1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá tác dụng của scopolamine lên khả năng học tập và trí nhớ không gian của chuột nhắt qua bài tập mê lộ nước

7 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 521,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá tác dụng của scopolamine đến khả năng học tập và trí nhớ không gian chuột nhắt thông qua bài tập mê lộ nước (Morris water maze). Đối tượng và phương pháp: chuột nhắt trắng, giống đực, khỏe mạnh.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA SCOPOLAMINE LÊN KHẢ NĂNG

HỌC TẬP VÀ TRÍ NHỚ KHÔNG GIAN CỦA CHUỘT NHẮT

QUA BÀI TẬP MÊ LỘ NƯỚC

Cấn Văn Mão*; Đinh Quốc Bảo*

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá tác dụng của scopolamine đến khả năng học tập và trí nhớ không gian

chuột nhắt thông qua bài tập mê lộ nước (Morris water maze) Đối tượng và phương pháp:

chuột nhắt trắng, giống đực, khỏe mạnh, 10 - 12 tuần tuổi được chia ngẫu nhiên thành 3 nhóm:

uống NaCl 0,9% và tiêm scopolamine: scop 0.5 (0,5 mg/kg), scop 1.0 (1 mg/kg), scop 1.5 (1,5 mg/kg)

và nhóm chứng (uống và tiêm NaCl 0,9%) Kết quả: ở bài tập mê lộ nước, scopolamine liều 0,5;

1 và 1,5 mg/kg/ngày làm tăng thời gian và quãng đường tìm thấy bến đỗ ở chuột thí nghiệm so

với chuột chứng (từ ngày 1 đến ngày 7), đồng thời giảm thời gian chuột bơi trong góc phần tư

trước đây có đặt bến đỗ (ngày 8) Kết luận: kết quả nghiên cứu này có thể dùng làm tiền đề cho

các nghiên cứu về thuốc, phương pháp cải thiện trí nhớ trên động vật thực nghiệm

* Từ khóa: Scopolamine; Bài tập mê lộ nước; Trí nhớ; Học tập

Investigate Effects of Scopolamine on Learning Ability and Spatial

Memory in Mice by Using Morris Water Maze Test

Summary

Objectives: To assess the effect of scopolamine on learning ability and spatial memory in

mice in Morris water maze Subjects and methods: 80 male, healthy mice (10 - 12 weeks of

age) were randomly divided into 3 scopolamine groups (0.5, 1.0 and 1.5 mg/kg scopolamine,

respectively, i.p) and the control group (saline, i.p) Results: In Morris water maze, scopolamine

(dose of 0.5 mg; 1 mg and especially 1.5 mg/kg/day, i.p) increased escape latencies and

swimming distance in scopolamine-treated group compared to controls (from 1 st to 7 th day),

while reducing the swimming time within the platform quadrant (day 8) Conclusion: These

results can apply for medical researches on memory improvement in experimental animals

* Key words: Scopolamine; Morris water maze; Memory; Learning

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy giảm trí nhớ khá phổ biến ở người

cao tuổi, khoảng 50 - 60% tổng số

trường hợp với người > 65 tuổi bị bệnh

Alzheimer [6], do đó nhiều nghiên nhằm

tìm ra các hợp chất có khả năng điều trị

hoặc hỗ trợ căn bệnh này Hiện nay,

nhiều mô hình gây tổn thương trí nhớ

kiểu trong bệnh Alzheimer trên động vật thực nghiệm theo các cơ chế khác nhau như sử dụng hóa chất, gây tổn thương các vùng não, biến đổi gen [1]

Scopolamine, chất đối kháng thụ thể acetylcholine, được cho là làm suy giảm quá trình nhận thức, học tập, đặc biệt là nhận thức và trí nhớ không gian [7]

* Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Cấn Văn Mão (canvanmao2011@gmail.com)

Ngày nhận bài: 30/09/2016; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 10/11/2016

Ngày bài báo được đăng: 21/11/2016

Trang 2

Sử dụng scopolamine gây suy giảm trí

nhớ là một trong những mô hình được áp

dụng cho thử nghiệm các thuốc cải thiện

trí nhớ theo cơ chế kháng enzym

acetylcholinesterase [3, 9] So với những

mô hình khác, mô hình này có ưu điểm là

dễ thực hiện (tiêm scopolamine vào phúc

mạc), tỷ lệ và khả năng sống sót của chuột

cao Bài tập mê lộ nước được Richard G

Morris mô tả năm 1981 [8] để đánh giá về

học tập, trí nhớ không gian và trí nhớ dài

hạn trên động vật, do một số đặc điểm như:

không cần huấn luyện trước, có độ tin cậy

cao khi thay đổi cấu hình của dụng cụ, quy

trình thí nghiệm và có thể thực hiện trên

nhiều loài (chuột, khỉ…)

Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài

này nhằm: Đánh giá ảnh hưởng của

scopolamine đến khả năng học tập và trí nhớ không gian của chuột nhắt trắng thông qua bài tập mê lộ nước

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Chuột nhắt trắng, giống đực, khỏe mạnh, 10 - 12 tuần tuổi, trọng lượng 25 -

30 g do Ban Cung cấp Động vật Thí nghiệm, Học viện Quân y cung cấp Chuột được chăm sóc và nuôi trong phòng thoáng mát, ăn uống đầy đủ, chu

kỳ sáng tối duy trì 12/12 giờ

Chia 80 chuột thành 4 nhóm: scop 0.5, scop 1.0, scop 1.5 và nhóm chứng (mỗi nhóm 20 chuột)

2 Phương tiện và hóa chất

* Phương tiện:

- Buồng thực nghiệm được quây bằng vải đen có kích thước 150 x 150 x 150 cm để cách ly với môi trường xung quanh, tránh yếu tố gây nhiễu

- Mê lộ nước (Morris water maze): bể nước bằng tôn, hình tròn, sơn đen, đường kính 75 cm, cao 35 cm Bến đỗ: vị trí để chuột có thể dừng chân, đó là một miếng nhựa, có chân đế, cao 28 cm, đường kính 5 cm, đặt tại một vị trí cố định ở trung tâm

một góc phần tư 1 trong bể nước, mặt bến đỗ chìm cách mặt nước 1 cm (hình 1)

Hình 1: Mê lộ nước

* Hóa chất:

- Dung dịch NaCl 0,9% do Euro-Med (Philippine) sản xuất

- Scopolamine: scopolamine hydrobromid trihydrate (Sigma Aldrich)

Bến đỗ

Trang 3

3 Phương pháp nghiên cứu

* Sử dụng thuốc:

Tiêm vào màng bụng mỗi chuột (30

phút trước khi bắt đầu bài tập, 1 gam cân

nặng tương ứng với thể tích tiêm là 0,01

ml dung dịch)

Bảng 1:

Chuột được sử dụng thuốc cùng một

thời điểm trong ngày, từ ngày 1 đến ngày 7

* Quy trình thực hiện bài tập mê lộ

nước Morris:

Chia động vật làm các nhóm, mỗi chuột

đánh số khác nhau Động vật thả cho bơi

tự do trong bể nước không có bến đỗ để

làm quen trong 60 giây Sau 1 ngày tiến

hành thử nghiệm với từng động vật

- Từ ngày 1 đến ngày 7:

+ Thả chuột vào mê lộ nước tại các

góc ngẫu nhiên từ 1 - 4 đã quy ước, đầu

động vật hướng vào thành mê lộ, ở vị trí

giữa của một góc phần tư Ghi lại khi thả

động vật ở từng góc phần tư

+ Khi động vật tìm thấy bến đỗ, để lại

đó 10 giây Sau đó nhấc động vật ra, đặt

vào hộp đựng khăn thấm nước, cho nghỉ

60 giây, tiếp tục thao tác này với 3 góc

còn lại

+ Thời gian kiểm định 1 lần thả động

vật là 60 giây, hết 60 giây nếu không tìm

thấy bến đỗ thì nhấc động vật lên bến đỗ

10 giây

- Ngày thứ 8:

+ Bỏ bến đỗ, thả chuột vào mê lộ nước trong 120 giây từ góc đối diện với góc đặt bến đỗ trước đây Sau đó nhấc chuột ra

và tiến hành với những chuột tiếp theo

+ Toàn bộ hoạt động của chuột trong bài tập được ghi hình và phân tích tự động bằng phần mềm Any maze (Stoelting, Mỹ)

* Các chỉ số nghiên cứu:

- Thời gian và quãng đường chuột bơi

từ khi thả vào mê lộ đến khi tìm được bến

đỗ (ngày 1 đến ngày 7)

- Thời gian chuột bơi trong góc phần

tư trước đây đặt bến đỗ (ngày 8)

* Xử lý số liệu:

Kết quả nghiên cứu sau khi phân tích được xuất ra dưới dạng file excel Tính toán số liệu giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, lập bảng và so sánh thống kê giữa các thông số thu được giữa các nhóm chuột bằng phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

Trong bài tập này, chúng tôi tiến hành qua hai giai đoạn: giai đoạn học tập hình thành trí nhớ (từ ngày 1 đến 7) và giai đoạn gợi lại trí nhớ (ngày thứ 8) Thời gian và quãng đường chuột bơi trong mê

lộ nước từ khi thả đến khi tìm thấy bến đỗ (từ ngày 1 đến 7) là các thông số thể hiện khả năng học tập hình thành trí nhớ của động vật (acquisition memory) Thời gian chuột bơi trong góc phần tư trước đây đặt bến đỗ (ngày thứ 8) là thông số thể hiện khả năng gợi lại trí nhớ đã hình thành trong quá trình học tập

