1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều tra hiện trạng và việc tham gia kiểm tra chất lượng của các phòng xét nghiệm và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng

8 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 686,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm điều tra hiện trạng các phòng xét nghiệm (PXN) và việc tham gia kiểm tra chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng (KTCLXNHSLS)- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng (XNHSLS). Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.

Trang 1

ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG VÀ VIỆC THAM GIA KIỂM TRA CHẤT LƢỢNG CỦA CÁC PHÒNG XÉT NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO

CHẤT LƢỢNG XÉT NGHIỆM HÓA SINH LÂM SÀNG

Vũ Quang Huy*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Điều tra hiện trạng các phòng xét nghiệm (PXN) và việc tham gia kiểm tra chất lượng xét nghiệm

hóa sinh lâm sàng (KTCLXNHSLS)- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng(XNHSLS)

Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang, điều tra khảo sát

Kết quả và kết luận Kết quả điều tra hiện trạng và việc tham gia KTCLXNHSLS trên 120 PXN toàn quốc

cho thấy: Đã có sự triển khai thực hiện kiểm tra chất lượng và các khâu cơ bản trong qui trình trước, trong và sau xét nghiệm; nhưng chưa hoàn chỉnh trên tất cả các khâu ở tất cả các tuyến: Tỷ lệ thực hiện kiểm tra chất lượng chung là: Nội kiểm tra 59,16%, Ngoại kiểm tra 43,33% Về Quy mô: phần lớn các PXN ở qui mô trung bình và nhỏ, tỷ lệ lần lượt là 49 và 27%; chỉ số ít PXN có qui mô lớn và rất lớn, tỷ lệ tương ứng là 16 và 8% Về Năng lực: Tỷ lệ thực hiện xét nghiệm hóa sinh chung là 96% các PXN, tỷ lệ thực hiện được các XN hóa sinh - miễn dịch giảm dần ở các mức độ chuyên sâu: TSH/ FT4 là 58%, Troponin/ CKMB là 57%, chỉ dấu ung thư là 54% và nồng độ thuốc điều trị chỉ còn 17% Về trang bị, hoá chất từ nhiều nguồn gốc chiếm tỷ lệ cao nhất là 26% từ các công ty nhỏ lẻ; tiếp đó là các công ty toàn cầu: Roche, Abbott, Backman, Olympus, Siemen và Sysmex chiếm tỷ lệ lần lượt là: 21, 20, 3, 16,11 và 3%

Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng: tập trung vào 4 nhóm giải pháp

chính: - Tăng cường thực hiện kiểm tra chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng - Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm tiêu chuẩn hóa tổ chức và hoạt động xét nghiệm - Củng cố, tăng cường công tác

tổ chức, quản lý PXN trong hệ thống khám chữa bệnh, đặc biệt là tuyến quận/ huyện cần quan tâm nhất - Các biện pháp liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị, hóa chất xét nghiệm

Từ khóa: Qui trình trước xét nghiệm, trong xét nghiệm, sau xét nghiệm; Kiểm tra chất lượng xét nghiệm;

Nội kiểm tra chất luợng; Ngoại kiểm tra chất luợng; Xét nghiệm y khoa, Tiêu chuẩn hóa, TCVN 7728, ISO15189,

yêu cầu quản lý, yêu cầu kỹ thuật

ABSTRACT

INVESTIGATE THE CURRENT STATUS OF THE CLINICAL BIOCHEMISTRY LABORATORIES AND PARTICIPATION IN QUALITY CONTROL AND QUALITY ASSURANCE; PROPOSED SOLUTIONS

TO IMPROVE THE QUALITY OF CLINICAL BIOCHEMISTRY LABORATORY

Vu Quang Huy * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 79 - 86

Objectives: Investigate the current status of the clinical biochemistry laboratories and participation in

quality control and quality assurance - Proposed solutions to improve the quality of clinical biochemistry laboratory

Methods: A cross-sectional descriptive study

* Đại học Y Dƣợc Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

Results and conclusions Research survey on current national shows 120 Labs: Had implemented the basic

phases in the process pre-, analytical and post-analytical, and implementation of quality control and safety in the laboratory, but not yet complete on all phases, at all levels: The quality control: the lowest stage of external quality assurance participation was 43.33%; the important step is Internal quality control was 59.16% There are differencies between Labs levels: District lower significantly to Central and Province/ city: the district level: the ratio of pre-analytical, quality control (Internal and External quality control) and post-analytical respectively 38,

19, 9.5, 19%, were significantly lower than the central and the provinces / cities, particularly the post-analytical is lower than that of the private/ foreign Labs The size and scope of capacity to implement and test equipment used: Lab Scale: Labs mostly at medium and small size, respectively 49, 27%, only few large and very large Labs respectively 16 and 8% Lab Capacity:The common biochemistry tests: 96% Labs, The specialised biochemical - immune decline in the level of intensive hormone TSH / FT4 was 58%, troponin / CKMB was 57%, tumor markers was 54% and the therapeutic drug monitoring of only 17% Equipment and chemicals from the companies Roche, Abbott, Backman, Olympus, Siemens and Sysmex respectively: 21, 20, 3, 16, 11 and 3%; and most 26% from the other small companies

Propose solutions to improve the quality of clinical biochemistry laboratory focus on four main

groups of measures:- Strengthen the work of quality control and assurance of clinical biochemistry laboratory - Develop and implement the quality management systems to wards standardization and accreditation Consolidate and strengthen the organization and management of the laboratory in the health care system with the particular attionion shound be given to the Lab district level - Measures related to facilities, equipment, reagents

Key words: Pre-Analytical, Analytical, Post-Analytical; Quality Assurance; IQC: internal quality control;

EQA: external quality assurance program; Lab: Laboratory; Standardization, TCVN7728, ISO15189, management requirements, techniques requirements

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây sự phát triển

nhanh chóng của các kỹ thuật chẩn đoán đặc biệt

là xét nghiệm cận lâm sàng trên thế giới đã được

cập nhật nhanh và nhiều vào nước ta Điều đó

đã đem lại tác động tích cực giúp ngành xét

nghiệm có những bước phát triển đáng kể Tuy

nhiên, một thực trạng đang diễn ra khá phổ biến

liên quan đến xét nghiệm gây bức xúc cho người

bệnh và xã hội là nhiều bác sỹ lâm sàng và bệnh

nhân chưa tin tưởng ở kết quả xét nghiệm, nhiều

nơi xét nghiệm cho kết quả khác nhau trên cùng

một bệnh nhân do thiếu liên thông kết quả xét

nghiệm giữa các đơn vị làm xét nghiệm, thậm

chí ngay giữa những lần khác nhau của một cơ

sở nhiều khi mâu thuẫn nhau do chất lượng xét

nghiệm không bảo đảm, dẫn đến tình trạng

không tin tưởng vào kết quả xét nghiệm của

nhau Điều này ảnh hưởng tới chất lượng chẩn

đoán và điều trị bệnh cũng như uy tín của ngành

y tế Xuất phát từ tình hình đó, chúng tôi thực hiện đề tài này

Mục tiêu nghiên cứu

1 Điều tra hiện trạng các phòng xét nghiệm

và việc tham gia kiểm tra chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng

2 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Được lựa chọn ngẫu nhiên thỏa các điều kiện

sau

- Thuộc đủ các tuyến PXN trong hệ thống khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong ngành y tế nước ta, gồm các tuyến thuộc

hệ thống công lập: tuyến trung ương và y tế ngành, tuyến tỉnh/ thành phố, tuyến quận/ huyện và các phòng xét nghiệm thuộc cơ sở y tế ngoài công lập: tư nhân/ đầu tư nước ngoài

Trang 3

- Thuộc đại diện đủ các vùng, miền: các tỉnh

phía Bắc, các tỉnh miền Trung và Tây nguyên,

các tỉnh phía Nam

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, điều tra khảo sát

- Xây dựng mẫu bảng khảo sát

- Hướng dẫn nội dung câu hỏi và cách trả lời

Phiếu điều tra cho các khoa xét nghiệm/ bệnh

viện qua thư, điện thoại và hội thảo tập huấn bảo

đảm CLHSLS thực hiện với sự phối hợp tham

gia của chuyên gia từ tổ chức quốc tế (IFCC,

AACB), Hội hóa sinh Y học Việt Nam; các đại

học Y Hà nội, Huế, Y Dược thành phố Hồ Chí

Minh; các bệnh viện Bạch mai, TW Huế, Chợ

Rẫy, <

- Đối tượng tham gia: cán bộ phụ trách khoa

xét nghiệm, phụ trách chất lượng khoa xét

nghiệm và lãnh đạo bệnh viện phụ trách xét

nghiệm, cận lâm sàng

Sau tập huấn kiểm tra chất lượng, bảo đảm

chất lượng và được hướng dẫn về các nội dung

điều tra, các cán bộ nêu trên thực hiện cung cấp

thông tin trả lời phiếu điều tra

Tổng hợp, phân tích, xử lý số liệu: chương

trình excel và xử lý phân tích thống kê, so sánh

các tỷ lệ bằng kiểm định Chi bình phương

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

- Từ tổng số 147 phiếu điều tra thu được từ

PXN tham gia, số phiếu đủ thông tin được chấp

nhận điều tra nghiên cứu là 120 phòng xét

nghiệm (PXN) đạt tỷ lệ 81,63%

- Đặc điểm phân tuyến của PXN tham gia

điều tra: tương đối đủ đại diện các tuyến TW,

tỉnh/ thành phố, huyện/ quận; có công lập, tư

nhân và đầu tư nước ngoài ở các tỷ lệ tương đối

đồng đều, lần lượt là: 24, 46, 18 và 12%, trong đó

tuyến tỉnh/ thành phố cao nhất là 56 PXN, chiếm

46%

- Đặc điểm vùng miền của PXN tham gia

điều tra: tương đối đủ đại diện các vùng miền

trong toàn quốc ở tỷ lệ khá đồng đều: miền Bắc: 28%, miền Trung và Tây nguyên: 32% và cao nhất là miền Nam: 40%

Số lượng nghiên cứu của chúng tôi đạt 120 PXN được điều tra, so với nghiên cứu điều tra(13) có 48 PXN, gồm: Miền Bắc là 28; Miền Nam là 20 PXN

Về kết quả điều tra hiện trạng các phòng xét nghiệm và việc tham gia kiểm tra chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng

Sự triển khai thực hiện các khâu cơ bản trong qui trình xét nghiệm, công tác kiểm tra chất lượng xét nghiệm: các bước cơ bản kiểm tra chất lượng XN đã bắt đầu được triển khai là dấu hiệu tích cực, có sự khởi động thực hiện công tác bảo đảm chất lượng XN ở các khâu trên phạm vi rộng toàn quốc, sau nhiều đợt đào tạo đặc biệt là tập huấn toàn quốc 3/2009 về bảo đảm chất

lượng XN Nhưng kết quả điều tra cũng cho

thấy việc thực hiện còn hạn chế, đòi hỏi tăng

cường thực hiện đầy đủ và sâu rộng hơn nữa

Qui trình trước xét nghiệm: thực hiện đánh

số định dạng riêng biệt cho từng mẫu bệnh phẩm có 86 PXN, bằng 71,67% Trong đó tỷ lệ PXN thực hiện đánh số định dạng riêng biệt bệnh phẩm ở các PXN tuyến TW và Tỉnh/ thành phố cao hơn có ý nghĩa thống kê so với tuyến huyện/ quận và tư nhân Định dạng bệnh phẩm

là khâu cơ bản đầu tiên trong qui trình trước xét nghiệm (mục số 5.4.1., tiểu mục a) trong hệ thống tiêu chuẩn quốc tế ISO15189)(2,14) là một biện pháp đơn giản mà quan trọng, giúp tránh sai số thô bạo trong XN do sai bệnh phẩm người này sang người khác

Công tác kiểm tra chất lượng

- Nội kiểm tra chất lượng: tần suất thực hiện nội kiểm tra cao nhất là hàng ngày chiếm 59% rồi tới hàng tuần, hàng tháng và khi rảnh rỗi lần lượt là 19, 9 và 13% Kết quả này nhìn chung thấp hơn so với điều tra của Sở Y tế tp Hồ Chí Minh trên địa bàn thành phố(15) Điều này có thể cho nhận định sơ bộ là nhận thức và việc thực hiện nội kiểm tra ở khu vực thành phố Hồ Chí

Trang 4

Minh cao hơn PXN các địa phương trong cả

nước nói chung

- Ngoại kiểm tra: số PXN thực hiện ngoại

kiểm tra chiếm tỷ lệ 43% So sánh với kết quả của

Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh(15): tỷ lệ đơn vị có

tham gia EQA là: 24,47%; còn nhóm tác giả thực

hiện trên nhóm nhỏ hơn, tỷ lệ này là: 65,21%(13)

Như vậy về công tác kiểm tra chất luợng: đã

thực hiện nội kiểm tra và tham gia ngoại kiểm

tra, trong đó tần suất thực hiện nội kiểm hàng

ngày cũng ở tỷ lệ cao nhất là dấu hiệu tốt

Nhưng tỷ lệ thực hiện còn thấp, cần phải đẩy

mạnh công tác này một cách toàn diện theo

khuyến cáo(6), để tạo thuận lợi cho công tác này,

cần xây dựng chương trình Ngoại kiểm quốc gia

có chất lượng để cung cấp cho các PXN tham gia,

là một yêu tố quan trọng bảo đảm chất lượng xét

nghiệm(6,16,17)

Quy mô, năng lực phạm vi các xét nghiệm

thực hiện

Qui mô

Các PXN trung bình chiếm đa số là 49% rồi

đến qui mô nhỏ, lớn và rất lớn chiếm tỷ lệ lần

lượt là 27, 16 và 8% Phân bố tỷ lệ qui mô các

PXN trên thực tế phản ánh nhu cầu đa dạng của

hoạt động xét nghiệm: từ qui mô nhỏ, đến trung

bình, lớn và rất lớn

Năng lực các PXN

Phạm vi lĩnh vực xét nghiệm thực hiện: tỷ lệ

PXN thực hiện các nhóm XN theo thứ tự giảm

dần: Sinh hóa chung, tổng phân tích (TPT) nước

tiểu, Huyết học, Truyền máu và Vi sinh lần lượt

là 96, 95, 72, 68 và 63%

Tỷ lệ PXN thực hiện các loại XN hóa sinh –

miễn dịch chuyên sâu: Troponin/ CKMB, TSH/

FT4, chỉ dấu ung thư và định lượng nồng độ

thuốc trong điều trị lần lượt là: 57, 58, 54 và 17%

Như vậy về mức độ chuyên sâu: các xét nghiệm

đơn giản thì tỷ lệ PXN thực hiện được cao; các

xét nghiệm càng phức tạp, chuyên sâu càng ít

PXN thực hiện Tham khảo kết quả này với điều

tra của TTKC sở y tế thành phố Hồ Chí Minh

cho thấy tỷ lệ các phòng xét nghiệm thực hiện các xét nghiệm là: Sinh hóa: 19,71, Miễn dịch 10,79, Vi sinh 8,51, PCR 2,49, Nước tiểu 6,39, Ion

đồ 7,26, Huyết học 15,56, Ký sinh trùng 14,32, Xét nghiệm khác 4,98(%)

So sánh năng lực thực hiện các xét nghiệm hóa sinh – miễn dịch chuyên sâu giữa các tuyến cho thấy:

+ Tỷ lệ thực hiện XN định lượng nội tiết tố TSH/FT4 ở các tuyến TW, tỉnh, huyện và tư nhân lần lượt là 59, 66, 43 và 76%

+ Tỷ lệ thực hiện XN Troponin/ CKMB tuyến

TW là 61% và tuyến Tỉnh là 71% khác nhau có ý nghĩa với tuyến huyện (29%); khác không có ý nghĩa với PXN tư nhân (51%)

Như vậy các xét nghiệm chuyên sâu được thực hiện nhiều hơn ở tuyến TW và tuyến tỉnh

so với tuyến huyện; PXN tư nhân có xu hướng cũng quan tâm phát triển một số xét nghiệm nhóm này

So sánh năng lực thực hiện xét nghiệm giữa các miền cho thấy

+ Tỷ lệ các PXN các miền thực hiện XN định lượng nội tiết tố TSH/FT4 khác nhau có ý nghĩa giữa miền Nam (73%) và miền Trung (40%) (p< 0,05); hai miền này khác không ý nghĩa với miền Bắc (59%)

+ Tỷ lệ PXN các miền thực hiện XN Troponin/ CKMB khác nhau có ý nghĩa giữa miền Nam (69%) và miền Trung (45%) (p< 0,05); hai miền này khác không ý nghĩa với miền Bắc (53%)

Như vậy các xét nghiệm chuyên sâu được thực hiện nhiều nhất ở các PXN khu vực miền Nam, ít nhất là miền Trung, miền Bắc thì ở mức trung gian Xu hướng các nuớc là phát triển tập trung đầu tư nguồn lực mạnh mọi mặt về cơ sở vật chất, trang thiết bị, con người thành những trung tâm lớn có năng lực chuyên sâu để giải quyết tốt về chuyên môn, đồng thời đem lại hiệu quả cao về kinh tế, tránh dàn trải nguồn lực, không hiêu quả về đầu tư và năng lực chuyên môn yếu, không đảm bảo chất luợng Một kinh nghiêm ở nước đang phát triển Rwanda nêu ra

Trang 5

nguyên lý đầu tư cho tuyến huyện quyết định

dựa trên hiệu quả hoạt động của cơ sở đó

Cơ sở vật chất, trang thiết bị, hóa chất sử

dụng

Đây là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng

đến chất lượng xét nghiệm

- Các yếu tố hạ tầng như điện, nước cũng rất

quan trọng, nguồn nước làm xét nghiệm cần

được xử lý lọc nước đạt yêu cầu

- Thiết bị, hoá chất được cung cấp từ nhiều

nguồn, cần kiểm soát được nguồn gốc, xuất xứ

và tiêu chuẩn chất lượng là những yếu tố quan

trọng ảnh hưởng đến chất lượng xét nghiệm

Các nước phát triển như ở Hoa kỳ có qui định cụ

thể những thiết bị, hoá chất nào đạt tiêu chuẩn

IVD (invitro dignostic) mới được sử dụng cho

việc làm xét nghiệm chẩn đoán trên người Các

tổ chức chuyên môn nghề nghiệp thuộc các

chuyên ngành như IFCC (Hội hoá sinh lâm sàng

và xét nghiệm y khoa quốc tế),< có những

khuyến cáo về các phương pháp, trang thiết bị

hoá chất sử dụng trong các lĩnh vực

- Để đảm bảo cho thiết bị XN hoạt động tốt

thường xuyên, sự hỗ trợ của các công ty, thiết bị

và hóa chất khi có sự cố thiết bị chưa kịp thời

cũng cần cải thiện bằng các qui định văn bản

hợp đồng để đảm bảo kịp thời cho hoạt động

XN(14)

Xây dựng PXN tiêu chuẩn hóa

Theo hệ thống các yêu cầu về năng lực và

chất lượng của tiêu chuẩn quốc tế ISO15189

(hoặc tương đương) được các nước phát triển:

Hoa Kỳ(6), Australia(11) và các nước đang phát

triển: châu Phi, Uganda(1), châu Mỹ Latinh là yếu

tố cơ bản bảo đảm chất lượng xét nghiệm

Ở nhiều nước(18) trong đó có Việt Nam và

nhiều nước đang phát triển, tiêu chuẩn ISO

15189 chưa phải là qui định bắt buộc, nhưng

bước đầu được các PXN quan tâm tự nguyện

triển khai áp dụng ISO 15189 là dấu hiệu tích cực

theo hướng này, đem lại những hiệu quả rõ rệt

Từng bước xây dựng hướng tới tiêu chuẩn hóa,

từng bước mở rộng phạm vi các PXN xây dựng,

áp dụng ISO 15189 là đi đúng hướng khuyến cáo của WHO(18,19)

Tổ chức y tế thế giới văn phòng khu vực châu Phi (WHO AFRO) triển khai chương trình Tăng cường năng lực quản lý Xét nghiệm hướng tới Công nhận chất lượng (Strengthening Laboratory Management Toward Accreditation – SLMTA) nhằm từng bước áp dụng tiêu chuẩn hóa hướng tới ISO 15189, giúp các nước đang phát triển ở châu Phi dần cải thiện và nâng cao chất lượng xét nghiệm(8,7) Một điểm chú ý là trong số các PXN áp dụng ISO 15189 ở Châu Phi thì 90% là tư nhân, chỉ có 10% là nhà nước(7,8) Những nội dung này cũng rất phù hợp với kết luận của Bộ Y tế do Thứ trưởng Nguyễn Thị Xuyên chủ trì tại Hội thảo Quản lý chất lượng xét nghiệm cận lâm sàng (Symposium on Quality Management For Medical Laboratories) với sự tham gia của các chuyên gia WHO và CDC Hoa kỳ vừa tổ chức tại Bangkok, Thái lan 16→18 tháng 3 năm 2011

Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng

Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng tập trung vào 4 nhóm giải pháp chính

- Tăng cường thực hiện kiểm tra chất lượng xét nghiệm Hóa sinh lâm sàng

- Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm tiêu chuẩn hóa tổ chức và hoạt động xét nghiệm

- Củng cố, tăng cường công tác tổ chức, quản

lý PXN trong hệ thống khám chữa bệnh, đặc biệt quận/ huyện là tuyến cần quan tâm nhất

- Các biện pháp liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị, hóa chất xét nghiệm

Tăng cường thực hiện Kiểm tra chất lượng xét nghiệm Hóa sinh lâm sàng

Đây là yêu cầu bắt buộc nhằm bảo đảm các kết quả xét nghiệm phải được kiểm soát là đạt

Trang 6

yêu cầu thì mới được thực hiện xét nghiệm trả

kết quả cho bệnh nhân

Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất

lượng nhằm tiêu chuẩn hóa tổ chức và hoạt

động xét nghiệm

Xây dựng và áp dụng toàn diện trên các

khâu: trước, trong và sau xét nghiệm

Hệ thống tiêu chuẩn các yêu cầu cụ thể về

năng lực và chất lượng đối với phòng xét

nghiệm y học nói chung và hóa sinh lâm sàng

nói riêng là biện pháp tổng thể cơ bản, lâu dài

đảm bảo chất lượng xét nghiệm

Củng cố, tăng cường công tác tổ chức, quản

lý PXN trong hệ thống khám chữa bệnh,

đặc biệt là tuyến quận/ huyện cần quan tâm

nhất

- Sự quan tâm từ hệ thống chính trị, từ cấp

lãnh đạo, từ cơ quan quản lý nhà nước, bộ chủ

quản (bộ y tế) có vai trò then chốt khởi đầu cho

việc thiết lập toàn bộ hệ thống xét nghiệm đã

được nhiều nước đang phát triển ở châu Phi như

Uganđa tổng kết và chứng minh(1) Xây dựng

chiến lược tổng thể quốc gia cho hệ thống xét

nghiệm là yếu tố đầu tiên, then chốt để bảo đảm

chất lượng trên toàn quốc(18)

- Cần xây dựng hệ thống quản lý chất lượng

và tiêu chuẩn hóa trên toàn diện các khâu: trước

xét nghiệm, trong xét nghiệm và sau xét nghiệm

- Xây dựng và thực hiện, hướng tới kiểm

định (accreditation) PXN theo tiêu chuẩn quốc

gia và tiêu chuẩn quốc tế: cần toàn diện trong cả

các yêu cầu về quản lý và kỹ thuật nhằm nâng

cao mức độ phù hợp với chuẩn mực

- Các tuyến PXN đều có vai trò quan trọng

trong hệ thống XN cận lâm sàng nói chung

+ Các PXN tuyến TW, tiếp đến là tuyến tỉnh/

thành phố phần lớn là tuyến chuyên sâu hoặc

được quan tâm ưu tiên, cần được tổ chức và đầu

tư về mọi mặt, đặc biệt là hệ thống tổ chức quản

lý và cơ sở vật chất để thực sự trở thành những

trung tâm để đáp ứng các yêu cầu về khả năng

phục vụ chuyên sâu và đảm bảo chất lượng xét

nghiệm cho từng khu vực, vùng miền hay tỉnh/ thành phố

+ Các PXN tuyến huyện/ quận là hệ thống gần nhất với người bệnh ở tuyến cơ sở, nơi người bệnh sử dụng dịch vụ XN trước tiên và thường xuyên nhất Đặc biệt, kết quả điều tra cho thấy đây là tuyến có nhiều điểm còn hạn chế nhất, việc thực hiện kiểm tra chất lượng cũng như các qui trình xét nghiệm còn thấp nhất trong các tuyến Vì vậy cần đấy mạnh, tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra chất lượng cũng như công tác tổ chức hệ thống quản lý khoa XN

+ Các PXN tư nhân và đầu tư nước ngoài, cũng như trong nền kinh tế và y tế nói chung theo chủ trương của Đảng, nhà nước khuyến khích đẩy mạnh xã hội hóa y tế, là thành phần mới gia nhập nhưng nhanh chóng trở thành một thành phần quan trọng trong hệ thống XN cận lâm sàng chung, cần có sự quan tâm trong công tác quản lý nhà nước và quản lý chuyên môn, tránh buông lỏng quản lý để chất lượng chuyên môn và dịch vụ không kiểm soát được; ngược lại cần ủng hộ khuyến khích cho hệ thống này phát huy các tiềm năng và phát triển lành mạnh trong

hệ thống đồng bộ của nhà nước quản lý

Các biện pháp liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị, hóa chất xét nghiệm

+ Cần đảm bảo mặt bằng, trang thiết bị, cũng như cơ sở hạ tầng điện, nước đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật cần thiết theo yêu cầu nhiệm vụ hoạt động của khoa xét nghiệm Đặc biệt nguồn nước cung cấp để làm xét nghiệm là một yếu tố

cơ bản và cần thiết, cần được xử lý qua hệ thống lọc đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, là một yếu tố không thể thiếu đảm bảo chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng

+ Qui mô: PXN tại các cơ sở chỉ cần đáp ứng được những yêu cầu tại chỗ, tức thời Nên tập trung đầu tư và chuyên môn hóa cao tại các cơ

sở trung tâm đáp ứng yêu cầu phục vụ chuyên môn sâu, rộng và hiệu quả kinh tế cao

+ Trang thiết bị, hóa chất xét nghiệm: Cần sử dụng trang thiết bị, hóa chất có nguồn gốc, xuất

Trang 7

xứ rõ ràng, đủ năng lực cung cấp trang thiết bị

và hóa chất đạt tiêu chuẩn Cần có các hợp đồng

bảo đảm bảo hành, bảo trì máy móc, thiết bị và

hỗ trợ sửa chữa, khắc phục sự cố máy móc kịp

thời, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật Cần có các hợp

đồng bảo đảm sự cung cấp hóa chất đảm bảo

chất lượng và kịp về thời gian

KẾT LUẬN

Kết quả điều tra hiện trạng và việc tham gia

KTCLXNHSLS trên 120 PXN toàn quốc

- Đã có sự triển khai thực hiện kiểm tra chất

lượng và các khâu cơ bản trong qui trình trước,

trong và sau xét nghiệm; nhưng chưa hoàn

chỉnh trên tất cả các khâu ở tất cả các tuyến

- Tỷ lệ thực hiện kiểm tra chất lượng chung

là: Nội kiểm tra 59,16%, Ngoại kiểm tra 43,33%

- So sánh giữa các tuyến cho thấy tỷ lệ thực

hiện thấp nhất là tuyến huyện/ quận, trên các

khâu: trước XN (định dạng bệnh phẩm), trong

XN (Nội kiểm tra và Ngoại kiểm tra) và sau XN

(lưu trữ thông tin kết quả bệnh nhân) lần lượt là

38; 19; 9,5 và 19% đều thấp hơn có ý nghĩa so với

tuyến TW (tỳ lệ tương ứng là 83, 69, 48 và 66%)

và tỉnh/ thành phố (tương ứng là 84, 71, 54 và

48%); khâu sau XN (19%) thấp hơn cả PXN tư

nhân/ nước ngoài (57%)

Quy mô, năng lực thực hiện xét nghiệm,

trang thiết bị sử dụng

- Qui mô: phần lớn các PXN ở qui mô trung

bình và nhỏ, tỷ lệ lần lượt là 49 và 27%; chỉ số ít

PXN có qui mô lớn và rất lớn, tỷ lệ tương ứng là

16 và 8%

- Năng lực: Tỷ lệ thực hiện xét nghiệm hóa

sinh chung là 96% các PXN, tỷ lệ thực hiện được

các XN hóa sinh - miễn dịch giảm dần ở các mức

độ chuyên sâu: TSH/ FT4 là 58%, Troponin/

CKMB là 57%, chỉ dấu ung thư là 54% và nồng

độ thuốc điều trị chỉ còn 17%

- Trang bị, hoá chất từ nhiều nguồn gốc

chiếm tỷ lệ cao nhất là 26% từ các công ty nhỏ lẻ;

tiếp đó là các công ty toàn cầu: Roche, Abbott,

Backman, Olympus, Siemen và Sysmex chiếm tỷ

lệ lần lượt là: 21, 20, 3, 16,11 và 3%

Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xét nghiệm hóa sinh lâm sàng

Tập trung vào 4 nhóm giải pháp chính

- Tăng cường thực hiện Kiểm tra chất lượng xét nghiệm Hóa sinh lâm sàng

- Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm tiêu chuẩn hóa tổ chức và hoạt động xét nghiệm

- Củng cố, tăng cường công tác tổ chức, quản

lý PXN trong hệ thống khám chữa bệnh, đặc biệt

là tuyến quận/ huyện cần quan tâm nhất

- Các biện pháp liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị, hóa chất xét nghiệm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Leadership and Policy Are Critical Factors for Implementing Laboratory Accreditation in Developing Countries A Study

on Uganda Am J Clin Pathol 2010; 134:381-387

Particular Requirements for Quality and Competencies (AS

4633, ISO 15189), Standard Australia, Homebush, NewSouth Wales, 2004

approach Lab Med 2004;35(10): 621–4

laboratory: harmonization and subsidiarity Clin Chim Acta 2001;309:137-145

(2010) Field Experience in Implementing ISO15189 in Kisumu, Kenya American J Clinical Pathology, 2010; 134: 410 – 418

quality system model for health care; approved guideline 2nd edition Wayne (PA): Clinical and Laboratory Standards Institute; 2004

for Medical Laboratories: Guidelines for Implementation and

Mediterranean Series 14, WHO-EMRO, Alexandria, 1995

(2010), The World Health Organization African Region Laboratory Accredictation Process: Improving the Quality of Laboratory System in the African Region American J Clinical Pathology; 2010; 134: 393 – 400

Laboratory Medecine) series (1998): Essentials of Clinical Laboratory Management in Developing Regions 1998

clinical laboratory testing harmonization and equipment

Trang 8

standardization at different levels of a tiered health laboratory

system Am J Clin Pathol 2009; 131: 861-866

Application Documents (2006): supplementary Requirement

for Accreditation in the filed of Medical Testing (AS 4633, ISO

15189), NATA, Rhodes, NS Wales, 2006

Laboratory Health Systems for Global Health: Acting Now,

Acting Collectively, but Acting Differently Am J Clin Pathol

2010;134:359-360:

nghiệm hóa sinh máu tại một số bệnh viện khu vực phía Nam

Việt Nam Tạp chí Nghiên cứu Y học 2009,63,4,91-97

Phòng thí nghiệm y tế, yêu cầu cụ thể về chất lượng và năng

lực 2007

Thúy Nga (2009) Kết quả khảo sát thực trạng xét nghiệm tại

các phòng xét nghiệm thành phố Hồ Chí Minh Y học thực

hành, 2009, 680, 58 – 61

khâu cơ bản qui trình trước, trong và sau xét nghiệm qua điều tra so sánh giữa các tuyến trên 120 phòng xét nghiệm (PXN) cận lâm sàng trong cả nước Tap chí Y Dược học quân sự,

2010, 35: 72 – 76

phát hiện khi đánh giá phòng xét nghiệm y khoa đăng ký công nhận đạt tiêu chuẩn ISO15189 Y học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản tập 14, só 4, 2010, 106 – 111

conference on health laboratory quality systems, Lyon, April 2008: joint statement and recommendations Wkly Epidemiol Rep 2008;83:285-287

Africa.Resolution AFR/RC58/R2 (2008): strengthening public health laboratories in the WHO African region: a critical need for disease control In: Final Report: 58th Session of the WHO Regional Committee for Africa Brazzaville, Republic of the Congo: World Health Organization Regional Committee for Africa; 2008:11-13

Ngày đăng: 22/01/2020, 12:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm