1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả phẫu thuật cắt thần kinh giao cảm ngực với gây mê nội khí quản 1 nòng trong điều trị tăng tiết mồ hôi tay và nách

5 106 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 445,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật cắt thần kinh giao cảm ngực với gây mê nội khí quản 1 nòng trong điều trị tăng tiết mồ hôi tay và nách; nghiên cứu được tiến hành từ 01/2009-10/2010. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

KẾT QUẢ PHẪU THUẬT CẮT THẦN KINH GIAO CẢM NGỰC

VỚI GÂY MÊ NỘI KHÍ QUẢN 1 NÒNG TRONG ĐIỀU TRỊ TĂNG TIẾT MỒ HÔI TAY VÀ NÁCH

Văn Minh Trí*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Tăng tiết mồ hôi tay và nách là bệnh hay gặp ở người trẻ, gây nhiều phiền toái trong sinh hoạt

hằng ngày, nhất là trong giao tiếp Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt hạch thần kinh giao cảm là phương pháp điều trị hiệu quả cao và dễ thực hiện

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá khả năng phẫu thuật nội soi lồng ngực áp dụng gây mê với nội khí quản 1

nòng

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang từ 01/2009-10/2010

Kết quả: có 16 trường hợp tăng tiết mồ hôi tay, nách được phẫu thuật, nam/nữ 0,6 Tuổi trung bình 21 ±

2,4; tỷ lệ khô 2 tay là 100% Có 1 trường hợp được đặt dẫn lưu màng phổi P dự phòng Không có biến chứng nào được ghi nhận

Kết luận: Với gây mê nội khí quản 1 nòng, phẫu thuật nội soi cắt hạch giao cảm ngực 3 hoặc 3,4 trong

điều trị tăng tiết mồ hôi tay và nách hiệu quả cao, ít tai biến và biến chứng

Từ khóa: Tăng tiết mồ hôi tay và nách, gây mê với nội khí quản 1 nòng

ABSTRACT

OUTCOME OF THORACOSCOPIC SYMPATHECTOMY WITH ENDOTRACHEAL TUBE ANESTHESIA IN TREATMENT OF PALMAR AND AXILLARY HYPERHIDROSIS

Van Minh Tri * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 447 - 451

Objective: Palmar and axillary hyperhidrosis is frenquently present in young patients, causing a lot of

problems in life, especially in social communication Thoracoscopic sympathectomy is the highly effective treament

The aim of this study: Assessing capacity of Thoracoscopic sympathectomy in patients anaesthetized with single-lumen Endotracheal tube

Methods: Descriptive study; At Nhan Dan Gia Dinh Hospital from 01/2009 to 10/2010

Results: A series of 16 Hyperhidrosis patients were performed thoracoscopic sympathectomy Male/female

was 0.60, with mean age 21 ±2.4 Dried proportion in both hands obtained 100% One case was placed chest tube No patient had a postoperative complication

Conclusion: Thoracoscopic sympathectomy in treatment hyperhidrosis is highly effective, less complication

when general anesthesia is initiated with a single-lumen endotracheal tube

Key words: Hyperhydrosis, single-lumen endotracheal tube

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng tiết mồ hôi quá mức xuất hiện ở mặt,

lòng bàn tay, bàn chân, nách, lưng… do tình trạng cường giao cảm gây ra, chiếm khoảng 1% dân số Tăng tiết mồ hôi tay, nách được coi là một

* Bộ môn Ngoại Lồng Ngực – Tim mạch - Đại học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc: BS CKI Văn Minh Trí ĐT: 0908164844 Email: bsminhtri@gmail.com

Trang 2

bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng lại

gây nhiều phiền toái đối với người bệnh trong lao

động, sinh hoạt và giao tiếp xã hội Bệnh có thể để

lại những hậu quả đáng kể về mặt tâm lý Chính

vì vậy, nhu cầu điều trị bệnh trở nên cấp thiết đối

với đa số bệnh nhân

Những năm gần đây, phẫu thuật nội soi là

phương pháp điều trị được áp dụng rộng rãi vì

tính ưu việt: an toàn, đơn giản, hiệu quả và thẩm

mỹ Phương pháp này đã thay thế hoàn toàn cho

phương pháp mở ngực kinh điển, các thủ thuật

triệt hạch bằng tiêm cồn hay nước sôi qua thành

ngực hay liệu pháp điện ion hóa, botox, laser…

trong điều trị bệnh tăng tiết mồ hôi

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu báo cáo về

cắt hạch thần kinh giao cảm ngực qua nội soi

trong điều trị tăng tiết mồ hôi tay với tỷ lệ thành

công rất cao, đơn giản và ít biến chứng Tuy

nhiên, để thực hiện được phẫu thuật này cần phải

gây mê nội khí quản hai nòng (Carlène) thông

khí từng bên phổi Kết hợp với tư thế nằm

nghiêng, nằm sấp hay nằm ngửa(7) Phương pháp

này làm cho phẫu thuật trở nên khá phức tạp, tốn

kém, đôi khi gây tổn thương đường hô hấp không

cần thiết(2)