Trang 4

1 Thời gian tìm thấy bến đỗ

Hình 2: Thời gian chuột bơi đến khi tìm thấy bến đỗ

Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian

tìm được bến đỗ của chuột ở tất cả các

nhóm đều có xu hướng giảm dần từ ngày

1 đến ngày 7 Có sự khác biệt đáng kể về

thời gian chuột bơi khi tìm thấy bến đỗ

theo ngày (phân tích two way ANOVA

repeated) nhận thấy [F (4.152, 74.731) =

30.041, p < 0,001] và theo nhóm

[F (2.651, 47.711) = 23.057, p < 0,001],

nhưng không có tương tác giữa hai yếu

tố này lên sự khác biệt về thời gian chuột

bơi đến khi tìm thấy bến đỗ

So sánh thời gian tìm thấy bến đỗ

(phân tích one way ANOVA) giữa các

nhóm scopolamine với nhóm chứng trong cùng môt ngày thấy: chuột thuộc nhóm scop 0,5 cần nhiều thời gian bơi hơn để tìm thấy bến đỗ so với chuột thuộc nhóm chứng ở ngày 1 và ngày 6 (p < 0,05) Chuột thuộc nhóm scop 1,0 cần nhiều thời gian để tìm thấy bến đỗ hơn so với chuột thuộc nhóm chứng ở ngày 6 và ngày 7 (p(6) < 0,05, p(7) < 0,01) Chỉ số này của nhóm scop 1,5 ở ngày 1 đến 7 dài hơn so với nhóm chứng (p (1) < 0,01, p(2 ÷ 7)

giữa nhóm)

2 Quãng đường tìm thấy bến đỗ

Hình 3: Quãng đường chuột bơi đến khi tìm thấy bến đỗ

Trang 5

Kết quả nghiên cứu cho thấy: có sự

khác biệt đáng kể về quãng đường chuột

bơi đến khi tìm thấy bến đỗ theo ngày

(phân tích two way ANOVA repeated)

[F (4.073, 73.306) = 14.769, p < 0,001] và

theo nhóm (cách điều trị) [F (2.734,

49.208) = 13.281, p < 0,001], nhưng

không có tương tác giữa hai yếu tố này

lên sự khác biệt về quãng đường chuột

bơi đến khi tìm thấy bến đỗ

So sánh quãng đường tìm thấy bến đỗ

(phân tích one way ANOVA) giữa các

nhóm scopolamine với nhóm chứng trong

cùng một ngày thấy: chuột thuộc nhóm scop 0,5 có quãng đường bơi đến khi tìm thấy bến đỗ dài hơn so với nhóm chứng

ở các ngày 1, 2 và ngày 6, 7 (p(1 và 2)

< 0,05, p(6 và 7) < 0,01) Chuột thuộc nhóm scop 1,0 có quãng đường bơi đến khi tìm thấy bến đỗ dài hơn so với nhóm chứng

ở các ngày 1, 3, 6, 7 (p(1 và 3) < 0,05, p(6)

< 0,01, p(7) < 0,001) Chỉ số này của nhóm scop 1,5 ở ngày 1, 2 ngày 4 đến 7 dài hơn so với nhóm chứng (p(2) < 0,05, p(1 và 5)

< 0,01, p(4,6 và 7) < 0,001) (p(n): so sánh quãng đường ở ngày n giữa các nhóm)

Hình 4: Hình ảnh đường bơi của chuột ở ngày 1 và 7 theo nhóm

3 Thời gian chuột bơi trong góc phần tư trước đây đặt bến đỗ

Bảng 2: Thời gian (giây) chuột bơi trong góc phần tư 1 ở ngày 8

Chỉ số

Chứng

Scop 0.5

p

Ngày 7

Ngày 1

Trang 6

Kết quả nghiên cứu cho thấy: chuột thuộc nhóm chứng có thời gian bơi trong góc

< 0,01) và giá trị này cao hơn so với chuột thuộc nhóm scop 1,5 Chuột thuộc nhóm scop 0,5 và nhóm scop 1,0 có xu hướng giảm dần trong khi thời gian bơi ở các góc còn lại có xu hướng tăng dần Chuột thuộc nhóm scop 1,5 có chỉ số này thấp hơn nhóm chứng và thời gian bơi nhiều nhất của chuột thuộc nhóm này là góc 2 (không phải góc trước đây đặt bến đỗ)

Hình 4: Hình ảnh đường bơi của chuột ở ngày 8 theo nhóm

Nghiên cứu của chúng tôi thấy: ở giai

đoạn học tập và hình thành trí nhớ, chuột

được tiêm scopolamine (liều 0,5 mg/kg,

1 mg/kg và 1,5 mg/kg) cần nhiều thời gian

và quãng đường vận động dài hơn so với

chuột nhóm chứng ở tất cả các ngày

Trong đó, chuột tiêm scopolamin liều

1,5 mg có thời gian và quãng đường bơi

đến khi tìm thấy bến đỗ lớn hơn so với

chuột thuộc các nhóm còn lại Ở giai đoạn gợi lại trí nhớ (ngày thứ 8), chuột ở nhóm chứng có thời gian bơi trong góc phần tư trước đây đặt bến đỗ nhiều hơn

so với chuột được tiêm scopolamine Trong đó, chuột tiêm scopolamin liều 1,5 mg/kg có thời gian bơi trong góc phần

tư trước đây đặt bến đỗ ít so với chuột thuộc các nhóm còn lại

Trang 7

Các tác giả như: Manish Kumar Saraf

và CS (2011) khi nghiên cứu về tác dụng

gây suy giảm trí nhớ của scopolamine

trên chuột nhắt trắng bằng bài tập mê lộ

nước, với dải liều 0,1 mg/kg, 0,5 mg/kg

và 1 mg/kg cho thấy với liều 0,5 và

1 mg/kg đã gây tăng thời gian và quãng

đường chuột bơi từ khi thả đến khi tìm

thấy bến đỗ từ ngày 1 đến ngày 6 và làm

giảm đáng kể thời gian chuột bơi trong

góc phần tư (góc đặt bến đỗ trước đây)

ở ngày 7 [14] Liying Zhu và CS (2014),

Jinghua Wang và CS (2014) cũng nhận

thấy scopolamine liều 2 mg/kg gây tăng

thời gian chuột bơi trong mê lộ nước từ

khi thả đến khi tìm đến bến đỗ cũng như

giảm thời gian chuột bơi ở góc phần tư

mà trước đây đặt bến đỗ [2, 5]

Các dữ liệu trên chứng tỏ scopolamine

làm giảm cả hai khả năng học tập hình

thành trí nhớ và gợi lại trí nhớ của động

vật và scopolamine liều 1,5 mg/kg có tác

dụng gây suy giảm trí nhớ mạnh nhất

trong 3 liều thử nghiệm ở thí nghiệm này

KẾT LUẬN

Scopolamine liều 0,5 mg/kg, 1 mg/kg

và rõ nhất là liều 1,5 mg/kg (tiêm phúc

mạc) có tác dụng gây suy giảm trí nhớ

trong bài tập mê lộ nước:

- Giảm khả năng học tập, hình thành trí

nhớ: làm tăng thời gian và quãng đường

chuột bơi trong mê lộ nước từ khi thả đến

khi tìm thấy bến đỗ từ ngày 1 đến ngày 7

- Gây suy giảm khả năng gợi lại trí

nhớ: giảm thời gian chuột bơi trong góc

phần tư trước đây có đặt bến đỗ (ngày 8)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Christian Gilles MD, Stéphane Ertlé MS.

Pharmacological models in Alzheimer’s disease

research Dialogues Clin Neurosci 2000, 2 (3) pp.247-255

2 Etienne Save, Bruno Poucet. The morris water task, The behavior laborattory rat 2005, pp.392-400

3 Hou Q.X, Wu DW, Zhang C.X et al

BushenYizhi formula ameliorates cognition deficits and attenuates oxidative stressrelated neuronal apoptosis in scopolamine induced senescence in mice Int J Mol Med 2014, 34 (2), pp.429-439

4 Jeffrey L, Cummings MD Alzheimer’s disease N Engl J Med 2004, Vol 351, pp.56-67

5 Jinghua Wang etal. Effects of Fructus Akebiae on learning and memory impairment

in a scopolamine - induced animal model of dementia 2014

6 Liying Zhu et al.The effects of Zibu Piyin Recipe components on scopolamine-induced learning and memory impairment in the mouse.Journal of Ethnopharmacology 2014,

15, pp.576-582

7 Saraf MK., Prabhakar S, Khanduja KL et

al Bacopa monniera attenuates scopolamine-induced impairment of spatial memory in mice Evidence-based Complementary and Alternative Medicine.article ID 236186 2010, p.10

8 Wang J, Kim J, Seo SG et al. Effects of Fructus Akebiae on learning and memory impairment in a scopolamine induced animal model of dementia Experimental and Therapeutic Medicine 2014, 8, pp.671-675

9 Yahaya TA, Adeola SO, Akpojo AJ Crinum zeylanicum bulb extract improves scopolamine-induced memory impairment in mice Molecular and Clinical Pharmacology

2012, 3 (1), pp 21-29

Bài viết là sản phẩm của đề tài nghiên cứu 106-YS.05-2013.24 được tài trợ bởi Quỹ Phát Triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (Nafosted)

Ngày đăng: 22/01/2020, 11:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w