1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

79 kết quả vi phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ qua xoang bướm

6 114 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 293,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ vi phẫu qua xoang bướm. Nghiên cứu thực hiện trên 140 bệnh nhân u tuyến yên được mổ bằng phương pháp vi phẫu qua xoang bướm tại Bệnh viện HN Việt Đức 1/2009 tới 12/2009.

Trang 1

79 KẾT QUẢ VI PHẪU THUẬT U TUYẾN YÊN BẰNG ĐƯỜNG MỔ

QUA XOANG BƯỚM

Đồng Văn Hệ*, Lý Ngọc Liên*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ vi phẫu qua xoang bướm

Phương pháp: Mô tả tiến cứu dựa trên 140 bệnh nhân u tuyến yên được mổ bằng phương pháp vi phẫu

qua xoang bướm tại Bệnh viện HN Việt Đức 1/2009 tới 12/2009 Đánh giá mức độ cắt bỏ khối u tuyến yên và tai biến trong phẫu thuật, biến chứng sau mổ, kết quả sớm sau mổ, kết quả xạ sau mổ Mức độ cắt bỏ khối u được

đánh giá bằng cách ghi nhận trong phẫu thuật và dựa trên hình ảnh chụp cộng hưởng từ sau mổ

Kết quả: 140 bệnh nhân u tuyến yên đáp ứng đủ tiêu chuẩn nghiên cứu trong đó bao gồm 52 nam

(37,14%); 88 nữ (62,86%); tuổi ít nhất 16 và cao nhất 71; 66 u tuyến yên tăng tiết prolactine (47,14%); 52 u không tăng tiết (37,14%); 20 u tăng tiết GH và 2 u tăng tiết ACTH-bệnh Cushing Tiếp cận và cắt bỏ khối u ở 140/140=100% bệnh nhân Phải mổ lần 2 bằng phương pháp mở nắp sọ để lấy phần u xâm lấn sang bên ở 8/140 bệnh nhân (5,7%) Thời gian mổ nhanh nhất 45 phút và dài nhất 210 phút (trung bình 60± 15 phút) Trong mổ ghi nhận: rò nước não tủy 20/140=14,28%; chảy máu nhiều 6/140=4,29% Tổn thương giải phẫu bệnh: 107 adenoma, 18 u hỗn hợp, 8 u tế bào ái toan, 7 tế bào kỵ màu Lấy hết u 90/140=64,29%; lấy gần hết u 48/140=34,29% và lấy một phần khối u 2 bệnh nhân Mức độ lấy hết u ở bệnh nhân u tuyến yên nhỏ là 9/9=100%; u tuyến yên lớn 81/131=61,83%; u tuyến yên nhóm loại A (Phân loại Hardy) 20/25=80%; nhóm B 63/71=88,73%; nhóm C 5/12=41,67%; nhóm D 2/14=14,29%; nhóm E 0/18=0%; u tuyến yên chưa điều trị 81/110=73,63%; u tuyến yên đã xạ trị 1/3=33,33% Tử vong 3/140=2,14% Biến chứng sớm sau mổ: đái nhạt 26/140=18,57%; chảy máu mũi nhiều 18/140=12,86%; chảy máu trong não 5/140=3,57%; rò nước não tủy 1 và viêm màng não 1 bệnh nhân Kết quả xa sau điều trị: xét nghiệm nội tiết trở về bình thường 52/72=72,22%; suy tuyến yên 15/72=20,83% U phát triển to hơn trước mổ sau 6 tháng ở 4 bệnh nhân

Kết luận: Vi phẫu thuật qua xoang bướm là phương pháp điều trị u tuyến yên an toàn, hiệu quả

Từ khóa: qua xoang bướm, xâm lấn

ABSTRACT

THE RESULTS OF PITUITARY ADENOMAS MICROSURGERY BY TRANSSPHENOIDAL

APPROACH

Dong Van He, Ly Ngoc Lien* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 427 - 432

Objective: evaluate the results of pituitary adenomas microsurgery by transsphenoidal approach

Methods: prospective study based on 140 patients with pituitary adenomas operated by transsphenoidal

microsurgery at Viet Duc hospital from 1/2009 to 12/2009 Evaluate the degree of tumor resection, the intra-op and post-op complications, early and late outcome The degree of tumor resection were evaluated by recording intra-op and based on post-op MRI

Results: 140 patients with pituitary tumors satisfied studied criteria, There are 52 males (37.14%) and 88

females (62.86%) Lowest age is 16 and highes is 71, 66 prolactinomas (47.14%), 52 non-secreting adenomas (37.14%), 20 GH-secreting tumors (acromegaly) và 2 ACTH-secreting tumors (Cushing’s disease) Approach and

* Khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện Việt Đức

Tác giả liên lạc: PGS TS Đồng Văn Hệ, ĐT: 0903256868, Email: dongvanhe2010@gmail.com

Trang 2

tuomor resection in 140/140=100% patients Reoperation by transcranial approach to resect the invasive tumor in 8/140 patients (5.7%) Time to operate min 45 minutes, max 210 minutes (mean 60± 15 minutes) Intra-op: CSF fistula 20/140=14.28%; severe hemorrhage 6/140=4.29% Pathological findings: 107 adenoma, 18 mixed, 8 acidophil, 7 chromophobe Totally resection 90/140=64.29%; near-totally 48/140=34.29% and partially 2 patients Totally resection in microadenoma is 9/9=100%; macroadenoma 81/131=61.83%; group A (Hardy’s classification) 20/25=80%; group B 63/71=88.73%; group C 5/12=41.67%; group D 2/14=14.29%; group E 0/18=0%; no treatment 81/110=73.63%; post XRT 1/3=33.33% Mortality 3/140=2.14% Early complications: diabetes insipidous 26/140=18.57%; severe nasal hemorrhage 18/140=12.86%; intracranial hemorrhage 5/140=3.57%; CSF rhinorrhea 1 và meningitis 1 patients Late outcome: hormonal balance 52/72=72.22%; hypopituitarism 15/72=20.83% Recurrence after 6 months in 4 patients

Conclusion: transsphenoidal microsurgery is safe, effective treatment of pituitary adenoma

Keywords: transsphenoidal, invasive

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ qua

xoang bướm đã được Schloffer sử dụng lần đầu

tiên năm 1907 tại Áo Nhưng vì nhiều lý do nên

mãi tới thập niên 60 của thế kỷ trước, kỹ thuật

này mới được áp dụng rộng rãi trong phẫu

thuật u tuyến yên nói riêng và phẫu thuật u tầng

trước nền sọ nói chung Vi phẫu thuật u tuyến

yên bằng đường mổ qua xoang bướm lần đầu

tiên được áp dụng tại Việt Nam năm 2000 tại

Bệnh viện Việt Đức Chúng tôi đã áp dụng kỹ

thuật này trong phẫu thuật nhiều loại khối u

như u tuyến yên, u sọ hầu, nang Rathes,

chordoma vùng rãnh trượt… Đường mổ này là

sự lựa chọn đầu tiên khi phẫu thuật u tuyến

yên Đây là phẫu thuật thường quy tại Khoa

Phẫu thuật Thần kinh, Bệnh viện Việt Đức

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ đánh giá kết

quả vi phẫu thuật u tuyến yên bằng đường mổ

qua

xoang bướm

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả tiến cứu dựa trên 140

bệnh nhân u tuyến yên được phẫu thuật tại

Bệnh viện Việt Đức, Hà Nội từ tháng 1/2009 tới

12/2009 Tất cả bệnh nhân được nghiên cứu viên

trực tiếp khám, đọc kết quả xét nghiệm, xét

nghiệm nội tiết, kết quả chụp cắt lớp vi tính,

cộng hưởng từ trước khi mổ Phân loại u tuyến

yên theo Hardy (loại A, B, C, D và E) và phân

loại u thành 4 loại: u tăng tiết prolactine, u tăng

tiết GH, u không tăng tiết và u tăng tiết ACTH Nghiên cứu viên trực tiếp mổ, tham gia mổ hoặc ghi nhận những tổn thương trong mổ (u mềm, u cứng, u chảy máu, u dễ hút), tai biến và biến chứng trong mổ (chảy máu, rò nước não tủy), mức độ lấy u (lấy hết u, gần hết u, lấy một phần, sinh thiết, không lấy được u) Đánh giá tai biến, biến chứng sau mổ, kết quả sau mổ (sống, chết, liệt, rò nước não tủy, chảy máu, nhiễm trùng), kết quả xét nghiệm (rối loạn nội tiết nặng hơn, nhẹ hơn, trở về bình thường), kết quả lấy u trên chụp cộng hưởng từ, cắt lớp vi tính kiểm tra So sánh kết quả, tai biến, biến chứng giữa các loại khối u, u tái phát với u mổ lần đầu, u đã điều trị với u chưa điều trị Phân tích và so sánh kết quả bằng phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Trong tổng số 140 bệnh nhân có 52 nam và

88 nữ Kỹ thuật mở vào xoang bướm qua mũi ở

73 và mở qua rãnh môi lợi hàm trên 67 bệnh nhân Cắt bỏ vách ngăn khoang mũi ở 88 bệnh nhân Bộc lộ xoang bướm, mở thành trước xoang bướm, cắt bỏ vách ngăn xoang bướm, mở sàn hố yên và tiếp cận được với khối u tuyến yên và cắt bỏ khối u ở cả 140 bệnh nhân Thời gian mổ trung bình 60±15 phút (dài nhất 210 phút và ngắn nhất 45 phút) Kết quả giải phẫu bệnh: 107 adenoma, 18 u hỗn hợp, 8 tế bào ái toan và 7 u tế bào kỵ màu Sống 137 và tử vong 3 (2,14%) Nguyên nhân tử vong ở 3 bệnh nhân do chảy máu trong não, chảy máu não thất và một trường hợp chảy máu do ống nhựa đặt ở mũi

Trang 3

chui vào trong não thất III Mức độ cắt bỏ khối

u: cắt bỏ hoàn toàn khối u 90 bệnh nhân

(64,29%), cắt gần hết u 48 (34,29%), cắt một phần

u 2 (1,43%) Tỷ lệ cắt bỏ hoàn toàn khối u tùy

thuộc loại u tuyến yên lớn, hay nhỏ (Bảng 1), u

tuyến yên theo phân loại Hardy (Bảng 2), u

tuyến chưa hay đã điều trị (Bảng 3) và u tuyến

yên tăng tiết hormone nào (Bảng 4) Tai biến và

biến chứng sớm sau mổ ghi nhận trong bảng 5

và bảng 6 Kết quả xa sau mổ trên 6 tháng được

ghi nhận ở bảng 7

Bảng 1-Mối liên quan giữa tỷ lệ lấy hết u và kích

thước u

Mức độ lấy hết u Lấy hết u Lấy gần hết

u

Lấy một phần

Tỷ lệ lấy hết u ở Microadenoma 9/9= 100%,

trong khi nhóm u lớn tỷ lệ lấy hết u

81/131=61,83% và lấy gần hết u 48/131=36,64%

và chỉ lấy một phần khối u 2/131=1,53%

Bảng 2-Mối liên quan giữa tỷ lệ lấy hết u với phân

loại Hardy

Phân loại Hardy A B C D E

Tỷ lệ lấy hết u của nhóm A, B cao hơn tỷ lệ

lấy hết u ở nhóm C, D và E có ý nghĩa thống kê

với p<0,001; OR=36,5595; 95%; CI:

13,3229-100,3226 Trong khi tỷ lệ lấy hết u giữa hai nhóm

A và B không khác nhau với p>0,05

Bảng 3-Mối liên quan giữa tỷ lệ lấy hết u và tiền sử

điều trị u tuyến yên:

Mức độ lấy

hết u

Lấy hết u Lấy gần hết

u

Lấy một phần

u

Đã điều trị tia

xạ

Tỷ lệ lấy hết u ở nhóm chưa phẫu thuật cao

hơn ở nhóm đã phẫu thuật, có ý nghĩa thống kê

với p<0,001; OR=6,6336; 95%; CI: 2,6210-16,7891

Bảng 4-Mối liên quan giữa tỷ lệ lấy hết u và loại u

Mức độ

lấy hết u

U không

tăng tiết

U loại prolactinoma

U tăng tiết GH

U tăng tiết ACTH

Lấy gần hết u

Lấy một phần u

Tỷ lệ lấy hết u ở nhóm u loại Prolactinoma cao hơn ở nhóm u không tăng tiết và nhóm u tăng tiết GH, có ý nghĩa thống kê với p<0,005; OR=5,0750; 95%; CI:2,1914-11,7531 Trong khi tỷ

lệ lấy hết u ở nhóm u không tăng tiết và nhóm u tăng tiết GH là như nhau với p=0,9574

Bảng 5-Tai biến trong mổ

Tai biến Chảy máu

phải dùng Surgicel

Chảy máu nhiều

Rò NNT trong mổ

Không tai biến

Tỷ lệ % 35,71 4,29 14,29 45,71

BN-bệnh nhân, NNT-nước não tủy Biến chứng nặng như chảy máu não, viêm màng não, rò nước não tủy ở 7 bệnh nhân, chiếm 5% Tính cả biến chứng chảy máu mũi ở ống đặt trong khoang mũi, đái nhạt là 51/140=36,43%

Bảng 6-Biến chứng sớm sau mổ:

Biến chứng

Đái nhạt Chảy

máu mũi

Viêm màng não

Rò NNT Chảy

máu trong sọ

Tỷ lệ % 18,57 9,29 0,71 0,71 3,57 BN-bệnh nhân, NNT-nước não tủy

Khám lại sau > 6 tháng cho 90 bệnh nhân: 75/90=83,33% bệnh nhân cải thiện tốt về lâm sàng, 9 bệnh nhân suy tuyến yên toàn bộ, 5 bệnh nhân nặng hơn trước mổ, 58/68=85,29% bệnh nhân cải thiện thị giác Đái nhạt 10/90 bệnh nhân

Bảng 7-Kết quả khám lại sau 6 tháng:

Kết quả

XN nội tiết bình thường

XN nội tiết cao

Suy tuyến yên

Điều trị nội khoa

Xạ trị

Số BN 52/72 5/72 15/72 17/72 2/72

Tỷ lệ % 72,22% 6,94% 20,83% 23,61% 2,78%

XN-xét nghiệm, CHT-cộng hưởng từ

Chụp CHT sọ não 68 bệnh nhân: 4 trường hợp khối u giống như sau mổ (u tuyến yên không tăng tiết); tái phát ở 4 bệnh nhân (cả 4

Trang 4

bệnh nhân đều ở nhóm lấy gần hết u), 2 trong số

đó mổ lại bằng đường mổ qua xoang bướm, 2

trường hợp không đồng ý mổ và được điều trị

xạ trị Những trường hợp còn khối u tiếp tục

được theo dõi và điều trị tiếp

BÀN LUẬN

Tử vong 3 bệnh nhân (2,14%) do biến chứng

chảy máu trong não và chảy máu trong não thất

Tỷ lệ tử vong thấp hơn nhiều so với phẫu thuật

bằng phương pháp mở nắp sọ (tử vong 5-12%)

Phẫu thuật vi phẫu qua xoang bướm không tỳ

đè vào cấu trúc não, không gây phù não và tỷ lệ

nhiễm khuẩn thấp hơn Trong khi phẫu thuật

mở nắp sọ phải mở màng cứng rộng rãi, vén ép

thùy não, nguy cơ chảy máu cao và nguy cơ

nhiễm trùng cao

Tất cả 140 bệnh nhân đều tiếp cận được

khối u và cắt bỏ được khối u với phương

pháp vi phẫu qua xoang bướm Mức độ cắt bỏ

hoàn toàn khối u: cắt bỏ hoàn toàn khối u 90

bệnh nhân (64,29%), cắt gần hết u 48 (34,29%),

cắt một phần u 2 (1,43%) Tỷ lệ cắt bỏ hoàn

toàn khối u như vậy khá cao Hầu hết bệnh

nhân được lấy bỏ khối u trong lòng bao u,

chúng tôi không chủ động lấy bỏ cả bao khối

u vì nguy cơ rò nước não tủy, nhiễm trùng và

chảy máu Khi khối u xâm lấn sang bên, xâm

lấn ra trán, hố sau sẽ khó cắt bỏ bằng đường

mổ qua xoang bướm Một số tác giả áp dụng

nội soi trong phẫu thuật sẽ giúp cắt bỏ phần

khối u này(1,5) Chúng tôi phải chủ động mổ

lần thứ 2 bằng phương pháp mở nắp sọ 8

bệnh nhân vì khối u xâm lấn sang bên Phẫu

thuật bằng phương pháp mở nắp sọ cũng chỉ

cắt bỏ hoàn toàn khối u ở 4 bệnh nhân và

không cắt bỏ được hoàn toàn 4 trường hợp

khác do khối u xơ chắc, khó cắt và xâm lấn rất

rộng, bao quanh động mạch cảnh trong, xâm

lấn xoang tĩnh mạch hang

Tỷ lệ cắt bỏ hoàn toàn khối u cũng phụ

thuộc nhiều yếu tố Tất cả 9 bệnh nhân u tuyến

yên nhỏ được cắt bỏ hoàn toàn khối u (100%) và

cắt bỏ hoàn toàn 61,83% khối u tuyến yên lớn

Tỷ lệ cắt bỏ hoàn toàn khối u tuyến yên độ A, B

(phân độ Hardy) cao hơn 36 lần khối u độ C, D

và E (với p<0,001; OR=36,5595, 95%; CI: 13,3229-100,3226) Phân độ Hardy dựa theo kích thước

và sự phát triển khối u lên trên hoành yên Khối

u độ A và B là khối u nhỏ, phát triển lên trên không quá 20mm nên khả năng cắt bỏ dễ dàng khi tiếp cận khối u từ phía xoang bướm Khối u

độ C, D và E phát triển lên trên yên nhiều hơn, phát triển sang bên, xâm lấn xoang tĩnh mạch hang nên khả năng cắt bỏ hoàn toàn rất khó Khối u xâm lấn xoang tĩnh mạch hang, bọc động mạch cảnh trong sẽ rất khó cắt bỏ với bất kỳ phương pháp phẫu thuật nào(3,8) Chúng tôi cho rằng, nên cắt bỏ tối đa đối với khối u này và phối hợp điều trị nội hoặc xạ trị sau mổ

Trong số 140 bệnh nhân, 27 bệnh nhân đã được phẫu thuật trước đó 1 hoặc 2 lần Tỷ lệ cắt bỏ hoàn toàn khối u cao hơn ở nhóm chưa phẫu thuật (với p<0,001; OR=6,6336; 95%; CI:2,610-16,7891) Nhóm bệnh nhân đã phẫu thuật nhưng tái phát thường chảy máu nhiều hơn, xơ chắc hơn Phần lớn bệnh nhân u tuyến yên xơ chắc nên không cắt bỏ hết khối u

từ lần mổ trước đó Khối u xơ chắc khỏ lấy và nguy cơ chảy máu nhiều hơn Phẫu thuật lần

2 cũng thường dễ gây chảy máu hơn(4) Vì vậy, phẫu thuật viên thường không cố gằng cắt bỏ tối đa nhằm tránh tỷ lệ tai biến

U tăng tiết prolactine thường mềm, dễ hút

và cắt bỏ trong khi khối u tăng không tăng tiết thường xơ, chắc, khó cắt bỏ hơn Khi so sánh

tỷ lệ cắt bỏ hoàn toàn u tuyến yên của từng nhóm, chúng tôi thấy: tỷ lệ cắt hết u ở nhóm u tăng tiết prolactine là 84,85% cao hơn so với nhóm không tăng tiết là 52,46% và nhóm tăng tiết GH 50% (với p<0,005; OR=5,0750; 95%; CI: 2,1914-11,7531, Bảng 4) Nhóm bệnh nhân u không tăng tiết, khối u thường lớn và xâm lấn nhiều do chẩn đoán chậm (bệnh nhân tới bệnh viện khi khối u to, chèn ép gây tăng áp lực trong sọ, nhìn mờ…) Do vậy khả năng lấy hết u khó hơn Nhóm bệnh nhân tăng tiết GH, mặc dù khối u thường nhỏ, không quá lớn nhưng khối u thường xơ, chắc và có nhiều khoang nên việc cắt bỏ toàn bộ khối u không

Trang 5

dễ Nhiều tác giả cho rằng, khối u tăng tiết

GH nên điều trị tia xạ sau khi phẫu thuật(6,7)

Tỷ lệ lấy hết u giữa nhóm u không tăng tiết

với nhóm u tăng tiết GH, không có sự khác

nhau với p=0,9574

Tai biến và biến chứng trong mổ bao gồm rò

nước não tủy (20 bệnh nhân), chảy máu nhiều

trong mổ (6 bệnh nhân) Chúng tôi không phát

hiện trường hợp nào bị chảy máu do tổn thương

động mạch cảnh trong mổ Tổn thương động

mạch cảnh trong phẫu thuật u tuyến yên với

đường mổ qua xoang bướm là biến chứng nặng

nhưng khá hiếm gặp Trước khi sử dụng hệ

thống định vị thần kinh (neuro-navigation), tai

biến tổn thương động mạch cảnh đã được ghi

nhận tại Bệnh viện Việt Đức Xác định chính xác

vị trí động mạch cảnh trong mổ dựa trên hệ

thống định vị và dựa trên các mốc giải phẫu

giúp tránh tai biến này Chụp cắt lớp vi tính

xoang bướm nhằm xác định vị trí động mạch

cảnh trong, ấn động mạch cảnh trong, ấn giao

thoa thị giác cũng làm giảm tỷ lệ biến chứng

trong mổ Rò nước não tủy trong mổ có thể ghi

nhận là tai biến hoặc không Khi lấy cả bao khối

u, thường có rò nước não tủy(4,5,8) Tất cả 20 bệnh

nhân rò nước não tủy trong mổ được dẫn lưu

giảm áp nước não tủy thắt lưng sau mổ trong

5-7 ngày Chỉ 1 trong số đó bị rò nước não tủy

trong mổ và phải mổ lại, vá dò thành công

Bệnh nhân này bị viêm màng não, không phân

lập được vi khuẩn nhưng điều trị khỏi sau 20

ngày điều trị

Biến chứng sau mổ nặng nhất là chảy máu

trong sọ ở 5 bệnh nhân: 3 trong số đó tử vong

do chảy máu não thất, não úng thủy, tụ máu

trong não và tụ máu lớn trong ổ mổ Tất cả 5

bệnh nhân này đều là u tuyến yên lớn (kích

thước 3,5 – 6 cm), khi mổ không lấy hết u và ép

surgical cầm máu Khối u tuyến yên khi không

cắt bỏ hết, còn một phần u thường bị chảy máu

sau mổ Máu chảy trong ổ mổ lớn dần, vỡ vào

não thất gây chảy máu não thất và não úng

thủy Xử trí chủ yếu bằng cách dẫn lưu não thất

ra ngoài Hai trong số 5 bệnh nhân dẫn lưu não

thất ra ngoài thành công và rút dẫn lưu sau 1

tuần 3 bệnh nhân còn lại tử vong dù đã dẫn lưu não thất

Chảy máu mũi sau mổ gặp ở 18 bệnh nhân (9,29%) Chảy máu mũi thường từ niêm mạc khoang mũi và thường dừng lại sau khi băng

ép, nhét meche mũi sau Nếu chảy từ động mạch chân bướm khẩu cái phải mổ để cầm máu Chúng tôi không gặp trường hợp nào phải mổ lại cầm máu Đái nhát là biến chứng khá thường gặp: 26 bệnh nhân (18,57%) Đái nhạt thường do tổn thương tuyến yên trong quá trình phẫu thuật Tỷ lệ này không cao nếu so với một số tác giả khác(1) Nếu cắt u càng triệt đề thì nguy cơ tổn thương tuyến yên lành càng lớn và tỷ lệ đái nhạt sau mổ càng cao Đái nhạt sau mổ có thể gặp ngay sau mổ, hoặc trong vòng 2 tháng đầu sau mổ Chính vì vậy việc theo dõi xét nghiệm, nước tiểu là rất cần thiết

Kết quả xa sau mổ cho thấy: tỷ lệ nội tiết trở

về bình thường là 72,22% và đái nhạt 20,83% Gần 30% bệnh nhân phải điều trị bằng phương pháp khác như điều trị nội khoa, xạ trị, điều trị suy tuyến yên

KẾT LUẬN

Phẫu thuật u tuyến yên bằng phương pháp

vi phẫu qua xoang bướm là phương pháp có tỷ

lệ thành công cao, tỷ lệ khỏi bệnh cao và tai biến, biến chứng thấp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aron DC et al (1995) Pituitary tumors: current concepts in diagnosis and management West J Med, 162: 340-352

2 Bùi Phương Thảo (2010) Nghiên cứu lâm sàng, cận lâm sàng của một số u thùyn trước tuyến yên trước và sau phẫu thuật Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, Đại học Y Hà Nội

3 Chang EF et al (2010) Long term outcome following repeat transsphenoidal surgery for recurrent endocrine-inactive pituitary adenomas Pituitary, 13(3): 223-229

4 Dlouhy BI et al (2012) Elevated body mass index and risk of postoperative CSF leak following transsphenoidal surgery J Neurosurg, 116(6): 1311-1317

5 Kim MS et al (2009) Surgical results of Growth hormone-secreting pituitary adenoma J Korean Neurosurg Soc, 45:

271-274

6 Massoud AF et al (1997) Transsphenoidal surgery for pituitary tumours Arch of Disease in Childhood, 76: 398-404

7 Seuk JW et al (2011) Visual outcome after transsphenoidal surgery in patients with pituitary apoplexy J Korean Neurosurg Soc, 49(6): 339-344

Trang 6

8 Thomson JA et al (1994) Ten year follow up of

microprolactinoma treated by transsphenoidal surgery BMJ, 309:

1409-1011

Ngày đăng: 22/01/2020, 12:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w