Ngày nay, có nhiều bệnh viện trang bị phẫu

thuật nội soi, có ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt

hạch thần kinh giao cảm ngực Tuy nhiên trong

hoàn cảnh Việt Nam hiện tại một số trang thiết bị

chuyên dụng còn thiếu nên việc cải tiến một số

kỹ thuật trong phẫu thuật nội soi lồng ngực cho

phù hợp với hoàn cảnh hiện tại bằng cách gây

mê nội khí quản “thường” mà vẫn mang lại hiệu

quả, giảm chi phí, an toàn cho bệnh nhân

Nhằm phát triển và cải tiến quy trình điều

trị, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đánh giá khả

năng của phẫu thuật này áp dụng gây mê với

nội khí quản 1 nòng trong điều trị tăng tiết mồ

hôi tay, nách Làm cho phẫu thuật trở nên đơn

giản và đỡ tốn kém mà vẫn đảm bảo an toàn cho

bệnh nhân

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân tăng tiết mồ hôi tay, nách được phẫu thuật tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định trong thời gian từ tháng 01/2009 đến tháng 10/2010 với gây mê NKQ 1 nòng

Phương pháp thực hiện

Kỹ thuật mổ

Sử dụng bộ dụng cụ phẫu thuật nội soi lồng

ngực không cần CO2

- Vô cảm: Mê nội khí quản thường Có monitor theo dõi SaO2 Bóp bóng “vừa phải” đảm bảo SaO2 > 90%

- Tư thế: Bệnh nhân nằm ngửa, hai tay dang ngang 900, không cần độn gối nhỏ dưới vai, nằm đầu cao (semi-Fowler)

- Vị trí vào ngực: Rạch da 10mm, đặt trocar 10mm cho camera ở liên sườn IV đường nách giữa quan sát khoang lồng ngực, 1 trocar 5mm ở liên sườn 3 nách giữa để đưa dụng cụ thao tác

- Nhận diện đầu xương sườn số 2,3,4 và chuỗi hạch thần kinh giao cảm cạnh cột sống Cắt hạch thần kinh giao cảm số 3,4

- Kiểm tra chảy máu và bóp bóng cho phổi

nở

- Đuổi khí, không cần dẫn lưu màng phổi trừ trường hợp có biến chứng

- Phẫu thuật tương tự với bên đối diện

Những lưu ý trong khi thực hiện phẫu thuật

- Thời điểm đặt Trocart: gây mê bóp bóng nhẹ

“vừa phải” để tránh tổn thương phổi khi đặt trocart

- Thời điểm đốt hạch giao cảm ngực: gây mê bóp bóng nhẹ “vừa phải”, sử dụng đầu cao để có khoảng trống vùng đỉnh khoang màng phổi để

Trang 3

thao tác Nhất là trong các trường hợp cắt hạch

giao cảm ngực T4

- Nếu có dày dính màng phổi: có thể đặt

thêm 1 ngõ vào 5mm để dễ bóc tách gỡ dính

màng phổi Sau mổ có thể bóp bóng đuổi khí hay

đặt dẫn lưu màng phổi

Hậu phẫu

Chụp X-quang phổi kiểm tra đánh giá phổi

nở hoàn toàn hay có tràn khí màng phổi

* Đánh giá hiệu quả phẫu thuật cắt hạch thần

kinh giao cảm ngực: Ghi nhận kết quả phẫu thuật:

tay ấm, tay khô; các tai biến, biến chứng…

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ 01-2009 đến 10‐2010 có

16 bệnh nhân tăng tiết mồ hôi tay, nách được

phẫu thuật tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Trong đó có 7 trường hợp tăng tiết mồ hôi tay

đơn thuần, 9 trường hợp tăng tiết mồ hôi tay và

nách

Tuổi

Thấp nhất: 15, cao nhất: 31, Trung bình 21

± 2,4

Giới tính

Có 10 nữ; 6 nam Nam/nữ: 0,6

Nghề nghiệp

Sinh viên, học sinh: 12 (75%)

Nghề văn phòng: 4 (25%)

Kết quả phẫu thuật

- Khả năng phân định hạch thần kinh giao

cảm ngực

Mồ hôi tay Mồ hôi tay + nách

Tất cả 16 BN đều quan sát rõ thấy dây giao

cảm và phân định được hạch T3 7 BN đổ mồ hôi

tay đơn thuần chỉ cắt đốt hạch T3 9 BN đổ mồ

hôi tay-nách được đốt thêm hạch T4, tuy nhiên

chỉ đốt được ở 7 BN

- Thời gian mổ trung bình: 20 phút (15 – 40)

- Thời gian nằm viện: 2 ngày

- Tỷ lệ khô tay và nách sau mổ: sau mổ 100%

BN hoàn toàn hài lòng về mức độ khô tay và nách

Tai biến – Biến chứng – Thất bại

Không có BN nào tử vong, không có trường hợp nào thất bại

Khó khăn trong mổ: tất cả 16 BN đều không gặp vấn đề phổi dính nên không cần vào trocar thứ 3 Có 1 TH chảy máu do đứt dây chằng đỉnh phổi cả 2 bên và được kẹp đốt dễ dàng qua nội soi 1 TH cần phải dẫn lưu màng phổi P do đốt phạm mạch máu, tuy cầm máu được nhưng vẫn dẫn lưu dự phòng và được rút vào ngày hôm sau

BÀN LUẬN Đặc điểm lâm sàng

Nghiên cứu chúng tôi, tuy số lượng không nhiều, nhưng cũng như các tác giả khác đa số BN

là người trẻ và không chênh lệch nhiều về giới

Kết quả điều trị

Chúng tôi ghi nhận tỷ lệ khô tay cao, 100%

Có lẽ khả năng phân định dễ dàng hạch thần kinh giao cảm ngực T3 nên không bỏ sót khi đốt(3, 4)

Đối với nhóm tăng tiết mồ hôi tay và nách, khả năng phân định hạch thần kinh T4 có khó khăn hơn Chỉ thực hiện cắt đốt T4 trong số 7/9

TH Tuy nhiên theo dõi sau mổ chúng tôi ghi nhận tay và nách đều giảm tiết mồ hôi, và tất cả

BN đều hài lòng

Vấn đề đổ mồ hôi bù trừ sau mổ: ngay sau mổ hầu như không có BN than phiền gì nhiều Có 8

BN tái khám cho biết có ra mồ hôi bù trừ vùng lưng bụng 6 BN cho biết có thể chấp nhận được, còn 2 BN than phiền là có chịu khi ra mồ hôi bù trừ nhiều

Những thuận lợi và khó khăn

Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá khả năng của phẫu thuật nội soi cắt hạch giao cảm ngực áp dụng gây mê nội khí quản 1 nòng,

do đó chỉ phân tích lợi điểm và bất lợi của kỹ thuật này

Trang 4

Mê nội khí quản hai nòng

Trong phẫu thuật nội soi lồng ngực không

cần sử dụng CO2,nhưng cần xẹp phổi bên phẫu

thuật để có khoảng trống thao tác Việc gây mê

bằng nội khí quản hai nòng để thông khí từng

bên phổi trong lúc phẫu thuật là hết sức cần

thiết Trong thời gian phẫu thuật việc theo dõi

SaO2 trên monitor rất quan trọng để đánh giá

thông khí của phổi còn lại có đủ đảm bảo cho

cuộc mổ

Khoảng trống tạo ra được do phổi xẹp

không những giúp chúng ta có khoảng trống để

thực hiện phẫu thuật mà còn giúp chúng ta có

thể xử lý được các trường hợp khó như dày dính

màng phổi, chảy máu

Gây mê bằng ống nội khí quản “thường”

Đối với phẫu thuật nội soi lồng ngực cần xẹp

phổi bên phẫu thuật để có khoảng trống thao

tác Tuy nhiên đối với phẫu thuật cắt hạch thần

kinh giao cảm ngực là phẫu thuật tương đối đơn

giản, vùng thao tác chủ yếu ở đỉnh khoang

màng phổi Nên có thể sử dụng ống nội khí

quản “thường” với monitor theo dõi SaO2, thông

khí ở mức độ “vừa phải” đủ để thông khí duy

trì SaO2 >90% Khi đó phổi có khuynh hướng

“xẹp” về vùng rốn, giúp cho chúng ta thao tác

được ở vùng đỉnh khoang màng phổi Trong

phẫu thuật lồng ngực và nội soi lồng ngực, việc

đặt ống nội khí quản hai nòng là một thách thức

lớn đối với gây mê hồi sức không những về kỹ

thuật đặt, lựa chọn kích cỡ ống phù hợp với

bệnh nhân, sang chấn khi đặt, tắc đàm nhớt mà

còn chi phí khá lớn cho ống nội khí quản hai

nòng Gây mê bằng ống nội khí quản “thường”

giúp cho việc gây mê “đơn giản” hơn và đỡ tốn

kém hơn

* Cần lưu ý khi phổi xẹp không tốt, ta có thể

cho bệnh nhân nằm tư thế Fowler hay đưa thêm

dụng cụ vào để vén phổi giúp cho thao tác được

tốt Trường hợp có biến chứng chảy máu thì việc

khắc phục sẽ khó khăn hơn vì khoảng trống

thao tác rất ít Tuy nhiên, chúng tôi chưa gặp

biến chứng chảy máu trầm trọng nào cần phải

mở ngực để cầm máu(3,5) Tương tự nhiều báo cáo của các tác giả khác

Từ năm 2002 đến năm 2005, tác giả Daniel L

và cs(1) cũng đã thực hiện thành công 205 ca cắt hạch thần kinh giao cảm ngực nội soi với gây mê nội khí quản 1 nòng Tác giả này cũng cho biết điều kiện bất lợi về nội khí quản 2 nòng tại cơ sở

y tế là lý do ông nghiên cứu đơn giản hóa kỹ thuật gây mê

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy với gây

mê nội khí quản thường thì cũng không gặp khó khăn gì trong lúc thực hiện phẫu thuật Quá trình phẫu thuật được thực hiện an toàn với độ bảo hòa oxy > 90% cho thông khí 2 phổi (thở máy áp lực thấp, tần số thở cao) Tương tự nghiên cứu của tác giả khác(1, 6)

Cải tiến này giúp cho phẫu thuật nội soi cắt hạch giao cảm ngực “đơn giản” hơn, phù hợp với hoàn cảnh ở Việt Nam còn thiếu trang thiết

bị chuyên dùng Nhưng cần thận trọng, và chỉ

áp dụng khi phẫu thuật viên có kinh nghiệm

KẾT LUẬN

Phẫu thuật nội soi cắt hạch giao cảm ngực T3 hoặc T3,4 trong điều trị bệnh tăng tiết mồ hôi tay – nách có thể thực hiện dễ dàng và an toàn với gây mê nội khí quản 1 nòng Trường hợp bệnh nhân có yếu tố nghi ngờ dính phổi, nên xem xét đặt nội khí quản 2 nòng để quá trình phẫu thuật được thuận lợi

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Microthoracoscopic Sympathectomy for Palmar Hyperhidrosis Ann Thorac Surg;83:1850-1853

Thiệp và cs (2004): “ Các biến chứng sớm trong phẫu thuật nội soi lồng ngực” Hội nghị nội soi và phẫu thuật nội soi ĐHYD TP HCM: 418-425

cắt hạch giao cảm điều trị tăng tiết mồ hôi tay” Tạp chí Y học TP.Hồ Chí Minh Vol 1 Phụ bản 1 2007

endoscopic thoracic sympathectomy and sympatholysis in the treatment of primary hyperhidrosis: a study of 1016 procedures Arch Bronconeumol 2006 May;42(5): 230

chứng tăng tiết mồ hôi tay bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực” Y Hoc TP.Hồ Chí Minh * Vol 7 * Supplement of No 1:

31 – 35

Trang 5

6 Tu Yuan-rong,, Li Xu, Lin min,Lai Fan-cai, Chen Jian-feng

(2009) Endoscopic Thoracic Sympathectomy for Palmar

Hyperhidrosis: a Retrospective Review of 826 cases

Department of Thoracic Surgery, The First Affiliated Hospital

of Fujian Medical University,Fuzhou, 350-355

trị chảy mồ hôi tay” Toàn văn báo cáo tổng kết nghiên cứu khoa học và cải tiến kỹ thuật 10 năm tại bệnh viện Bình Dân: 157-162

Ngày đăng: 22/01/2020, 11:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w