1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhân một trường hợp ứng dụng kỹ thuật oxy hóa máu qua màng ngoài cơ thể điều trị hội chứng suy hô hấp cấp nguy kịch tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy

6 71 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 492,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của đề tài nghiên cứu nhằm trình bày nhân một trường hợp ứng dụng kỹ thuật oxy hóa máu qua màng ngoài cơ thể điều trị hội chứng suy hô hấp cấp nguy kịch tại khoa hồi sức cấp cứu Bệnh viện Chợ Rẫy. Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.

Trang 1

NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP ỨNG DỤNG KỸ THUẬT OXY HÓA MÁU QUA MÀNG NGOÀI CƠ THỂ ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP NGUY KỊCH TẠI KHOA HỒI SỨC CẤP CỨU BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Trương Dương Tiển*, Phan Thị Xuân**, Phạm Hồng Trường*, Phạm Thị Ngọc Thảo**

TÓM TẮT

Mở đầu: Oxy hoá máu qua màng ngoài cơ thể (ECMO) được sử dụng để cải thiện oxy máu trong những

trường hợp thở máy thất bại, hoặc điều trị nâng đỡ tuần hoàn – hô hấp trong những trường hợp suy tim cấp nặng, phương pháp này đã được thực hiện nhiều năm ở các nước có nền y học tiên tiến, nhưng ở nước ta kỹ thuật này chưa phổ biến

Mục tiêu: Áp dụng ECMO lần đầu tiên tại bệnh viện Chợ Rẫy, năm 2010, để cải thiện oxy máu cho bệnh

nhân thất bại với thở máy

Đối tượng: Một bệnh nhân hội chứng suy hô hấp cấp nguy kịch do viêm phổi tụ cầu, được cho thở máy

nhưng không cải thiện oxy hóa máu

Phương pháp: Báo cáo mô tả ca bệnh

Kết quả: Phương thức ECMO áp dụng ban đầu là V-A (tĩnh mạch-động mạch), khi tình trạng huyết động

ổn định chuyển sang phương thức V-V (tĩnh mạch-tĩnh mạch), lưu lượng máu 4,5 lít/phút, vận tốc vòng 2600/phút, oxy qua màng 5 lít/phút Chống đông bằng heparin, duy trì ACT ở mức 180-200giây Cải thiện oxy máu và huyết động rõ ràng sau tiến hành ECMO Thời gian thực hiện ECMO là 10 ngày, không có biến chứng chảy máu, huyết khối, thuyên tắc, tán huyết, thiếu máu cục bộ chân phải xảy ra trong quá trình chạy ECMO

Kết luận: ECMO là một phương pháp cải thiện oxy máu hiệu quả và an toàn trong những trường hợp suy

hô hấp giảm oxy máu thất bại với thở máy, đây là biện pháp điều trị nâng đỡ hô hấp, tuần hoàn có giá trị trong giai đoạn chờ nguyên nhân được điều trị hoặc bệnh tự thoái lui

Từ khoá: ECMO: oxy hoá máu qua màng ngoài cơ thể, Hội chứng suy hô hấp cấp nguy kịch

ABSTRACT

ECMO FOR ACUTE RESPIRATORY DISTRESS SYNDROME AT ICU, CHO RAY HOSPITAL:

A CASE REPORT

Truong Duong Tien, Phan Thi Xuan, Pham Hong Truong, Pham Thi Ngoc Thao

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 558 - 563

Background: Extracorporeal membrane oxygenation (ECMO) is indicated for potentially reversible,

life-threatening forms of respiratory and/or cardiac failure which are unresponsive to conventional therapy This technique has been carried out in medicine-developed countries for many years, but it’s still not popular in Vietnam

Objective: Implementing the first ECMO case at Cho Ray hospital, in 2010

Material and method: A patient had staphylococcus pneumonia and severe respiratory failure even with

* Khoa Hồi Sức Cấp Cứu, bệnh viện Chợ Rẫy

** Khoa Hồi Sức Cấp Cứu, bệnh viện Chợ Rẫy; Bộ môn Hồi Sức-Cấp Cứu-Chống Độc, ĐHYDTPHCM

Trang 2

ventilator, case report

Result: We began with V-A method (veno-arterial) After that, we changed to V-V method (veno-venous)

when the hemodynamic was stable (blood flow 4.5l/minute, rotaflow 2600 RPM, inlet oxygen 5l/minute, anticoagulation with heparin, maintaining ACT at 180-200s) The oxygenation and hemodynamic was improved considerably after ECMO The duration of ECMO technique was 10 days, and during that time there was no complication of bleeding, thrombosis, embolism, hemolysis or right limb ischemia

Conclusion: ECMO is an effective and safe technique for severe hypoxemia respiratory failure cases which

are unresponsive with ventilator This is also a useful method to support respiratory and cardiac system in waiting for the resolving of underlying causes or the recovery of disease

Key words: ECMO: Extracorporeal membrane oxygenation, ARDS: acute respiratory distress syndrome

ĐẠI CƯƠNG

ECMO là kỹ thuật oxy hoá máu qua màng

ngoài cơ thể, máu được chống đông, lấy ra khỏi

cơ thể bằng đường tĩnh mạch, trao đổi oxy và

CO2 qua màng ngoài cơ thể, sau đó trở về bằng

đường tĩnh mạch hoặc động mạch ECMO được

thực hiện thành công trên người lần đầu vào

năm 1971, từ đó đến nay, số lượng bệnh nhân

được thực hiện ECMO gia tăng hàng năm

ECMO được chỉ định trong những trường hợp

suy hô hấp giảm oxy máu nặng, thất bại với thở

máy, hoặc trong những trường hợp cần nâng đỡ

cả tuần hoàn và hô hấp như trong các trường

hợp suy tim cấp nặng, sau phẫu thuật tim

BỆNH ÁN

Tháng 6 năm 2010, khoa Hồi Sức Cấp Cứu

bệnh viện Chợ Rẫy tiếp nhận bệnh nhân nam, 37

tuổi, cao 164 cm, cân nặng 62 kg, nghề nghiệp là

buôn bán, địa chỉ TPHCM, nhập viện vì khó thở

Bệnh sử: 03 ngày trước nhập viện, bệnh

nhân sốt cao kèm đau vai phải, sau đó xuất hiện

ho nhiều, có đàm kèm khó thở, điều trị tại y tế

địa phương 01 ngày bệnh không giảm, bệnh

nhân khó thở nhiều hơn, vẫn còn sốt cao và ho

có đàm, sau đó được chuyển đến bệnh viện Chợ

Rẫy trong tình trạng: tỉnh, than mệt nhiều, đau

vùng lưng phải, còn sốt 38o3C, M: 100l/ph, HA:

90/60mmHg, nhịp thở 24 lần/ph, SpO2: 85% dù

được thở oxy qua mặt nạ có túi dự trữ Vì tình

trạng suy hô hấp nặng bệnh nhân được nhập

khoa Hồi Sức Cấp Cứu (HSCC)

Bệnh nhân vào khoa HSCC trong tình trạng tỉnh, thở oxy qua mặt nạ có túi dự trữ, sốt cao, M: 120l/ph, HA 110/70mmHg, X quang ngực: thâm nhiễm xuất hiện cả 2 phế trường Chẩn đoán viêm phổi nặng gây hội chứng suy hô hấp cấp nguy kịch (ARDS), được điều trị kháng sinh: Imipenem 0,5g/6giờ, vancomycin 1g/12giờ, levofloxacine 0,75g/24giờ, thở máy không xâm lấn không cải thiện, bệnh nhân được đặt nội khí quản và thở máy xâm lấn, các thông số máy thở được cài đặt theo chiến lược thông khí bảo vệ phổi của ARDS-network, Hoa Kỳ Tuy nhiên sau

12 giờ, với mức PEEP 18 cmmH2O và FiO2 100%, oxy máu vẫn thấp PaO2 59 mmHg, PaCO2 73 mmHg và pH 7,17, huyết áp theo dõi xâm lấn qua động mạch quay giảm dần, chúng tôi quyết định áp dụng kỹ thuật ECMO cho bệnh nhân

Sử dụng máy ECMO của hãng Maquet, Đức Phương thức ECMO ban đầu là V-A (tĩnh mạch-động mạch), đường máu ra và về là tĩnh mạch

và động mạch đùi phải, thực hiện cầu nối để tránh thiếu máu chân phải, khi tình trạng huyết

Trang 3

động ổn định chuyển sang phương thức V-V

(tĩnh mạch- tĩnh mạch) đường máu ra là tĩnh

mạch đùi phải và đường máu về là tĩnh mạch

cảnh trong phải, lưu lượng máu 4,5 lít/phút, vận

tốc vòng 2600/phút, oxy qua màng 5 lít/phút

Chống đông bằng heparin liều 70UI/kg và sau

đó 40UI/kg/giờ, dùng máy theo dõi ACT tại

giường, duy trì ACT ở mức 180-200 giây Truyền

hồng cầu lắng khi Hct < 30%, truyền tiểu cầu khi

số lượng tiểu cầu < 100.000/mm3 Thời gian thực hiện ECMO là 10 ngày, không có biến chứng chảy máu, huyết khối, thuyên tắc, tán huyết, thiếu máu cục bộ chân phải xảy ra trong quá trình chạy ECMO

Bảng 1: Các kết quả xét nghiệm

Xét nghiệm Lúc nhập

viện

Tại khoa HSCC

ECMO

12 giờ

ECMO N2 ECMO N3 ECMO N5 ECMO N7 ECMO N10

Hct (%) 47,3 45,5 107 31,2 29,3 33,4 28,8 28,4

Bạch cầu (/mm3) 15.420 12.470 14.860 14.670 21.000 30.590 21.600 20.210 Thành phần (%)

Neutrophil

Lymphocyte

Monocyte

Eosinophil

88 3,8 8,1

0

86 5,6 5,5

0

82 8,3 3,9 2,3

81,9 7,1 2,8 5,5

85,7 5,4 4,7 3,3

91,9

2 2,3 1,8

84,2 6,1 4,1 3,4

86,7 2,3 6,1 0,5 Tiểu cầu (/mm3) 21.000 30.000 194.000 207.000 164.000 142.000 131 162.000

APTT (giây) 31 30,4 34,9 31,5 31,2 38,6 33,7 53,9

Co cục máu Hoàn

toàn hoàn toàn Không Hoàn toàn Hoàn toàn Không đông Hoàn toàn Hoàn toàn

Na+ (mEq/L) 135 139 141 143 143 144 142 140

Cl- (mEq/L) 102 107 100 100 103 107 105 108

Glucose (mg%) 121 168

Bảng 2: Sự thay đổi huyết động và oxy máu động mạch khi tiến hành ECMO

Số liệu Lúc NV Tại khoa

HSCC

Trước ECMO

ECMO 1giờECMO 4giờ ECMO

12giờ

ECMO 24giờ

ECMO 72giờ

ECMO ngày10

pH

PaCO2 (mmHg)

PaO 2 (mmHg)

HCO 3 (mmol/L

7,413 33,8

46 21,6

7,36 32,7 88,1 18,1

7,178 73,1

59

27

7,314 54,8 99,3

29

7,419 45,7 98,2

29

7,492 41,7 68,4 31,2

7,501 46,7

108

35

7,58

36

294

33

7,32

43

63 22,4

Vận tốc vòng (vòng/phút) 2600 2600 2600 2600 2600 2700

Trang 4

Số liệu Lúc NV Tại khoa

HSCC

Trước ECMO

ECMO 1giờECMO 4giờ ECMO

12giờ

ECMO 24giờ

ECMO 72giờ

ECMO ngày10

Oxy cung cấp màng

(lít/phút)

4 5 5 5 4 4

Huyết áp (mmHg) 90/60 110/70 80/60 117/79 100/60 110/60 110/60 95/65 114/71

BÀN LUẬN

Chỉ định

Theo các khuyến cáo hiện nay, chỉ định

ECMO trong các trường hợp tổn thương phổi

cấp có khả năng hồi phục là OI > 0,4 và VI > 40

trong vòng 04 giờ và thở máy không quá 03

ngày với PaO2/FiO2 < 100 (1,3,5) Bệnh nhân của

chúng tôi tuổi trẻ, viêm phổi nặng do vi khuẩn

Staphylococcuc aureus (kết quả cấy đàm và cấy

máu), là bệnh phổi cấp tính có khả năng hồi

phục, đã được thông khí cơ học tối ưu nhưng

thất bại sau 12 giờ can thiệp, với FiO2: 100%,

PEEP 18cmH2O, tỉ số PaO2/FiO2 chỉ 59 Thời

điểm chỉ định ECMO là thích hợp, với chỉ số

thông khí VI=56 và chỉ số oxy hóa máu OI=0,6

hơn 4 giờ, tình trạng huyết động bệnh nhân xấu

dần đi

Phương thức ECMO điều trị

Tuy bệnh nhân bị viêm phổi nặng, tuổi trẻ,

không tiền sử bệnh lý tim mạch nhưng khi chỉ

định ECMO bệnh nhân có tình trạng huyết áp

giảm nặng, phải dùng vận mạch liều cao để duy

trì huyết áp Do đó chúng tôi lựa chọn theo

khuyến cáo phương thức ban đầu là tĩnh-động

mạch (V-A) để hỗ trợ tuần hoàn nhằm nâng

huyết áp và tăng tưới máu tạng cho bệnh nhân

(1,3,4) thực tế sau 12 giờ ECMO chúng tôi đã

ngưng được thuốc vận mạch và huyết động ổn

định dần, lượng nước tiểu tăng, sau đó chúng

tôi chuyển sang phương thức tĩnh-tĩnh mạch

(V-V), phương thức V-V oxy hóa máu cho toàn cơ

thể tốt hơn, và an toàn cho bệnh nhân hơn

Canulae

Vị trí đặt

Chúng tôi thực hiện theo các khuyến cáo phương thức V-A, đường máu ra và về là động

và tĩnh mạch đùi cùng bên, chúng tôi chọn vị trí bên phải Sau đó khi chuyển đổi phương thức ECMO sang V-V, đường máu ra là tĩnh mạch đùi phải và đường máu về là tĩnh mạch cảnh trong phải (1,3)

Kích thước canulae

Sự lựa chọn kích cỡ canulae đóng vai trò rất quan trọng trong ECMO để đảm bảo lưu lượng, cần siêu âm dopller đo đường kính mạch máu vị trí dự định đặt canulae và theo khuyến cáo trong nghiên cứu của Muller T.và CS nên chọn kích cỡ canulae nhỏ hơn đường kích mạch máu 10%, trong trường hợp này chúng tôi lựa chọn canulae động mạch đùi là 19Fr và canulae tĩnh mạch đùi là 23Fr Khi chuyển qua phương thức V-V, canulae trả máu về ở tĩnh mạch cảnh trong

là 21Fr (1,4)

Vị trí đầu canula

Trong V-A vị trí đầu canulae tĩnh mạch quan trọng hơn vì ảnh hưởng đến lưu lượng, thông thường là ngay phía dưới cơ hoành, điều này chúng ta có thể ước tính được độ dài của canulae khi luồn vào trên lâm sàng cũng như khi chụp x-quang kiểm tra, vị trí khi đặt canulae động mạch là động mạch chủ bụng

Trong V-V, vì ở trường hợp chúng tôi vị trí máu ra và vào là hai vị trí khác nhau nên tình trạng tái tuần hoàn cũng dễ dàng kiểm soát qua độ dài của mỗi canulae luồn vào, vị trí canulae tĩnh mạch cảnh trong chúng tôi đưa vào là 16cm, kiểm tra trên phim x-quang ngực

Trang 5

là nơi đổ vào thất phải, vị trí canulae lấy máu

ra cũng là dưới cơ hoành

Sự lựa chọn vị trí đặt và vị trí đầu canulae

rất quan trọng chúng tôi dựa vào kích thước

thực tế của bệnh nhân và đo qua siêu âm dopller

nên trong khi tiến hành ECMO chúng tôi đã đạt

được sự kiểm soát lưu lượng cũng như tình

trạng tái tuần hoàn (Re=21) như mong muốn (4)

Kháng đông

Bệnh nhân này ngay thời điểm chỉ định

ECMO đã có biểu hiện rối loạn đông máu đó là

giảm tiểu cầu và co cục máu không hoàn toàn,

chính vì vậy chúng tôi đã dùng kháng đông

heparin liều thấp hơn mức khuyến cáo với liều

70UI/kg và sau đó duy trì 40UI/kg/giờ, chúng tôi

kiểm soát và điều chỉnh liều heparin qua sự theo

dõi ACT ở mức 180-200giây Bệnh nhân chúng

tôi theo dõi ACT mỗi giờ trong vòng 04 giờ đầu

và đã được liều duy trì mong muốn

(60UI/Kg/giờ) với ACT chấp nhận được 172

giây, sau đó ACT được kiểm tra lại mỗi 4giờ một

lần Tuy nhiên, mặc dù ACT đã đạt được như

khuyến cáo nhưng trong quá trình ECMO

chúng tôi thường xuyên kiểm tra tình trạng xuất

hiện cục máu đông trong hệ thống bằng đèn soi

cũng như theo dõi áp lực xuyên màng qua hệ

thống monitor Sự theo dõi này giúp chúng tôi

tiến hành ECMO an toàn cho đến khi kết thúc

mà không bị sự cố đông màng hay biến chứng

chảy máu ở bệnh nhân (1,3)

Sự cải thiện PaO2 và PaCO2

Bảng kết quả cho thấy ở cả hai phương

thức ECMO sự cải thiện tăng PaO2 rất đáng kể

(vị trí lấy máu đo khí máu động mạch là động

mạch quay bên trái), chúng tôi ghi nhận có sự

khác biệt về kết quả PaO2 khi mẫu máu ở các

vị trí khác nhau trên cơ thể khi ECMO ở

phương thức V-A Cụ thể là khi lấy mẫu máu

ở động mạch quay phải sẽ cho kết quả PaO2

thấp hơn khi lấy ở động mạch bẹn phải Điều

này cho thấy khả năng oxy hóa máu các cơ

quan toàn cơ thể ở phương thức V-A không

đồng đều đặc biệt là các cơ quan phía trên

Sự cải thiện PaO2 góp phần làm giảm nồng

độ FiO2 thở vào cũng như hạ được mức PEEP, thể tích khí thường lưu và tần số thở trên máy thở

PaCO2 thấp dần tương ứng với sự gia tăng oxy cung cấp qua màng, và sự thay đổi PaCO2

rất nhanh chóng và dễ dàng kiểm soát khi chúng tôi điều chỉnh lượng oxy cung cấp qua màng

Huyết học

Chúng tôi ghi nhận ECMO làm tăng khối lượng tuần hoàn, dung dịch mồi (priming) hệ thống làm pha loãng các thành phần của máu, tuy nhiên mức độ pha loãng không nhiều có thể kiểm soát bằng cách theo dõi sát công thức máu

và đông máu toàn bộ mỗi 4 giờ trong 12 giờ đầu ECMO sau đó là mỗi 24 giờ

Hiện tượng tán huyết trong trường hợp này chúng tôi cũng không ghi nhận qua theo dõi nồng độ hemoglobin huyết tương và bilirubin

Huyết động

Khi thực hiện ECMO bệnh nhân được lựa chọn V-A lúc đầu vì có huyết áp giảm phải dùng vận mạch để nâng huyết áp, chúng tôi ghi nhận rằng huyết động cải thiện rõ rệt nhanh chóng, nhịp tim bệnh nhân giảm dần và ổn định được rất nhanh trong vòng 12 giờ đã ngưng được các thuốc vận mạch Sau khi ổn định được huyết động chúng tôi chuyển sang V-V làm khả năng cải thiện oxy máu toàn cơ thể tốt hơn nhưng huyết động vẫn ổn định

Các cơ quan khác trong trường hợp này chúng tôi ghi nhận không bị tác động bất lợi của ECMO làm ảnh hưởng đến chức năng các

cơ quan

KẾT LUẬN

Đây là trường hợp tiến hành ECMO đầu tiên tại khoa Hồi Sức Cấp Cứu, bệnh viện Chợ Rẫy, hiệu quả cải thiện oxy máu động mạch và huyết động là rất rõ rệt, không có biến chứng xảy ra trong quá trình thực hiện Như vậy ECMO là một phương pháp cải thiện oxy máu hiệu quả và

Trang 6

an toàn trong những trường hợp suy hô hấp

giảm oxy máu thất bại với thở máy, đây là biện

pháp điều trị nâng đỡ hô hấp có giá trị trong giai

đoạn chờ nguyên nhân được điều trị hoặc bệnh

tự thoái lui Kỹ thuật này cần được phổ biến tại

Việt Nam, trong thời đại mà dịch cúm vẫn

thường xuyên xảy ra, nhằm giảm tỉ lệ tử vong ở

những trường hợp suy hô hấp nặng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Meyer DM (2001), Extracorporeal Life Support, Landes Bioscience

2 Muller T (2009), A new miniaturized system for extracorporeal membrane oxygenation in adult respiratory failure, Critical Care, 13:R205

3 Smith JH (2010), ECMO, VAD and circulatory support, The manual of Freeman hospital, England

4 Strickland R (2009), General ICU ECMO Guidelines, Royal Adelaide hospital

5 Trung tâm tim mạch Bệnh viện trung ương Huế (2009), Protocol ECMO, Bệnh viện trung ương Huế

Ngày đăng: 22/01/2020, 12:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm