1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm các trường hợp thiếu máu nhập khoa nội tổng hợp 4 Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP.HCM từ tháng 6/2005 đến 6/2006

8 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 258,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm mô tả đặc điểm các trường hợp thiếu máu nhập khoa nội tổng hợp. Nghiên cứu này thực hiện trên 143 trường hợp thiếu máu nhập khoa nội tổng hợp 4 bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 1/6/2005 đến 31/5/2006. Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM CÁC TRƯỜNG HỢP THIẾU MÁU NHẬP KHOA NỘI TỔNG HỢP 4

BV NHI ĐỒNG 2 TPHCM TỪ THÁNG 6/2005 ĐẾN 6/2006

Nguyễn Thành Đạt*, Lê Thị Ngọc Dung **

TÓM TẮT

Mục tiêu:Mô tả đặc điểm các trường hợp thiếu máu nhập khoa nội tổng hợp 4 bv nhi đồng 2 tphcm từ tháng

6/2005 đến 6/2006

Phương pháp: Mô tả loạt ca

Kết quả: Nghiên cứu này thực hiện trên 143 trường hợp thiếu máu nhập khoa nội tổng hợp 4 bệnh viện

Nhi Đồng 2 từ 1/6/2005 đến 31/5/2006 Kết quả nghiên cứu cho thấy: xác định nguyên nhân thiếu máu đạt 91,9%, chỉ định truyền máu đạt 43,4% Tần suất thiếu máu cao nhất ở trẻ từ 6 tháng – 6 tuổi (64,3%), nam gặp nhiều hơn nữ Các nguyên nhân thiếu máu thường gặp là thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng (24,9%), Thalassemia (28,7%) Thiếu máu mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất (45,5%) và thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc chiếm 86% Hồng cầu lắng là chế phẩm truyền máu chiếm tỷ lệ cao nhất 41,3%, máu toàn phần chỉ chiếm 1,4%

Kết luận: Thiếu máu là một hội chứng thường gặp ở trẻ em,có thể gây chậm phát triển thể chất và tinh

thần của trẻ Nó còn có thể để lại nhiều biến chứng, thậm chí có thể gây tử vong nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời

SUMMARY

CHARACTERISTICS OF THE ANEMIC CASES ADMITTED TO GENERAL INTERNAL DEPARTMENT

N 0 4 IN THE CHILDREN ’ S HOSPITAL N 0 2 HCM CITY FROM JUNE 2005 TO JUNE 2006

Nguyen Thanh Dat, Le Thi Ngoc Dung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 – Supplement of No 1 - 2007: 153 – 160

Objective: Observe to characteristics of the anemic cases admitted to general internal department N 0 4

in the children ’ s hospital N 0 2 hcm city from june 2005 to june 2006

Method: Described by case series

Result: This study included 143 anemic cases who were admitted to general internal Department N 0 4 in the Children ’ s Hospital N 0 2 HCM City from 1 th june 2005 to 31 th may 2006 The result showed that the successful rate of the causal identification was about 91.1%, the rate of indication for transfusion was 43.3% Children from 6 months – 6 years were the highest group getting anemia (64.3%), male was more than female, common causes of anemia were iron deficiency (29.4%), Thalassemia (28.7%) Moderate anemia was the highest group (45.5%) and 86% patients had weak colour- small erythrocyte anemia 41.3% patients were given packed red cells, whereas only 1.4% received whole blood transfusion

Conclusion: Anemia is a common syndrome in children, which will retard the physical and mental

development of the child and may cause complications or death if it is not detected at early period Therefore, this study aims to contribute in the diagnostic and therapy of this syndrome

* Trung Tâm Y tế Q3

Trang 2

nghiệm cần thiết, nhanh chóng chẩn đoán nguyên

nhân và quyết định truyền máu chính xác an toàn

nhằm giúp bệnh nhân rút ngắn thời gian nằm viện

và giảm tai biến sau điều trị Nhằm góp phần

chẩn đoán và điều trị thiếu máu hiệu quả, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm các trường

hợp thiếu máu nhập khoa Nội tổng hợp 4 Bệnh

viện Nhi Đồng 2 từ tháng 1/6/2005 đến tháng

31/5/2006”

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận

lâm sàng, nguyên nhân, và xử trí truyền máu trên

các trường hợp thiếu máu nhập khoa Nội tổng hợp

4 Bệnh viện Nhi Đồng 2 thành phố Hồ Chí Minh

từ 1/6/2005 đến 31/5/2006

Mục tiêu chuyên biệt

1 Xác định tỷ lệ các đặc điểm về: tuổi, giới,

nơi cư ngụ, tiền sử bệnh lý huyết học gia đình và

bản thân

2 Xác định tỷ lệ các đặc điểm lâm sàng: lý do

nhập viện, mức độ thiếu máu, gan to, lách to,

hạch to ngoại biên, hội chứng tán huyết và hội

chứng xuất huyết

3 Xác định tỷ lệ các loại thiếu máu theo hình

dạng hồng cầu: hồng cầu nhỏ nhược sắc, hồng cầu

đẳng sắc đẳng bào, hồng cầu to

4 Xác định tỷ lệ các nguyên nhân gây thiếu máu

5 Xác định tỷ lệ các trường hợp được truyền

máu, loại chế phẩm máu, và khối lượng máu

trung bình được sử dụng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Tiền cứu mô tả các ca bệnh

Đối tượng nghiên cứu

Dân số mục tiêu

Bệnh nhi trên 1 tháng tuổi bị thiếu máu

Dân số chọn mẫu

Bệnh nhi trên 1 tháng tuổi bị thiếu máu nhập khoa Nội tổng hợp 4 BVNĐ 2 từ tháng 1/6/2005 đến tháng 31/ 5/2006

Cỡ Mẫu

Lấy trọn

Phương pháp chọn mẫu

- Tiêu chí chọn mẫu

Các bệnh nhi nhập khoa NTH 4 BV Nhi Đồng

2 từ tháng 1/6/2005 đến tháng 31/5/2006 được xác định thiếu máu dựa trên tiêu chuẩn WHO-2001(1,2)

TUỔI CHẨN ĐOÁN THIẾU MÁU

HB (G/DL) HCT (%)

2 THÁNG – 6 THÁNG < 9,5 < 28,5

6 THÁNG – 6 TUỔI < 11,0 < 33

6 TUỔI – 12 TUỔI < 11,5 < 34,5

> 12 TUỔI NAM < 13,0 < 39

NỮ < 12,0 < 36

- Tiêu chí loại trừ

Các trường hợp thiếu máu được chẩn đoán thiếu máu theo tiêu chuẩn WHO-2001 nhưng được truyền máu trong vòng 2 tháng trước nhập viện

Trang 3

KẾT QUẢ

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Bảng 1: Phân bố tuổi, giới, nơi cư ngụ

TS-DD (N)

THAL (N)

TC (N)

HEMO (N)

G6PD (N)

ST (N)

KHÁC (N)

KXĐ (N)

TỔNG

N (%)

Tuổi

Ghi chú: Chữ viết tắt ở các bảng kết quả: TS-DD: Thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng; THAL: Thalassemia; TC: Bệnh lý tiểu cầu; HEMO: Hemophilia; G 6 PD: Thiếu men G 6 PD; ST: Suy tủy; KHÁC: Bệnh khác; KXĐ: Không xác định

Bảng 2: Phân bố tiền sử bệnh huyết học bản thân và gia đình

TS-DD (N)

THAL (N)

TC (N)

HEMO (N)

G6PD (N)

KHÁC (N)

KXĐ (N)

TỔNG

N (%)

Đặc điểm lâm sàng

Bảng 3: Đặc điểm lâm sàng thường gặp

TS-DD (N)

THAL (N)

TC (N)

HEMO (N)

G6PD (N)

ST (N)

KHÁC (N)

KXĐ (N)

TỔNG

N (%)

LDNV

Mức độ

TM

Gan to không có 36 6 23 18 29 0 0 7 0 3 0 4 2 2 6 7 106 (74,1%) 37 (25,9%)

Trang 4

TS-DD (N)

THAL (N)

TC (N)

HEMO (N)

G6PD (N)

ST (N)

KHÁC (N)

KXĐ (N)

TỔNG

N (%)

Phân loại thiếu máu theo hình dạng hồng cầu

Bảng 4: Phân loại thiếu máu theo hình dạng hồng

cầu

TS-DD

THA

L TC

HE

MO

G6P

D ST

KH ÁC

KX

Đ

TỔNG

N (%)

Hình

dạng

HC

Nhỏ,

NS 39 41 23 7 1 0 2 10

123 (86%)

ĐS,

ĐB 3 0 6 0 2 3 1 2

17 (11,9%)

TO 0 0 0 0 0 1 1 1 3 (2,1%)

TỔNG 42 41 29 7 3 4 4 13 143

Nguyên nhân thiếu máu

Bảng 5: Phân bố các nguyên nhân thiếu máu

Nguyên nhân thiếu máu Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Thiếu sắt- dinh dưỡng

Thalassemia (@)

Bệnh tiểu cầu ($)

Hemophilia (#)

Thiếu men G 6 PD

Suy tủy

Bệnh khác (&)

Không xác định (*)

42

41

29

7

3

4

4

13

29,4 28,7 20,3

4,9 2,1 2,8 2,8 9,1

Ghi chú: (trường hợp)

(@) Thalassemia: β-Thalassemia (29), β-Thalassemia – Hb E

(9), β-Thalassemia trait (2), α-Thalassemia (1)

(#) Hemophilia: hemophilia A (5), hemophilia B (2)

($) Bệnh lý tiểu cầu: xuất huyết giảm tiểu cầu (24), giảm chất

lượng tiểu cầu (5)

(&) Bệnh khác: hội chứng thực bào máu (1), afibrinogen (1),

thiếu máu huyết tán miễn dịch (1), Henoch Schonlein

purpura (1)

(*) Không xác định: thiếu máu tán huyết chưa rõ nguyên nhân

(6), thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc chưa rõ nguyên

nhân (1), thiếu máu hồng cầu đẳng sắc đẳng bào chưa rõ

nguyên nhân (2), thiếu máu hồng cầu to chưa rõ nguyên

nhân (1), theo dõi bệnh máu ác tính (1)

Đặc điểm điều trị

Bảng 6: Các trường hợp được truyền máu và loại

máu sử dụng

TS-DD

TH

AL TC

HE

MO

G6P

D ST

KH ÁC

KX

Đ

TỔNG

N (%)

HCL 10 34 1 1 1 2 3 7 59

(41,3%)

(1,4%) HCL+

MTP 0 0 0 0 0 0 0 1

1 (0,7%) KHÔN

G 32 7 28 6 2 1 1 4

81 (56,6%) TỔNG 42 41 29 7 3 4 4 13 143

Ghi chú: HCL: Hồng cầu lắng; MTP: Máu toàn phần; HCL+MTP: Hồng cầu lắng + máu toàn phần

Bảng 7: Phân bố lượng hồng cầu lắng và máu toàn

phần sử dụng

hồng cầu lắng máu toàn phần

không truyền

≤ 10 (ml/kg)

> 10 – 20 (ml/kg)

> 20 (ml/kg)

83 (58%)

23 (16,1%)

26 (18,2%)

11 (7,7%)

140 (97,9%)

2 (1,4%)

1 (0,7%)

0

Bảng 8: Lượng hồng cầu lắng trung bình sử dụng

trong từng nhóm nguyên nhân

TS-DD

THA

L TC

HEM

O

G6P

D ST

KHÁ

C KXĐ

trung bình 11,5 12,4 7,5 9,1 25 10,7 28,9 12,6 tối

thiểu 5,5 2,7 7,5 9,1 25 10,4 20,8 5,5 tối đa 27,1 26,6 7,5 9,1 25 11 35,7 22,2

Trang 5

Bảng 9: Lượng máu toàn phần trung bình sử dụng

trong từng nhóm nguyên nhân

ST N= 1 KXĐ N=2

MTP

(ML/KG)

trung bình 9,3 10,7

BÀN LUẬN

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm bệnh

nhân có tuổi từ 6 tháng-6 tuổi chiếm tỷ lệ cao

nhất (64,3%), điều này phù hợp với tác giả Lâm

Thị Mỹ cũng cho rằng lứa tuổi ≤ 6 tuổi chiếm tỷ

lệ cao nhất (53,9%)(3) Nhóm bệnh nhân có tỷ lệ

thấp nhất là > 12 tuổi (4,9%), điều này không phù

hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ khi cho rằng nhóm

tuổi ≤ 6 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất (8,6%)(3) Sự

khác biệt này có thể do sự khác biệt về dân số

nghiên cứu và thời điểm tiến hành nghiên cứu

Giới

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

giới nam chiếm ưu thế hơn nữ (64,3% so với

35,7%) Giới nam cũng chiếm ưu thế hơn giới nữ

trong hầu hết các nguyên nhân gây thiếu máu

ngoại trừ Thalassemia tỷ lệ nam và nữ như nhau

kết quả này phù hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ khi

cho rằng giới nam chiếm ưu thế hơn giới nữ trong

đa số các nguyên nhân(3)

Nơi cư ngụ

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ bệnh

nhân cư ngụ tại TP.HCM và các tỉnh thành khác

là tương đương nhau Điều này không phù hợp với

tác giả Lâm Thị Mỹ khi cho rằng bệnh nhân đến

từ các tỉnh thành khác (73,4%) chiếm tỷ lệ cao

hơn bệnh nhân cư ngụ tại TP.HCM (26,5%)(3) Sự

khác biệt này có thể do địa điểm tiến hành làm

nghiên cứu của chúng tôi (khoa NTH 4 BVNĐ2)

khác với địa điểm tiến hành làm nghiên cứu của

tác giả Lâm Thị Mỹ (BVNĐ1) Kết quả nghiên

cứu của chúng tôi phù hợp với tác giả Villalpando

S và cộng sự khi cho rằng tần suất thiếu máu ở trẻ

dưới 2 tuổi là 50% và không có sự khác biệt giữa

Phần lớn các trường hợp có tiền sử bệnh huyết học bản thân đều được chẩn đoán cùng loại với bệnh huyết học đã mắc trước đó và hầu hết các trường hợp có tiền sử bệnh huyết học gia đình đều là bệnh bẩm sinh di truyền

Đặc điểm lâm sàng

Lý do nhập viện

Xanh xao là lý do nhập viện thường gặp nhất trong nghiên cứu của chúng tôi (46,2%), kế đến là xuất huyết bao gồm xuất huyết da, xuất huyết niêm (chảy máu chân răng, chảy máu mũi, ) (25,9%)  có tới 53,8% các trường hợp thiếu máu nhập viện không phải vì xanh xao vì thế chúng ta cần lưu ý các xét nghiệm thường qui về thiếu máu để tránh bỏ sót bệnh

Mức độ thiếu máu

Thiếu máu trung bình (Hb 6-9 g/dl) chiếm tỷ lệ cao nhất 45,5%, kế đến là thiếu máu nhẹ (Hb > 9g/dl) chiếm 32,9%, và thiếu máu nặng (Hb < 6 g/dl) chiếm 21,7% Thiếu máu nặng và trung bình chủ yếu gặp trong bệnh thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng và Thalassemia Thiếu máu nhẹ chủ yếu gặp trong bệnh lý tiểu cầu, thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và tác giả Lâm Thị Mỹ có sự khác biệt, tác giả Lâm Thị Mỹ cho rằng thiếu máu nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất (42,9%), thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng là nguyên nhân thường gặp nhất trong thiếu máu nhẹ, bạch huyết cấp và thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng là nguyên nhân thường gặp nhất trong thiếu máu trung bình, và suy tủy là nguyên nhân thường gặp nhất trong thiếu máu nặng Sự khác biệt này có thể do chúng tôi lấy vào nghiên cứu cả các trường hợp Thalassemia cũ (18 trường hợp đã được chẩn đoán xác định ở lần nhập viện trước đó) và mới chẩn đoán (23 trường hợp mới được xác định chẩn đoán trong lần nhập viện này), còn tác giả Lâm Thị Mỹ chỉ lấy vào nghiên cứu các

Trang 6

Siegel EH (thiếu máu nặng rất hiếm gặp: ít hơn

2%)(9), Ahmed F (thiếu máu nặng ở cộng đồng

dân cư Banglades thì hiếm gặp, chỉ khoảng 2-3%

dân số)(4), Rawat CM (thiếu máu nhẹ 55,2%, chỉ

có 4% là thiếu máu nặng)(8), Barduagni P (Chỉ

12% trẻ bị thiếu máu và không có trường hợp nào

bị thiếu máu nặng)(5) thì kết quả nghiên cứu của

chúng tôi không phù hợp Điều này có lẽ do sự

khác biệt về đối tượng nghiên cứu

Phân loại thiếu máu theo hình dạng hồng cầu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, thiếu máu

hồng cầu nhỏ nhược sắc chiếm tỷ lệ cao nhất

(86%), kế đến là thiếu máu hồng cầu đẳng sắc

đẳng bào (11,9%), và thiếu máu hồng cầu to

(2,5%) Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi

không phù hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ, tác giả

Lâm Thị Mỹ cho rằng thiếu máu hồng cầu đẳng

bào chiếm tỷ lệ cao nhất (44,5%), kế đến là thiếu

máu hồng cầu nhỏ (37,5%) Sự khác biệt này có

thể là do mẫu nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Mỹ

chỉ có các trường hợp Thalassemia mới chẩn đoán

và không có các trường hợp thiếu máu do bệnh lý

tiểu cầu Chính hai nhóm bệnh nhân này làm cho

tỷ lệ thiếu máu hồng cầu nhỏ nhược sắc của

chúng tôi cao hơn so với tác giả Lâm Thị Mỹ

Nguyên nhân thiếu máu

Các nguyên nhân thiếu máu thường gặp trong

nghiên cứu của chúng tôi bao gồm: thiếu máu

thiếu sắt-dinh dưỡng chiếm 29,4%, kế đến là

Thalassemia 28,7% (41 trường hợp: 29 trường hợp

β-Thalassemia, 9 trường hợp β-Thalassemia + Hb

E, 2 trường hợp β-Thalassemia trait, 1 trường hợp

α-Thalassemia), bệnh lý tiểu cầu 20,3% (29

trường hợp: 24 trường hợp xuất huyết giảm tiểu

cầu, 5 trường hợp giảm chất lượng tiểu cầu) Một

số các nguyên nhân còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp

như không xác định 9,1%, hemophilia 4,9% (7

trường hợp: 5 trường hợp hemophilia A, 2 trường

hợp hemophilia B), suy tủy 2,8%, bệnh khác 2,8%

(4 trường hợp: 1 trường hợp hội chứng thực bào

máu, 1 trường hợp afibrinogen, 1 trường hợp thiếu

máu tán huyết miễn dịch, và 1 trường hợp Henoch

Schonlein), và thiếu men G6PD 2,1% Điều này tương đối phù hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ khi

cho rằng thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng chiếm tỷ

lệ cao nhất (24,2%)

Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi cũng có sự khác biệt với tác giả Lâm Thị Mỹ: trong nghiên cứu của chúng tôi Thalassemia là nguyên nhân thường gặp đứng hàng thứ hai sau thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng, trong khi đó Thalassemia (7,8%) là nguyên nhân đứng hàng thứ năm trong nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Mỹ sau thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng, bạch huyết cấp 19,5%, suy tủy 14,8%, không xác định 12,5% (3) Sự khác biệt này có thể

do chúng tôi đưa vào nghiên cứu nhóm bệnh lý tiểu cầu và 18 trường hợp Thalassemia cũ, còn tác giả Lâm Thị Mỹ không đưa vào nghiên cứu nhóm bệnh lý tiểu cầu và các trường hợp Thalassemia cũ Ngoài ra trong nghiên cứu của chúng tôi tần suất suy tủy và bạch huyết cấp rất thấp, chính điều này cũng góp phần vào sự khác biệt về kết quả giữa nghiên cứu của chúng tôi và tác giả Lâm Thị Mỹ Theo Derman O và cộng sự: thiếu máu thiếu sắt (47,7%), thiếu máu kết hợp với nhiễm trùng (43,1%), -Thalassemia (6,8%) và bạch huyết cấp (2,2%)(6) Điều này tương đối phù hợp với kết quả nghiên cứu của chúng tôi (thiếu máu thiếu sắt là nguyên nhân hàng đầu và bạch huyết cấp là nguyên nhân không gặp)

El Ati J Gaigi và cộng sự cho rằng thiếu máu thiếu sắt chiếm đa số (70%), thiếu máu do thiếu folate và sinh tố B12 thì không đáng kể, thiếu máu

do viêm nhiễm mãn tính khoảng 3%, thiếu máu

do Thalassemia (5%)(7) Điều này khác biệt với kết quả nghiên cứu của chúng tôi (Thalassemia là nguyên nhân thường gặp nhất) Nhưng chúng tôi và El Ati J Gaigi cũng có điểm tương đồng khi cho rằng thiếu máu thiếu sắt là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất

Đặc điểm điều trị

Truyền máu và loại máu sử dụng

Trang 7

Tỷ lệ bệnh nhân được truyền máu là 43,4%,

trong đó hồng cầu lắng được sử dụng phổ biến

nhất Tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng hồng cầu

lắng là 41,3%, máu toàn phần là 1,4%, hồng cầu

lắng+máu toàn phần là 0,7%, các sản phẩm máu

khác không được sử dụng trong nghiên cứu của

chúng tôi Điều này tương đối phù hợp với tác giả

Lâm Thị Mỹ khi cho rằng: tỷ lệ sử dụng hồng cầu

lắng (30,6%), máu tươi (14%), hồng cầu

lắng+máu tươi (21,1%), không truyền máu

(34,3%)(3) Điều khác biệt nếu có ở đây là tỷ lệ sử

dụng máu toàn phần và hồng cầu lắng+máu toàn

phần trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn

nhiều so với tác giả Lâm Thị Mỹ

Trong các nhóm nguyên nhân thiếu máu,

Thalassemia là bệnh có tỷ lệ bệnh nhân được

truyền máu cao nhất (82,9%, 34 trường hợp được

truyền máu trên tổng số 41 trường hợp

Thalassemia), kế đến là suy tủy 75%, 3 trường

hợp trên tổng số 4 trường hợp suy tủy) Nguyên

nhân thiếu máu có tỷ lệ bệnh nhân được truyền

máu thấp nhất là bệnh lý tiểu cầu (3,4%, 1 trường

hợp được truyền máu trên tổng số 29 trường hợp

bệnh lý tiểu cầu, cụ thể là bệnh xuất huyết giảm

tiểu cầu) Điều này có sự khác biệt với tác giả

Lâm Thị Mỹ khi cho rằng: thiếu máu viêm nhiễm

có tỷ lệ bệnh nhân được truyền máu cao nhất

(85,7%), kế đến là suy tủy (84,2%), Thalassemia

có tỷ lệ bệnh nhân được truyền máu đứng hàng

thứ tư Sự khác biệt này có thể do Thalassemia

trong nghiên cứu của tác giả Lâm Thị Mỹ là các

trường hợp Thalassemia mới chẩn đoán, còn trong

nghiên cứu của chúng tôi bao gồm cả các trường

hợp Thalassemia mới chẩn đoán và Thalassemia

đã được chẩn đoán trước đo (18 trường hợp)

Chính điều này làm cho tỷ lệ bệnh nhân

Thalassemia được truyền máu trong nghiên cứu

từ 10 đến 20 ml/kg chiếm tỷ lệ cao nhất 43,3%, kế đến là tỷ lệ hồng cầu lắng sử dụng ≤ 10 ml/kg chiếm 38,3% Lượng hồng cầu lắng trung bình được sử dụng là 13,1 ml/kg, lượng hồng cầu lắng tối thiểu được sử dụng là 2,7 ml/kg, và lượng hồng cầu lắng tối đa được sử dụng là 35,7 ml/kg Điều này phù hợp với tác giả Lâm Thị Mỹ khi cho rằng lượng máu sử dụng ≤ 20 ml/kg chiếm tỷ lệ cao nhất (34,3%), lượng máu sử dụng > 20 ml/kg

chiếm tỷ lệ thấp nhất (9,3%)

Trong nhóm bệnh nhân được truyền máu toàn phần (3 trường hợp), tỷ lệ máu toàn phần sử dụng

≤ 10 ml/kg là 66,6% (2 trường hợp), tỷ lệ máu toàn phần sử dụng từ 10 đến 20 ml/kg là 33,3 ml/kg (1 trường hợp) Lượng máu toàn phần trung bình được sử dụng là 10,2 ml/kg, lượng máu toàn phần tối thiểu được sử dụng là 7,6 ml/kg, lượng máu toàn phần tối đa được sử dụng là 13,8 ml/kg Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 62 bệnh nhân được truyền máu nhưng lại có 60 trường hợp truyền hồng cầu lắng và 3 trường hợp được truyền máu toàn phần là do có 1 trường hợp vừa truyền hồng cầu lắng vừa truyền máu toàn phần

KẾT LUẬN

Thiếu máu là một hội chứng thường gặp ở trẻ

em, có ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ và có thể gây biến chứng hay tử vong nếu không phát hiện kịp thời Để tăng hiệu quả chẩn đoán và điều trị, cần lưu ý đến bệnh lý này trong thăm khám trẻ thường ngày Cần thực hiện rộng rãi xét nghiệm thường qui về huyết học (huyết đồ) nhằm mục đích phát hiện sớm những trường hợp thiếu máu (vì có tới 53,8% trường hợp thiếu máu nhập viện không phải vì lý do xanh xao) nhất là ở những trẻ từ 6 tháng-6 tuổi, từ đó có thể can thiệp sớm nhằm tránh cho trẻ khỏi những hậu quả do thiếu máu nặng, giảm chi phí điều trị về sau Thiếu máu thiếu sắt-dinh dưỡng là nguyên nhân thiếu máu thường gặp nhất ở trẻ em, nhất là lứa tuổi từ 6 tháng-6 tuổi Đây là bệnh có thể

Trang 8

cộng đồng thì hy vọng sẽ có những kết quả mang

tính bao quát và thiết thực hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Ahmed F, (2000), "Anemia in Bangladesh: a review of

prevalence and aetiology", Public Health Nutr, 3 (4), pp

385-393

2 Barduagni P, Ahmed AS, Curtale F, Raafat M, Mansour E,

(2004), "Anemia among schoolchildren in Qena Governorate,

Upper Egypt", East Mediterr Health J, 10 (6), pp 916-920

3 Derman O, Okstuz Kanbur N, Yenicesu I, Klink E, (2005),

"Iron deficiency anemia in a group of Turkish adolescents:

frequency and contributing factors", Int J Adolesc Med Health,

17 (2), pp 179-186

4 El Ati J, Gaigi S, Beji C,Haddad S, Cherif S, Farhat A,

Fattoum S, Ben Abdeladhim A, (2005), "Prevalence and

causal factors of anemia in children in Tunisia", Tunis Med,

83 (9), pp 511-518

5 Hoàng Trọng Kim, (2004), “Hội chứng thiếu máu”, Thực hành

lâm sàng Nhi khoa, NXB Y học, Thành phố Hồ Chí Minh, tr

210-214

6 Hoàng Trọng Kim, (2004), “Bệnh lý huyết học”, Nhi khoa chương

trình đại học tập II, NXB Y học, Thành phố Hồ Chí Minh, tr

155-232

7 Lâm Thị Mỹ, (2003), “Chẩn đoán và điều trị bệnh nhân thiếu máu tại

BVNĐ 1”, Tạp chí Y học thành phố Hồ Chí Minh, NXB Y Học, tập 7

(1), tr 27-32

8 Rawat CM, Garg SK, Singh JV, Bhatnagar M, Chopra H, Bajpai SK, (2001), "Prevalence of anemia among aldolescent

girls in rural area of District Meerut, U.P." Indian J Public

Health, 45 (1), pp 24-26

9 Siegel EH, Stoltzfus RJ, Khatry SK, Leclerq SC, Katz J, Tielsch JM, (2006), "Epidemiology of anemia among 4-17

month old children living in south central Nepal", Eur J Clin

Nutr, 60 (2), pp 228-235

10 Villalpando S, Shamah Levy T, Ramirer Silva CI, Mejia Rodriguez F, Rivera JA, (2003), "Prevalence of anemia in children 1 to 12 years of old Results from a nationwide

probabilistic survey in Mexico", Salud Publica Mex, 45 (4),

pp 490-498

Ngày đăng: 22/01/2020, 12:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm