1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu ứng dụng dị ghép tế bào gốc máu ngoại vi giữ đông lạnh -196oC trong bệnh bạch cầu cấp dòng tủy tại Bệnh viện Truyền máu Huyết học TP.HCM

8 104 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 453,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này nhằm nghiên cứu ứng dụng phương pháp huy động, lưu trữ đông lạnh (-196oC) trong nitơ lỏng và ghép tế bào gốc máu ngoại vi trong bệnh nhân bệnh bạch cầu cấp dòng tủy nhằm mục đích kéo dài thời gian sống không bệnh và thời gian sống toàn thể cho bệnh nhân.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG DỊ GHÉP TẾ BÀO GỐC MÁU NGOẠI VI GIỮ ĐÔNG LẠNH -1960C TRONG BỆNH BẠCH CẦU CẤP DÒNG TỦY TẠI

BỆNH VIỆN TRUYỀN MÁU HUYẾT HỌC TP.HCM

Trần Quốc Tuấn*, Nguyễn Tấn Bỉnh**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Ứng dụng phương pháp huy động, lưu trữ đông lạnh (-196 o C) trong nitơ lỏng và ghép tế bào gốc máu ngoại vi (TBGMNV) trong bệnh nhân bệnh bạch cầu cấp dòng tủy (BCCDT) nhằm mục đích kéo dài thời gian sống không bệnh và thời gian sống toàn thể cho bệnh nhân

Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng tiền cứu trên 20 bệnh nhân BCCDT dị ghép TBGMNV có người cho

phù hợp

Kết quả:Từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 6 năm 2010, tại BV.TMHH TP.HCM, chúng tôi đã tiến hành dị

trung bình là 31 ± 4 Tất cả đều có người cho là anh chị em ruột phù hợp HLA 6/6, và được huy động TBG với G-CSF (Neupogen) Phác đồ điều kiện hóa là BuCy và phòng ngừa bệnh mãnh ghép chống ký chủ (GVHD) bằng Cyclosporine và Methotrexate Số lượng trung bình tế bào đơn nhân và tế bào CD34+ truyền lúc ghép lần lượt là

cầu hạt trung tính là 10,2 ± 0,8 ngày và tiểu cầu là 25,3 ± 10,2 ngày Biến chúng GVHD cấp độ 2-3 chiếm 25% (5 ca), VOD 10% (2 ca), tử vong do ghép (TRM) 5% (1 ca)

Kết luận: Dị ghép TBGMNV là phương pháp điều trị tỏ ra hiệu quả nhằm cải thiện tỷ lệ tử vong, thời gian

sống không bệnh và thời gian sống toàn thể ở bệnh nhân BCCDT

Từ khóa: Dị ghép tế bào gốc máu ngọai vi, bạch cầu cấp dòng tủy

ABSTRACT

RESEACH OF APPLICATION OF THE ALLOGENIC PERIPHERAL BLOOD STEM CELL

THE BLOOD TRANSFUSION & HEMATOLOGY HOSPITAL IN HO CHI MINH CITY

Tran Quoc Tuan, Nguyen Tan Binh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 166 - 173

Objectives: Research application of the allogenic peripheral blood stem cell transplantation by

survival

Method: Clinical trial study in 20 acute myeloid leukemia (AML) patients with HLA-matched allogeneic

peripheral blood stem cell transplantation

Results: From January 2005 to June 2010, we performed 20 cases of Allogenic PBSC Transplantation for

Acute myeloid leukemia patients There were 7 males and 13 females with the median age 32 All of them had HLA 6/6 compatible sibling donors and the mobilization regimen was G-CSF (Neupogen) The conditioning

* ĐH Y Dược TP.HCM

** BV Truyền máu - Huyết học TP.HCM

Trang 2

regimen was BuCy (Busulfan and Cyclophosphamide) and GVHD prophylaxis consisted of Cyclosporine and

The incidence of acute GVHD grade 2-3 was 25%, VOD was 10%, TRM was 5%

Conclusion: Allogeneic peripheral blood stem cell transplantation is highly effective therapy for

Key words: Allogeneic peripheral blood stem cell transplantation, acute myeloid leukemia

ĐẶT VẤN ĐỀ - TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Hiện nay, phương pháp điều trị khởi đầu

phổ biến nhất cho các trường hợp Bệnh Bạch

cầu cấp dòng tủy là Hóa trị liệu tấn công với các

phác đồ có Anthracycline nhằm đạt được lui

bệnh hoàn toàn (LBHT), sau đó, việc điều trị tích

cực (intensive therapy) theo sau nhằm ngăn

ngừa tái phát Phương pháp điều trị sau lui

bệnh được lựa chọn cho những BN dưới 60 tuổi

là hoá trị liều cao hoặc ghép tế bào gốc sau 2-3

đợt hoá trị liệu Ghép TBG được thực hiện khi

đã lui bệnh sẽ làm giảm lượng tế bào ác tính ít

nhất là 2 log so với lúc đầu(11,13,23, 24,32,33, 36)

Có hai phương pháp ghép TBG đang được

ứng dụng là dị ghép và tự ghép Trên thế giới,

trường hợp dị ghép TBG thành công đầu tiên

được thực hiện vào năm 1968 (Thomas & cộng

sự) và tiếp theo đó, hàng ngàn các trường hợp dị

ghép thành công được thực hiện trên BN bệnh

Bạch cầu trong vòng 20 năm trở lại đây Dị ghép

TBG hiện nay được coi là biện pháp điều trị tốt

nhất vì có tần suất tái phát thấp nhất và có khả

năng chữa khỏi hoàn toàn căn bệnh

này(1,6,11,12,13,22,26,32)

Khởi đầu, TBG tạo máu được thu thập từ gai

chậu sau khi gây mê toàn thân Sau đó, huy

động TBG MNV được áp dụng cho dị ghép với

sự hổ trợ của yếu tố tăng trưởng tạo máu G-CSF

Trong khoảng một thập kỷ qua, việc sử dụng

nguồn TBG MNV trong dị ghép ngày càng

chiếm ưu thế hơn là TBG từ tủy xương (năm

1999, theo dữ liệu từ Tổ chức Ghép tủy châu Âu

– EBMT thì đến 45% các cas dị ghép sử dụng

nguồn TBG từ máu ngoại vi) vì:

Số lượng TBG để ghép dồi dào hơn

TBG MNV cho thời gian hồi phục tủy (thời gian mọc Bạch cầu hạt và Tiểu cầu) nhanh hơn,

số lượng Hồng cầu và TC truyền vào ít hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn và tỷ lệ tử vong liên quan đến ghép cũng ít hơn

Biến chứng GVHD cấp và mãn tính, tỷ lệ tái phát, thời gian sống là như nhau trên cả 2 nhóm…(,1,6,11,12,13,22,26, 32,36)

Đến năm 1990, TBG máu cuống rốn được thu thập sau khi trẻ được sinh ra và được đông lạnh để ghép cho những trường hợp dị ghép phù hợp HLA cùng huyết thống hay không trên trẻ em và gần đây là trên người lớn(1,17, 34,36) Báo cáo của EBMT năm 2005 ghi nhận có 24.168 cas ghép TBG tại 597 Trung tâm Ghép trên toàn châu Âu Trong số đó:

15.278 cas tự ghép, 98% sử dụng TBG MNV

và 2% là TBG từ tủy xương

8.890 cas dị ghép (4.702 là anh em ruột phù hợp HLA, 514 là người cho cùng gia đình không phù hợp HLA và 57 cas là anh em sinh đôi)

Tỷ lệ các cas dị ghép năm 2005 tăng 20% so với năm 2004 Chỉ định dị ghép phụ thuộc vào: (1) Người cho phù hợp HLA, (2) Tuổi và tình trạng sức khỏe của người nhận, (3) Tình trạng lui bệnh hoàn toàn

Kết quả gần đây về bệnh nhân BCCDT (CR1) thì DFS 5 năm là 55% - 60% Tỷ lệ tái phát xấp xỉ 20 - 25% đối với nhóm BN nguy

cơ trung bình(17,32) Trong 5 năm gần đây, nhiều số liệu khác nhau cho thấy rõ ràng là:

Kết quả dị ghép từ người cho không cùng huyết thống (MUD - matched unrelated donor) ngày càng cải thiện

Trang 3

Kết quả dị ghép máu cuống rốn tương

đương kết quả của ghép MUD

Có sự giới hạn tuổi, nhưng BN lớn tuổi

được xem xét nhiều hơn và có vài cách thức

được tiến hành nhằm làm giảm độc tính do

ghép (ghép không diệt tuỷ)

Một cuộc ghép bao gồm nhiều công đoạn,

nhiều việc cần hoàn thành tốt để ghép

thành công

Giảm khối lượng tế bào ác tính (giai đoạn

điều kiện hoá sẽ giảm 3-4 log tế bào ác tính)

Ức chế miễn dịch, nếu không có thì nguy cơ

thải ghép sẽ rất cao

Ngăn ngừa GVHD

Ngăn ngừa và điều trị nhiễm khuẩn, nhiễm

nấm lúc giảm BCH trong giai đoạn đầu của

ghép và sau đó là nhiễm siêu vi và vi nấm do

liên quan đến sự hồi phục chậm của tế bào

lymphô T và hệ miễn dịch(34,1,9,26,27,36,37)

HLA giữ 1 vai trò quan trọng Kết quả tốt

nhất cho những BN có người cho phù hợp HLA

cùng huyết thống, đây là chuẩn mực cho dị

ghép Tuy nhiên hầu hết BN lại không có người

cho cùng huyết thống, vì thế việc dùng người

cho phù hợp HLA chung huyết thống một phần

hay không cùng huyết thống đang ngày càng

tăng cao, hệ thống này sử dụng mạng lưới

người cho toàn cầu (hiện nay hệ thống này đã

cung cấp hơn mười triệu người cho tiềm tàng),

thể hiện nỗ lực của các Trung tâm ghép trong

thập kỷ qua Nhiều nghiên cứu cho thấy kết quả

ghép từ người cho phù hợp HLA không huyết

thống đạt tương đương với ghép từ anh chị em

huyết thống phù hợp Tuy nhiên, trong khi tiên

lượng cải thiện nhưng loại ghép này vẫn có tỷ lệ

biến chứng và tử vong liên quan ghép còn

cao(32,34,1,9,11,13,17,36)

Riêng tại Việt Nam, dị ghép TBG MNV

cũng mới được ứng dụng hơn 1 thập niên

qua Tại BV.TMHH TP.HCM, chúng tôi đã

tiến hành dị ghép tủy xương trên các BN

leukemia từ năm 1995, sau đó, năm 2005, đã

tiến hành dị ghép TBG MNV giữ đông lạnh ở

-1960C Nghiên cứu này của chúng tôi được thực hiện trên các trường hợp ghép TBG MNV giữ đông lạnh từ năm 2005 đến năm 2010 để điều trị bệnh BCCDT

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng

Tiêu chuẩn chọn bệnh bao gồm:

Tuổi < 60

Bệnh BCCDT, đạt LBHT lần 1 sau điều trị tấn công (phác đồ 7&3) và điều trị củng cố (Cytarabine liều cao)

- Các chức năng tim, phổi, gan và thận bình thường

- Không có tình trạng nhiễm khuẩn tiến triển

- Đồng ý ghép tế bào gốc

- Có người cho cùng huyết thống phù hợp HLA 6/6, khỏe mạnh và không có bệnh lây nhiễm

Phương pháp

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, tiền cứu Huy động, thu thập và lưu trữ TBGMNV (trên người cho)

- G-CSF (Neupogen) 5-10g/kg/ngày, N1 – N3

- Thu thập TBG khi MNC > 4K/l hoặc số

lượng tế bào CD34+  10 - 20/l Sử dụng máy chiết tách TB tự động (CS 3000 plus, Baxter) để

thu thập TBG MNV, xử lý # 10 lít máu mỗi lần, thu thập 2-3 lần (N4, N5, N6)

- Bảo quản TBG ở -1960C trong dung dịch DMSO 5-10% thể tích bằng máy đông lạnh tự

động Bioarchive

Đếm số lượng tế bào đơn nhân và tế bào CD34+

- Đếm số lượng tế bào đơn nhân (MNC > 3

x 108/kg)

- Đếm số lượng tế bào CD34+ bằng máy Fascalibur flow cytometer (Becton Dickinson) sao cho CD34+ > 2 x 106/kg

Trang 4

Điều kiện hóa (diệt tủy) trước ghép với

phác đồ BuCy (trên người nhận)

- Busulfan pO 4 mg/kg/ngày x 4 ngày, N -7

đến N -4

- Cyclophosphamide TTM 60 mg/kg/ngày

x 2 ngày, N -3 đến N -2

Phòng ngừa nôn ói bằng Emeset và

Dexamethasone

Ghép TBGMNV: 48 giờ (N0) sau khi hoàn

tất điều kiện hóa, TBG MNV được giải đông

trong nước ấm 370C, sau đó được truyền theo

đường ống thông Tĩnh mạch Trung ương (ống

sonde Hickman)

Săn sóc vô khuẩn và điều trị nâng đỡ

Phòng ngừa phản ứng GVHD cấp

- Cyclosporine A TTM 3 mg/kg/ngày, N-1

đến N20

- Methotrexate pO 15 mg/kg/ngày, N1, 10

mg/kg/ngày, N3, N6, N11

Phát hiện và xử trí GVHD cấp

Hệ thống phân loại tổng thể (Glucksberg)

Giai đoạn của

GVHD cấp

Mức độ tổn thương cơ quan

II Da: + đến +++ Ruột và/hoặc gan: + Giảm

nhẹ về lâm sàng III Da: ++ đến +++ Ruột và/hoặc gan: ++ đến

+++ Giảm trung bình về lâm sàng

IV Da: ++ đến ++++ Ruột và/hoặc gan: ++

đến ++++ Giảm nặng về lâm sàng

Xử trí GVHD cấp với Solumedrol TM 2

mg/kg/ngày x 14 ngày

Thời gian hồi phục: Thời gian hồi phục BC

được tính từ ngày ghép đến ngày BCHTT >

0,5K/l tối thiểu 3 ngày liên tục Thời gian hồi

phục TC được tính từ ngày ghép đến ngày

SLTC > 20K/l tối thiểu 3 ngày liên tục mà

không cần truyền TCĐĐ

KẾT QUẢ Đặc điểm bệnh nhân

Bệnh nhân (n=20)

Liều lượng tế bào gốc truyền vào

Số trung bình

Tế bào đơn nhân (×108/kg) 10,7 ± 1,9

Tế bào CD34+ (×106/kg) 4,1 ± 0,9

Tỷ lệ TB sống sau giải đông (%) 85 ± 5,8

Số ngày hồi phục BCHTT và tiểu cầu

Số trung bình

BCHTT ≥ 0,5K/µl (ngày) 10,2 ± 0,8 Tiểu cầu ≥ 20K/µl (ngày) 25,3 ± 10,2

Điều trị hỗ trợ

Số trung bình

Lượng HCL (đơn vị) 10,8 ± 4,5 Lượng TCĐĐ (CUP) 27 ± 5

Số ngày dùng G-CSF 11

Biến chứng

Rối loạn tiêu hóa 20 (100) Loét niêm mạc miệng (độ 2-3) 20 (100) Sốt giảm BCHTT 20 (100) GVHD: Cấp, độ 2-3 5 (25)

Viêm tắc TM trong gan (VOD) 2 (10) Nhiễm siêu vi (Zona, Herpes) 4 (20) Viêm bàng quang xuất huyết 1 (10)

Kết quả điều trị, tỷ lệ tái phát và tử vong sau ghép

Tỷ lệ tái phát 4 (20%)

Tỷ lệ tử vong trong và sau ghép 4 (20%) Thời gian sống không bệnh sau ghép (năm) 3,6 ± 1,4 Thời gian sống toàn bộ sau ghép (năm) 3,8 ± 1,2

Trang 5

Biểu đồ Kaplan-Meier của thời gian sống sau ghép TBG MNV

BÀN LUẬN

Chọn bệnh nhân

Trong nghiên cứu này, đối với BN BCCDT

sau khi điều trị tấn công đạt LBHT và được củng

cố với Cytarabin liều cao (1 – 2 đợt), chúng tôi

ưu tiên đề nghị phương pháp dị ghép TBG nếu

BN có người cho từ anh em ruột phù hợp HLA

và tiến hành sau các giai đoạn chuẩn bị (trong

trường hợp không có người cho mới tự ghép)

Trong dị ghép, chúng tôi chọn người cho là anh

em ruột phù hợp hoàn toàn HLA 6/6 locus:

HLA-A, HLA-B, HLA-DRB1, đây là 6 locus quan

trọng nhất, sẽ cho kết quả điều trị lui bệnh tốt

với tỷ lệ tái phát bệnh thấp, nhất là trong các

trường hợp thuộc nhóm nguy cơ cao và nhằm

tránh đến mức tối đa biến chứng GVHD ở mức

độ nặng Về lứa tuổi BN dị ghép, chúng tôi chọn

bệnh nhân < 50 tuổi thấp hơn so với tự ghép

cũng như so với các tác giả khác nhằm hạn chế

phản ứng GVHD(1,9,17, 32,33,34,36)

Huy động, thu thập, lưu trữ TBGMNV

Trong dị ghép, chúng tôi chỉ sử dụng thuốc G-CSF đơn thuần, đây là thuốc huy động gây ra rất ít biến chứng trên người cho và phác đồ huy động cho kết quả tốt nhất Với phương pháp huy động này, chúng tôi đã huy động đủ lượng tế bào để ghép (tế bào đơn nhân và tế bào CD34+) Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu của tác giả khác TBG được bảo quản đông lạnh trong nitơ –

1960C và được giải đông trong ngày ghép Mẫu TBG có tỉ lệ tế bào sống phục hồi sau giải đông cao

85 ± 5,8%, tỉ lệ này có thể so sánh với các tác giả khác là 80-90%(17,26,28,31,32,33,37)

Liều lượng tế bào gốc truyền vào và thời gian mọc mảnh ghép

Liều lượng tế bào đơn nhân và tế bào CD34+ lần lượt là 10,7 ± 1,9 x 108/kg và 4,1 ± 0,9 x 106/kg Theo y văn khuyến cáo, mảnh ghép chứa > 2 x

106 tế bào CD34+/kg đủ đảm bảo mọc mảnh ghép trong vòng 10-15 ngày Thực tế không có

Thời gian sống không bệnh (năm)

Thời gian sống toàn bộ (năm)

Trang 6

ngưỡng rõ ràng của liều tế bào CD34+, và các

Trung tâm ghép đều cố gắng nâng ngưỡng tế

bào CD34+ lên > 4 x 106 /kg và nhận thấy rằng

với liều tế bào CD34+ cao hơn thì nhìn chung

thời gian mọc mảnh ghép nhanh hơn(32,33,17,26,28,37)

Kết quả sau ghép cho thấy có sự phục hồi

nhanh BCHTT với thời gian trung bình là 10

ngày Sử dụng G-CSF cũng đã góp phần rút

ngắn thời gian giảm BCHTT, mặc dù không ảnh

hưởng đến tỷ lệ sống sót chung cũng như tỷ lệ

tử vong liên quan đến ghép, nhưng từ đó giảm

được nguy cơ nhiễm khuẩn, rút ngắn thời gian

sử dụng KSTM và thời gian nằm

viện(32,33,6,16,22,26,27,28,30,37)

Thời gian hồi phục tiểu cầu trung bình 25

ngày, hơi dài hơn báo cáo của nhiều tác giả dao

động từ 12 đến 18 ngày Có nhiều nguyên nhân

được cho là làm chậm sự hồi phục tiểu cầu

trong dị ghép: giới tính nam, lớn tuổi, dùng

Methotrexate để phòng ngừa GVHD, nhiễm

khuẩn trước khi mọc mảnh ghép, GVHD cấp,

ghép trên các BN khác ngoài bạch cầu mãn dòng

tủy, suy thận, suy gan(3,4,6,21,28,32,33,)

Săn sóc và điều trị nâng đỡ trong và sau

ghép

Trong nghiên cứu này, với BN dị ghép,

chúng tôi áp dụng phương pháp cách ly vô

khuẩn trong phòng được lọc không khí với hệ

thống lọc HEPA vì kỹ thuật ghép này có biến

chứng nhiễm khuẩn cao hơn ghép tự thân, đặc

biệt là trong những trường hợp BN có biến

chứng GVHD(32,33,34,1,7,9,36)

Độc tính của thuốc và biến chứng

Các độc tính của thuốc và biến chứng trong

giai đoạn ghép như nôn ói, viêm loét niêm mạc

miệng, sốt giảm BCHTT gặp trên tất cả các BN,

ở mức độ nhẹ đến trung bình và đều được xử trí

tốt Mặc dù các BN đều có sốt trong giai đoạn

giảm bạch cầu hạt nhưng tất cả đều đáp ứng tốt

với phác đồ kháng sinh kinh nghiệm, không có

trường hợp nào tử vong do nguyên nhân nhiễm

khuẩn Kết quả điều trị này có thể so sánh với

các nghiên cứu khác(1,7,32,33,34)

Hai BN (tỷ lệ 10%) gặp VOD với các triệu chứng điển hình như tăng cân, vàng da niêm, tăng men gan và Bilirubin, siêu âm bụng và CT scan cho thấy có hình ảnh huyết khối trong hệ

TM lách – cửa Theo y văn, tình trạng này khá thường gặp trong dị ghép TBG (10%) và là biến chứng nặng, tử vong cao BN của chúng tôi may mắn được phát hiện từ sớm (N7-N14 sau ghép),

từ đó được theo dõi sát và xử trí tích cực, kịp thời nên cuối cùng đã qua khỏi(1,5,32,34)

Nhiễm Herpes niêm mạc miệng gặp trên

BN dị ghép và đáp ứng tốt với điều trị bằng Acyclovir uống và thoa kem tại chỗ Viêm bàng quang xuất huyết xảy ra trên bệnh nhân có tình trạng hồi phục TC chậm, đòi hỏi phải truyền TCĐĐ thường xuyên và điều trị triệu chứng kéo dài(1,5,7,13,14,32)

Phát hiện và xử trí GVHD cấp và mãn

Trong nhóm dị ghép này, tuy phòng ngừa GVHD bằng Cyclosporin và Methotrexate, nhưng chúng tôi cũng phát hiện các biến chứng GVHD cấp, chủ yếu là tổn thương da và niêm mạc đường tiêu hoá Tỷ lệ GVHD cấp là 25%, trong khi một vài nghiên cứu khác ghi nhận tỷ

lệ GVHD độ 2-4 dao động từ 25 đến 60%, có lẽ hạn chế được tỷ lệ này là do người cho đều là anh em cùng huyết thống và phù hợp HLA hoàn toàn Các biến chứng này không quá nặng đến mức đe dọa tính mạng BN và kiểm soát được bằng Corticoid đường TM và Cyclosporin

1 trường hợp GVHD mãn kém đáp ứng với điều trị, chúng tôi phải đổi sang Tacrolimus(1,9,33,34,36)

Tỷ lệ tái phát, tỷ lệ tử vong sau ghép và thời gian sống sau ghép

Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ tái phát và tử vong trong thời gian theo dõi nghiên cứu không

có sự khác biệt với các tác giả khác Trong nghiên cứu của chúng tôi, với phân tích kết quả thời gian sống không bệnh (DFS) và thời gian sống toàn bộ (OS) theo Kaplan-Meier lần lượt là 3,6 năm và 3,9 năm rất có ý nghĩa trong việc điều trị nhằm kéo dài cuộc sống cho bệnh BCC dòng tủy này(1,11,12,13,19,22, 32,36)

Trang 7

KẾT LUẬN

Dị ghép tế bào gốc máu ngoại vi trên BN

leukemia bước đầu đã đem lại thành công đáng

kể Với liều lượng tế bào đơn nhân và tế bào

CD34+ huy động lần lượt là 10,7 ± 1,9 x 108/kg và

4,1 ± 0,9 x 106/kg., thỏa yêu cầu theo y văn là tế

bào CD34+ > 2 x 106/kg, chúng tôi nhận thấy thời

gian hồi phục bạch cầu hạt sớm vào ngày 10,

tương tự như y văn Tuy nhiên, thời gian hồi

phục tiểu cầu hơi chậm, vào ngày 25, do đó số

lượng tiểu cầu đậm đặc cần truyền nhiều hơn

Các biến chứng sau ghép như viêm niêm mạc

miệng, sốt giảm bạch cầu hạt đã được kiểm soát

tốt, GVHD cấp độ 2 - 3 chiếm tỷ lệ không cao là

25% và được xử trí tốt Sử dụng G-CSF cũng đã

góp phần rút ngắn thời gian giảm bạch cầu hạt,

từ đó giảm được nguy cơ nhiễm khuẩn, rút

ngắn thời gian sử dụng KSTM và thời gian nằm

viện và đưa đến giảm chi phí điều trị Tỷ lệ tái

phát và tử vong, thời gian sống không bệnh và

thời gian sống toàn bộ trong nghiên cứu không

có sự khác biệt với các tác giả khác

Từ đó chúng tôi nhận thấy dị ghép tế bào

gốc máu ngoại vi là một phương pháp hiệu quả

và khả thi trong điều kiện hiện nay, có thể áp

dụng rộng rãi hơn trong việc điều trị căn bệnh

Bạch cầu cấp dòng tuỷ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Apperley J, Gluckman E, Gratwohl A et al (2005), Blood and

marrow transplantation, European school of Haematology, pp

72, 98, 118

2 Bạch Quốc Khánh, Võ Thanh Bình, Nguyễn Anh Trí & Cs

(2010), Ghép TBG tạo máu điều trị các bệnh máu ác tính tại Viện

Huyết Học và Truyền Máu TW, Kỷ yếu hội thảo nghiên cứu,

ứng dụng Tế bào gốc trong Y học

3 Bernstein SH, Nademanee AP, (1998), A Multicenter study of

platelet recovery and utilization in patients after myeloablative

therapy and hematopoietic stem cell transplantation, Blood, 91

(9): 3509 - 3517

4 Bruno B, Gooley T (2001), Secondary failure of platelet recovery

after HSCT, Biol Blood Marrow Transplant, 7 (3): 154 - 162

5 Carreras E (2008), Early complication of HSCT, Hematopoietic

Stem Cell Transplantation, 5 th Edition, 9: 180 - 197

6 Champlin RE, Schmitz N (2000), Blood stem cells compared with

bone marrow as a source of hematopoietic cells for allogeneic

transplantation IBMTR Histocompatibility and Stem Cell

Sources Working Committee and the European Group for Blood

and Marrow Transplantation (EBMT), Blood, 95 (12): 3702 -

3709

7 Cordonnier C (2008), Infection after HSCT, Hematopoietic Stem Cell Transplantation, 5 th Edition, 10: 198-217

8 Couban S, Simpson DR, Barnett MJ, et al (2002), A randomized multicenter comparison of bone marrow and peripheral blood in recipients of matched sibling allogeneic transplants for myeloid malignancies, Blood, 100 (5): 1525 - 1531

9 Devergie A (2008), Graft versus host disease, Hematopoietic Stem Cell Transplantation, 5 th Edition, 11: 218 - 234

10 Ferrara F, Viola A (2007), Age has no influence on mobilization

of peripheral blood stem cells in AML, Hematol Oncol Jun; 25 (2): 84 - 9

11 Gadi VK, Nash RA (2009), Hematopoietic Stem Cell Transplantation, Wintrobe’s Clinical Hematology, 12 th Edition, 24: 723-748

12 Gratwohl A, Passweg J (2001), Hematopoietic stem cell transplantation activity in Europe 1999, Bone Marrow Transplant, 27: 899 - 916

13 Greer JP, Baer MR (2009), Acute Myeloid Leukemia in Adults, Wintrobe’s Clinical Hematology, 12 th Edition, 79: 1844 – 1888

14 Holmberg LA, Boeckh M (1999), Increased incidence of

Cytomegalovirus disease after autologous CD34- Selected Peripheral blood stem cell transplantation, Blood; 94 (12): 4029 -

4035

15 Kadakia MP, Rybka WB (1996), Human herpes virus 6 (HHV6):

infection and disease following autologous and allogeneic bone

marrow transplantation, Blood; 87 (12): 5341 -5354

16 Khoury HJ, Loberiza FR Jr (2006), Impact of post-transplantation G-CSF on outcomes of allogeneic hematopoietic stem cell transplantation, Blood, 107 (4): 1712-1716

17 Larghero J, Garcia J, Gluckman E (2008), Sources and procurement of Stem Cell, Hematopoietic Stem Cell Transplantation, 5 th Edition, 5: 112-127

18 Liesveld JL, Lichtman MA (2006), Acute myelogenous leukemia In: Williams Hematology, 7 th Edition, pp 1183-1236 Mc Graw-Hill, Inc, NewYork

19 Ljungman P, Gratwohl A (2008), Indication and current practice for Allogenic and Autologous HSCT for hematological diseases, solid tumours and immune disorders, Hematopoietic Stem Cell Transplantation, 5 th Edition, 17: 318-326

20 Mahmoud HK, Fahmy OA (1999), Peripheral blood vs bone

marrow as a source for allogeneic hematopoietic stem cell transplantation, Bone Marrow Transplantation, 24: 355-358

21 Nash RA, Gooley T (1996), The problem of thrombocytopenia after hematopoietic stem cell transplantation, Stem Cells, 14:

261-273

22 Negrin RS, Blume KG (2006), Principles of hematopoietic cell transplantation In: Lichtman MA, Beutler E Williams Hematology, 7 th Edition, pp 301-315 Mc Graw-Hill, Inc, NewYork

23 Nguyễn Tấn Bỉnh & Cs (2006), Dị ghép và ghép tự thân TBGMNV giữ đông lạnh tại BV TMHH TP.HCM, Báo cáo khoa học tại Hội nghị Ung Bướu TP.HCM

24 Nguyễn Tấn Bỉnh (2002), Bước đầu nghiên cứu phương pháp ghép tự thân TBGMNV không giữ đông lạnh để điều trị bệnh máu ác tính, Luận án Tiến sĩ Y học, ĐHYD TP.HCM

25 Nguyễn Tấn Bỉnh, Trần Văn Bé, Trần Văn Bình, Trần Quốc Tuấn, Huỳnh Nghĩa, Bao Minh Hiền (2010), Current status of Stem Cell Transplantation in VietNam, 15 th Congress of the Asia Pacific Blood and Marrow Transplantation (APBMT), tr 121 -

122

Trang 8

26 Norbert CG, Myriam L (2003), Marrow versus peripheral blood

for geno-identical allogeneic stem cell transplantation in acute

myelocytic leukemia: influence of dose and stem cell source

shows better outcome with rich marrow, Blood, 102 (8): 3043 -

3051

27 Norbert S, Meral B (2002), Transplantation of mobilized

peripheral blood cells to HLA-identical siblings with

standard-risk leukemia, Blood, 100: 761 - 767

28 Russell JA, Larratt L (1999), Allogeneic blood stem cell and bone

marrow transplantation for acute myelogenous leukemia and

myelodysplasia: influence of stem cell source on outcome, Bone

Marrow Transplantation, 24: 1177 - 1183

29 Schmitz N, Bacigalupo A (1996), Transplantation of peripheral

blood progenitor cells from HLA-identical sibling donors,

European Group for Blood and Marrow Transplantation

(EBMT) Br J Haematol, 95 (4): 715 - 723

30 Sobrevilla CP, Rivas VS (2002), Allogeneic peripheral blood stem

cell transplantation Safety, hematologic recovery, kinetics, and

complications, Arch Med Res, 33 (2): 136 - 143

31 Trần Quốc Tuấn, Huỳnh Nghĩa, Nguyễn Tấn Bỉnh (2006), Ghép TBG MNV giữ đông lạnh -196 0 C tại BV TMHH TP.HCM, Y Học thực hành, 545: 230 - 233

32 Trần Quốc Tuấn, Huỳnh Nghĩa, Nguyễn Tấn Bỉnh (2010), Ghép TBGMNV trong điều trị bệnh Bạch cầu cấp dòng tủy tại BV TMHH TP.HCM, Kỷ yếu hội thảo nghiên cứu, ứng dụng Tế bào gốc trong Y học

33 Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Hồng Hoa, Nguyễn Tấn Bỉnh (2008), Báo cáo 7 trường hợp Leukemia dị ghép tế bào gốc máu ngoại vi tại BV Truyền Máu Huyết Học Tp HCM trong năm

2007, Y Học Việt Nam, 344 (9): 230 - 235

34 Trần Văn Bé (2001), Ghép tuỷ xương, Nhà xuất bản Y học VN

35 Trần Văn Bé (2004), Tình hình ghép tế bào gốc tạo máu tại tại

BV TMHH TP.HCM, Tạp chí Y học VN, số đặc biệt 302 (9): 21 -

24

36 Varaldo R, Frassoni F (2008), HSCT for Acute Myeloid Leukemia in Adults, Hematopoietic Stem Cell Transplantation,

5 th Edition, 20: 356 - 370

37 Zhu K, Xu Y (2001), Allogeneic peripheral blood stem cell transplantation for leukemia, Chinese medical journal, 114 (5):

493 - 496

Ngày đăng: 22/01/2020, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w