh phẩm. So sánh với 

kết quả của Lê Minh Kỳ biểu mô lát tầng cũng 

chiếm tỉ lệ cao với 52,5%, biểu mô trụ giả tầng là 

17,5%, không tìm thấy biểu mô lót là 25%. 

KẾT LUẬN 

Bất  thường  khe  mang  là  một  bệnh  lý  bẩm 

sinh  phức  tạp,  việc  chẩn  đoán  bệnh  dựa  vào 

bệnh sử, thăm khám lâm sàng, hình ảnh học và 

đường  đi  của  đường  dò  khi  phẫu  thuật  cũng 

như kết quả giải phẫu bệnh. Bệnh lý khe mang 

số  I  biểu  hiện  dạng  nang  hay  đường  dò 

trước/sau tai hay góc hàm, bệnh lý khe mang số 

II ở trẻ em chủ yếu biểu hiện lỗ dò tiết dịch vùng 

cổ  giữa  và  dưới,  dò  xoang  lê  biểu  hiện  là  viêm 

tấy/áp‐xe tuyến giáp tái đi tái lại. Điều trị  chọn 

lựa vẫn là phậu thuật lấy đường dò và phương 

pháp  thực  hiện  phải  phù  hợp  với  từng  loại  bất 

thường được chẩn đoán để tránh tái phát. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Fistulaeʺ. Otolaryngology clinics of North America, 40, 161‐176. 

subjects in the facio‐cervical region.ʺ.  

Cochrane  LA,  Wyatt  ME,  Jonas  N,  Hartley  BE  (2011) 

ʺBranchial  anomalies  in  childrenʺ.  International  journal  of  pediatric otorhinolaryngology, 75 (8), 1020‐3. 

concepts  of  first  branchial  cleft  defects:  a  literature  reviewʺ. 

International journal of pediatric otorhinolaryngology, 62 (2), 103‐

9. 

the neckʺ. Facial Plast surgery Clinical North Am 9,131‐45. 

fourth branchial cleft sinuses. ʺ. Arch Otolaryngology Head and  neck Surgery, 124, 1021‐24. 

2: kinh nghiệm 5 năm điều trịʺ. Hội nghị khoa học kỹ thuật Đại  học Y Dược TP HCM lần thứ 30, 

anomalies  in  the  pediatric  populationʺ.  Otolaryngology.  head  and  neck  surgery:  official  journal  of  American  Academy  of  Otolaryngology‐Head and Neck Surgery, 137 (2), 289‐295. 

children:  a  management  algorithmʺ.  Pediatric  emergency  care, 

24 (11), 764‐7. 

defectsʺ. Laryngoscope, 82, 1581‐1593. 

 

Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 13:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w