Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát mức độ nhiễm nấm mốc và định danh nấm trong phòng làm việc của trường học tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm phát hiện các loại nấm mốc gây bệnh ở người. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.
Trang 1Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
TÌNH HÌNH NHIỄM NẤM MỐC TRONG PHÒNG LÀM VIỆC
CỦA TRƯỜNG HỌC Ở TP.HCM
Lê Thị Ngọc Huệ*, Đỗ Thị Phương Xuân*, Trần Thị Hạnh Tiên*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Khảo sát mức độ nhiễm nấm mốc và định danh nấm trong phòng làm việc của trường học tại
thành phố Hồ Chí Minh, nhằm phát hiện các loại nấm mốc gây bệnh ở người
Phương pháp: Lấy mẫu bằng máy Mas 100, định danh nấm dùng phương pháp cổ điển dựa theo màu sắc
khúm nấm và cấu trúc nấm ở kính hiển vi
Kết quả: Mức độ nhiễm nấm của 10 phòng làm việc của trường học ở Quận Bình Thạnh là 1.400 – 1.780
CFU/m 3 không khí Mức độ nhiễm nấm của 20 phòng làm việc của trường học ở Quận 1 là 200 – 530 CFU/m 3 không khí Đa số nấm mốc được phát hiện đều là nấm độc
Kết luận: 12 phòng/30 phòng làm việc của 2 trường (đặc biệt 100% phòng của trường ở Quận Bình
Thạnh) có mức độ nhiễm nấm khá cao (> 500 CFU/m 3 không khí) Ngoài ra, những nấm mốc này gây hại cho sức khoẻ con người Do đó, những nơi này cần có biện pháp loại bỏ nấm mốc
Từ khóa: Mức độ nhiễm nấm mốc, CFU, m 3 không khí, nấm mốc độc
ABSTRACT
THE MOULDS POLLUTED SITUATION IN THE OFFICES OF SCHOOLS IN HO CHI MINH CITY
Le Thi Ngoc Hue, Do Thi Phuong Xuan, Tran Thi Hanh Tien
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 198 - 201
Objectives: Research on the polluted moulds level in offices of two schools and identify them to discover
pathogenic moulds
Methods: Research on fungal contamination in offices by using Mas 100 for sampling and identifying the
moulds by following the classical method which is based primarily on colony color and mould morphology
Results: The polluted moulds levels of ten school offices in Binh Thanh District were about 1,400 – 1,780
CFU in air cubic metre The polluted moulds levels of twenty school offices in District 1 were about 200 – 530 CFU in air cubic metre The majority of moulds discovered are toxic to human health
Conclusions: 12 offices/30 offices of two schools (especially 100% school offices in Binh Thanh District) have
been polluted the moulds at the high level (> 500 CFU in air cubic metre) In addition, these moulds can be harmful to human health So, these places need the method to reduce the moulds
Keywords: The polluted moulds level, CFU (Colony Forming Unit), air cubic metre, toxic mould
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong tình hình hiện nay, bệnh do nấm mốc
(ở da, móng, tai, mũi, họng, cơ quan nội tạng)
ngày càng gia tăng đặc biệt ở những người suy
giảm miễn dịch Để giảm bớt mối nguy cơ do
nấm mốc, các nước đã đưa ra giới hạn mức độ
nhiễm nấm trong không khí bên trong nhà, tuy nhiên nước ta chưa có quy định này Cuộc điều tra khảo sát ở khu Pháp Vân Hà Nội năm 2007 cho biết mức độ nhiễm nấm mốc 449 CFU/m3 (mùa lạnh), 532 CFU/m3 (mùa nóng), bệnh đường tai mũi họng, viêm mũi dị ứng, hen phế quản, viêm phổi, viêm phế quản, các bệnh ngoài
* Đại học Y Dược TPHCM
Tác giả liên lạc: ThS Lê Thị Ngọc Huệ, ĐT: 0906394895, Email : ngochue_1@yahoo.com
Trang 2Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học
da, bệnh về mắt ở khu vực này gia tăng Ở nước
ta việc điều tra khảo sát nấm mốc bên trong nhà
vẫn còn hạn chế Do đó, đề tài nhằm khảo sát
mức độ nhiễm nấm mốc trong văn phòng của
trường học, nơi mà các nhân viên làm việc suốt
cả ngày
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát mức độ nhiễm nấm mốc và định
danh nấm trong 30 phòng làm việc của 2 trường
học (Quận Bình Thạnh, Quận 1) ở thành phố Hồ
Chí Minh, nhằm phát hiện các loại nấm mốc gây
ảnh hưởng sức khoẻ con người
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng thử nghiệm
Bảng 1 Đặc điểm của 2 trường khảo sát
Phòng khảo sát 10 phòng không
dùng máy lạnh
20 phòng dùng máy lạnh Khu vực trường Quận Bình Thạnh Quận 1
Kiến trúc trường Sân hẹp, ít cây
xanh Sân rộng, cây xanh Giờ sinh hoạt
dưới sân
(Vào lớp, ra về)
Cùng lúc Không cùng lúc
Nhận xét: Các phòng khảo sát: thư viện,
phòng y tế, văn phòng đoàn, tài vụ, giáo vụ…
không là phòng đang dạy có nhiều học viên
Phương pháp nghiên cứu
Dùng máy Mas 100, đĩa thạch Sabouraud
Lấy mẫu buổi sáng, trong 3 ngày liên tiếp
Vận hành máy với tốc độ 50 L/phút (trường
X) và với tốc độ 100 L/phút (trường Y) tại 5 vị trí:
4 góc phòng và chính giữa phòng
Đem đĩa thạch ủ ở nhiệt độ 250C trong 7
ngày
Đếm tổng số khúm nấm trong đĩa thạch
Cách tính kết quả CFU/m 3
B = A/15
A: tổng số khúm nấm của 5 góc phòng trong 3 ngày B:
trung bình số khúm nấm trong 1 đĩa của 1 phòng
D = C x 20 (trường X)
D = C x 10 (trường Y)
C: tổng số khúm nấm /phòng được tra từ B theo bảng
khí
Phương pháp định danh
Định danh theo phương pháp cổ điển(3,4,8) dựa vào hình dạng, màu sắc của khúm nấm và đặc điểm hình thái cấu trúc nấm mốc xem ở
kính hiển vi
Định danh sơ bộ để xác định chi nấm Nếu nấm chưa định danh được hay nấm không có bào tử, tham khảo tài liệu để chọn môi trường thích hợp cho nấm như PDA, MEA, CYA, CZ, PCA, ….hay làm thêm một số phản ứng sinh hoá hoặc cấy vào môi trường đặc biệt như thạch máu theo tính đặc thù của một số nấm để xác định chi nấm
Sau đó cấy 3 điểm (màu sắc khúm nấm) và cấy trên lam (đặc điểm hình thái cấu trúc nấm)
để đo đạc kích thước và so sánh với tài liệu
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Mức độ nhiễm nấm mốc của 30 phòng khảo sát
Bảng 2 Mức độ nhiễm nấm mốc của 30 phòng làm
việc của 2 trường X và Y
Nhận xét: Qua biểu đồ 1 cho thấy, đa số những phòng có mức độ nhiễm nấm > 400 CFU/m3 đều có độ ẩm > 60%, với độ ẩm này là điều kiện tốt cho sự hình thành và phát triển của nấm mốc
Mức độ nhiễm nấm mốc trong phòng làm việc của trường học ở Quận Bình Thạnh cao hơn nhiều so với trường học ở Quận 1
Trang 3Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013
Điều này có thể do bị ảnh hưởng bởi ô
nhiễm của môi trường không khí nơi khu vực
khảo sát, môi trường không khí ở khu vực
trường học Quận Bình Thạnh ô nhiễm hơn môi
trường không khí ở khu vực trường học Quận 1
Ngoài ra, đặc điểm kiến trúc cũng khác nhau,
trường học ở Q1 sân rộng, thông thoáng hơn, có
nhiều cây xanh ngược lại với trường ở Quận
Bình Thạnh Cách sinh hoạt cũng khác nhau,
trường ở Quận Bình Thạnh với đặc điểm số
lượng học viên cùng ra vào trường theo giờ (giờ
chơi, về) ngược lại trường ở Quận 1 Với đặc
điểm trên phần nào giải thích môi trường không
khí của trường ở Quận Bình Thạnh ô nhiễm hơn
và gây làm gia tăng mức độ nhiễm bên trong
phòng
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
1600
1800
2000
Phòng khảo sát
3 K
Biểu đồ 1 Mức độ nhiễm nấm mốc của 30 phòng
làm việc của 2 trường X và Y
Một số quy định giới hạn mức độ nấm mốc bên trong nhà của các nước như sau:
Bảng 3 Quy định độ nhiễm nấm bên trong nhà của
các nước (5,9)
1 < 100 CFU/m3 không khí ACGIH 1989
2 < 200 CFU/m3 không khí US Public Health
Service 1993
3 < 300 CFU/m3 không khí Robetson (Mỹ) 1997
4 < 500 CFU/m3 không khí Singapore 5
< 50 CFU/m3 không khí cho từng chủng loại nấm (trừ
Cladosporium spp.)
WHO Robertson (Mỹ) 1997; Canada 1993
Nhận xét: Qua bảng trên, nếu dựa theo quy định mức độ nhiễm nấm cao nhất là < 500 CFU/m3 thì kết quả khảo sát cho thấy 100% phòng của trường ở Quận Bình Thạnh, 10% phòng của trường ở Quận 1 có mức độ nhiễm nấm vượt quá quy định cho phép
Ngoài ra, theo tài liệu cho biết nhân viên văn phòng thường bị bệnh đường hô hấp do môi trường làm việc nhiễm nấm 344 CFU/m3(1), vậy 100% phòng của trường X và 70% phòng của trường Y với mức độ nhiễm nấm mốc có nguy
cơ gây bệnh đường hô hấp cho nhân viên
Kết quả định danh nấm mốc
Bảng 4 Các nấm mốc nhiễm của 2 trường X và Y
Trường
Tỉ lệ các chi nấm mốc nhiễm (%)
Penicillium Aspergillus Fusarium Các chi nấm với sợi nấm
không vách ngăn
Các chi nấm với sợi nấm có màu
Các chi nấm khác
Nhận xét: Các chi nấm sợi nấm có màu
trong đó đa số là chi Cladosporium
Các chi nấm sợi nấm không vách ngăn đa số
là chi gồm Mucor, Rhizopus
Trường X có đặc thù nhiễm các chi nấm mốc
với sợi nấm có màu lên đến 79,9%
Cả 2 trường đều có đặc điểm chung và đặc
điểm này cũng phù hợp với các báo cáo của các
nước là tỉ lệ nhiễm của chi nấm Penicillium,
Aspergillus, Cladosporium cao hơn các chi nấm
khác(1,2)
Trong chi Aspergillus, Aspergillus niger chiếm
tỉ lệ cao hơn các loài khác Tuy nhiên Aspergillus fumigatus, Aspergillus flavus mặc dù tỉ lệ không
cao nhưng chúng xuất hiện khá phổ biến Đây là
2 nấm gây hại đến sức khoẻ của con người Theo bảng 3, quy định từng chủng loại nấm không được vượt quá 50 CFU/m3, vì nếu nấm mốc vượt quá mức giới hạn này sẽ gây nguy hại đến sức khoẻ con người
Trang 4Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học
Biểu đồ 2 Tỉ lệ% các chi nấm nhiễm của 2 trường X
và Y
Thật vậy, theo tài liệu(6) nếu nhiễm
Aspergillus > 50 CFU/m3 không khí gây kích ứng
mắt, da, ho Với quy định này cho thấy hầu hết
các phòng khảo sát của 2 trường đều có nguy cơ
bị tác hại bởi nấm mốc vì có mức độ nhiễm
không những chi nấm Aspergillus mà cả chi
Penicillium và chi nấm sợi màu Cladosporium khá
cao (> 50 CFU/m3 không khí)
Mặc dù chi Cladosporium không có quy
định mức độ nhiễm cho từng loại nấm nhưng
chi nấm này có tác hại gây dị ứng, hơn nữa
theo báo cáo của BV ĐHYD Huế năm 2008, ca
bệnh não do Cladosporium batiana ở bệnh nhân
không nhiễm HIV(7)
KẾT LUẬN
Trong 30 phòng khảo sát của 2 trường có
12/30 phòng mức độ nhiễm nấm khá cao (> 500
CFU/m3 không khí) Ngoài ra, đa số các phòng
nhiễm nấm mốc độc hại như A flavus, A
fumigatus, A niger, Fusarium spp, Mucor spp và
nhiễm cùng loại nấm với mức độ cao
Nếu thời gian con người phơi nhiễm ở trong môi trường này khá nhiều giờ, cơ thể suy yếu, nấm mốc có thể gây hại cho sức khỏe Do đó cần
có biện pháp loại bỏ chúng như vệ sinh phòng thường xuyên, vệ sinh máy lạnh… và nhất là làm giảm độ ẩm của phòng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
environmental study in office rooms, Med Pr., 2007, 58(6), 521-525
Western-Anatolia, Turkey, Asian Pacific Journal of Allergy and
Immunology, 2005, 23(2-3), 87-92
3 Đặng Vũ Hồng Miên(1976), Bảng phân loại các loài nấm mốc
thường gặp NXB Minh Sang, Hà Nội, 1976, 371 – 375
4 DettoogGS (2000), Atlas of clinical fungi, 2nd ed, Centraalbureau Voor Schimmel cultures, Spain, 2000, 128, 156, 164, 444 – 445,
596, 523, 857, 899, 928
5 Giardino NJ (2004), Summary of currently available guidelines for
fungal levels in indoor, Pure air control services
6 Kowalski WJ (2000), Indoor mold growth- Health hazards and
remediation, HPAC Engineering (Heating/Piping/Air Conditioning Engineering)
7 Pham Van Linh, Truong Quang Anh, Ton Nu Phuong Anh, Tran Duc Thai, Nguyen Thi Hoa (2008), Cladophialophora bantiana and Candida albicans mixed infection in cerebral abscess of an
HIV- negative patient J Infect Developing Countries, 2008, 2(3),
245-248
8 St Germain G (1996), Identifying filamentous fungi A clinical
laboratory handbook, 1996, 63-77, 82, 84-85, 90-93,104, 106, 160, 263-265
9 WHO (2000), Ambient air quality monitoring and assessment
Guidelines for Air quality, Geneva, 2000, 82-104