1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu thay đổi nồng độ Pepsinogen huyết tương và mối liên quan với bệnh dạ dày tăng áp cửa ở bệnh nhân xơ gan

5 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 135,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này được nghiên cứu với mục đích nhằm đánh giá thay đổi nồng độ pepsinogen (PG) I, II huyết tương và mối liên quan với bệnh dạ dày tăng áp cửa (BDDTAC) ở bệnh nhân (BN) xơ gan.

Trang 1

NGHIÊN CỨU THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ PEPSINOGEN HUYẾT TƯƠNG

VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI BỆNH DẠ DÀY TĂNG ÁP CỬA

Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN

Dương Quang Huy*; Hoàng Văn Quân*; Phayvanh Chanthasouk**

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá thay đổi nồng độ pepsinogen (PG) I, II huyết tương và mối liên quan với

bệnh dạ dày tăng áp cửa (BDDTAC) ở bệnh nhân (BN) xơ gan Đối tượng và phương pháp:

nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 60 BN xơ gan tại Khoa Nội tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103 Chẩn đoán và phân loại mức độ BDDTAC theo Hội nghị đồng thuận Baveno III; định lượng nồng độ PG I, PG II huyết tương bằng phương pháp miễn dịch vi hạt hóa phát

quang Kết quả: nồng độ PG I, PG II huyết tương trung bình lần lượt 95,8 ± 58,4 ng/ml và

15,6 ± 9,8 ng/ml giảm nồng độ PG I huyết tương < 70 ng/ml gặp 36,7% BN xơ gan Không có mối liên quan giữa nồng độ PG huyết tương với xuất hiện cũng như mức độ BDDTAC ở BN xơ

gan Kết luận: xơ gan gây BDDTAC, tuy nhiên không ảnh hưởng đến chức năng ngoại tiết của

tế bào biểu mô niêm mạc dạ dày

* Từ khóa: Xơ gan; Bệnh dạ dày tăng áp cửa; Nồng độ pepsinogen

Changes of Serum Pepsinogen Levels and Relationship with Portal Hypertensive Gastropathy in Patients with Cirrhosis

Summary

Objectives: To evaluate the changes of serum pepsinogen levels and the relationship with portal hypertensive gastropathy (PHG) in cirrhotic patients Subjects and methods: Prospective, cross-sectional descriptive study was carried out on 60 patients with cirrhosis in Digestive Department of 103 Military Hospital The diagnosis and determination of degree of PHG were based on the Baveno III consensus workshop PG I and PG II concentration in serum was

determined by chemiluminescent microparticle immuno assay (CMIA) Results: Serum PG I, PG II

levels in patients with cirrhosis were 95.8 ± 58.4 ng/mL and 15.6 ± 9.8 ng/mL, respectively, the decrease in PG I was less than 70 ng/mL accounting for 36.7% There was not a significant relationship between serum PG levels and PHG Conclusion: Cirrhosis caused morphological change without the effect on functional status of gastric mucosa

* Keywords: Cirrhosis; Portal hypertensive gastropathy; Pepsinogen concentration

* Bệnh viện Quân y 103

** Bệnh viện 107 (Lào)

Người phản hồi (Corresponding): Dương Quang Huy (huyduonghvqy@gmail.com)

Ngày nhận bài: 20/10/2017; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 12/12/2017

Ngày bài báo được đăng: 26/12/2017

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Xơ gan là bệnh lý khá phổ biến, căn

nguyên chủ yếu do nhiễm virut viêm gan

B, C và lạm dụng rượu quá mức, tỷ lệ tử

vong do xơ gan tương đối cao ở hầu hết

các quốc gia trên thế giới Xơ gan có thể

gây ra nhiều biến chứng nặng, nguy hiểm

như xuất huyết tiêu hóa do tăng áp lực

tĩnh mạch cửa, bệnh não gan, hội chứng

gan thận, hội chứng gan phổi và là tiền

đề của ung thư biểu mô tế bào gan [1]

Ngoài ra, xơ gan còn ảnh hưởng đến

chức năng của nhiều cơ quan khác, mặc

dù không trực tiếp đe dọa đến tính mạng

nhưng là yếu tố cộng hưởng làm bệnh

diễn biến nặng hơn như gây cường lách,

ảnh hưởng đến cơ quan nội tiết (tuyến

giáp, tuyến thượng thận…) và gây biến

chứng lên đường tiêu hóa

Tác động của xơ gan lên ống tiêu hóa,

cụ thể là lên niêm mạc dạ dày đã được ghi

nhận, trong suốt 3 thập kỷ qua qua cùng

với sự phát triển của Ngành Nội soi tiêu

hóa, trong đó tổn thương hay gặp nhất là

niêm mạc phù nề, xung huyết, xuất hiện

các ban đỏ nhỏ và dẹt, nặng hơn là xuất

huyết niêm mạc giống như hình da rắn

(snake-skin) hoặc dạng khảm (mosaic)

Những tổn thương này được định

nghĩa là BDDTAC, đa số gặp ở BN xơ

gan (tỷ lệ có thể lên đến 98,0%) [2, 3]

Tuy nhiên, sự thay đổi hình thái niêm

mạc như đã mô tả ở trên có ảnh hưởng

đến chức năng ngoại tiết của niêm mạc

dạ dày, nhất là chức năng tiết PG như thế

nào, vấn đề này chưa được quan tâm

nghiên cứu tại Việt Nam

Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài

nghiên cứu này nhằm: Đánh giá sự thay

đổi nồng độ PG I, II huyết tương và mối

liên quan với bệnh dạ dày tăng áp cửa ở

BN xơ gan

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

60 BN xơ gan được điều trị tại Khoa Nội Tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103 từ

9 - 2016 đến 6 - 2017

- Chẩn đoán xơ gan: khi lâm sàng và xét nghiệm có đủ các hội chứng: suy chức năng gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa và thay đổi hình thái gan Với BN xơ gan Child-Pugh A, chỉ lựa chọn vào nghiên cứu BN có biểu hiện tăng áp lực tĩnh mạch cửa rõ (có giãn tĩnh mạch thực quản trên nội soi), kết hợp hình ảnh siêu

âm gan nhu mô thô, tăng âm dạng nốt,

bờ gan không đều

- Loại khỏi nghiên cứu: BN đang xuất huyết tiêu hóa hoặc dùng thuốc dự phòng

vỡ giãn tĩnh mạch thực quản, thuốc giảm tiết, trung hòa axít dịch vị, BN từ chối

hoặc có chống chỉ định nội soi

2 Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt ngang

- Tất cả BN chọn vào nghiên cứu được khám lâm sàng và chỉ định các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết để xác định hội chứng suy chức năng gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa Phân loại mức độ xơ gan theo thang điểm Child-Pugh (1973)

- Nội soi dạ dày thực hiện tại Phòng Nội soi Tiêu hóa, Bệnh viện Quân y 103 trên máy nội soi ống mềm Olympus EVIS EXTRA II CV180 do các bác sỹ chuyên khoa tiêu hóa tiến hành Định nghĩa và phân loại BDDTAC theo Tiêu chuẩn của Hội nghị đồng thuận Baveno III (2000) [2]:

Trang 3

+ BDDTAC: tổn thương là các hình đa

giác dạng khảm được bao quanh bằng

đường trắng mờ, phẳng Xác định tổn

thương ở vị trí hang vị, thân vị và phình vị

+ BDDTAC mức độ nhẹ: niêm mạc giữa

các núm dạng khảm không có màu đỏ

+ BDDTAC mức độ nặng: các núm

dạng khảm được bao phủ bởi niêm mạc

màu đỏ phù nề hay có xuất hiện bất kỳ

dấu đỏ nào trên bề mặt niêm mạc dạ dày

- Định lượng nồng độ PG I và PG II

huyết thanh theo nguyên lý miễn dịch vi

hạt hóa phát quang CMIA (chemiluminescent

microparticle immuno assay) trên máy

Architect ci1620 (Hãng Abbott, Mỹ) tại

Khoa Sinh hóa, Bệnh viện Quân y 103

Mẫu máu tĩnh mạch chống đông bằng

heparin lấy lúc BN nhịn đói ít nhất 8 giờ

trong vòng 24 giờ đầu tiên sau nhập viện

+ Giá trị bình thường PG I huyết tương

> 70 ng/ml, giảm khi ≤ 70 ng/ml

+ Giá trị bình thường PG II huyết

tương > 7,5 ng/ml, giảm khi ≤ 7,5 ng/ml

- Xử lý và phân tích số liệu: bằng phần

mềm thống kê y học SPSS 18.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

Bảng 1: Đặc điểm chung của đối

tượng nghiên cứu

n (%)

Mức độ

xơ gan

60 BN nghiên cứu có tuổi trung bình 57,5 ± 9,7; nam chiếm đa số (93,3%) Mức độ xơ gan chủ yếu Child-Pugh B (38,3%) và Child-Pugh C (36,7%) Kết quả của chúng tôi phù hợp với nhiều nghiên cứu trong nước cho thấy bệnh xơ gan thường gặp ở lứa tuổi trung niên, nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, BN thường nhập viện điều trị ở giai đoạn bệnh nặng,

đã có biến chứng [1]

Bảng 2: Tỷ lệ, mức độ và vị trí BDDTAC

ở BN xơ gan

Bệnh dạ dày

Mức độ BDDTAC

Vị trí tổn thương BDDTAC

73,3% BN xơ gan trong nghiên cứu có BDDTAC phát hiện trên nội soi, trong đó BDDTAC mức độ nhẹ 68,2% và BDDTAC mức độ nặng 31,8% Thực tế, đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới

về BDDTAC ở BN xơ gan, kết quả cho thấy tần suất BDDTAC dao động từ 4 - 98% (trung bình 53%), trong đó BDDTAC mức độ nhẹ chiếm đa số, dao động 20 - 57% (trung bình 49%), còn mức độ nặng chiếm tỷ lệ thấp hơn, từ 7 - 41% (trung bình 14%) [3] Sở dĩ, có khác biệt lớn về tần suất cũng như mức độ BDDTAC giữa các nghiên cứu là do không đồng nhất về nhóm đối tượng BN xơ gan được lựa chọn (khác biệt về mức độ suy gan, mức

Trang 4

độ tăng áp lực tĩnh mạch cửa, nguyên

nhân xơ gan ) cũng như chưa có sự

thống nhất giữa các nhà nghiên cứu trong

chẩn đoán và phân loại mức độ BDDTAC

trên nội soi [3, 4]

Vị trí BDDTAC hay gặp ở thân vị

(68,3%), sau đó đến phình vị (60,0%),

phù hợp với đặc điểm giải phẫu là tĩnh

mạch thân và phình vị dẫn lưu máu về

tĩnh mạch vị trái, sau đó đổ thẳng về tĩnh

mạch cửa, trong khi dẫn máu của vùng

hang môn vị là tĩnh mạch vị phải có kích

thước nhỏ, không đổ trực tiếp về tĩnh

mạch cửa Kết quả của chúng tôi phù hợp

với nghiên cứu của Trần Phạm Chí

(2014) [1], Iwao T và CS (1992) [4]

Bảng 3: Nồng độ PG I, II huyết tương

ở BN xơ gan

Giá trị trung bình (ng/ml)

95,8 ± 58,4

Giá trị trung bình (ng/ml) 15,6 ± 9,8

Nồng độ PG I và PG II huyết tương

trung bình ở BN xơ gan trong nghiên cứu

lần lượt là 95,8 ng/ml và 15,6 ng/ml, như

vậy vẫn nằm trong giới hạn bình thường

(PG I > 70 ng/ml và PG II > 7,5 ng/ml)

Giảm nồng độ PG I huyết tương < 70 ng/ml

gặp ở 36,7% BN, trong khi giảm nồng độ

PG II huyết tương < 7,5 ng/ml chỉ gặp ở

6 BN (10,0%) Kết quả này phù hợp với

nghiên cứu của Quintero E và CS (1987)

trên 29 BN xơ gan, tỷ lệ giảm nồng độ PG

I ở mức < 20 ng/ml là 26,7% [7] Nghiên

cứu của Mao H và CS (2014) cũng ghi

nhận kết quả tương tự ở nhóm 51 BN xơ

gan, nồng độ PG I giảm so với nhóm 22 người bình thường không xơ gan, trong khi không có sự thay đổi đáng kể nồng độ

PG II [6] Sở dĩ một số BN xơ gan có nồng độ PGI giảm < 70 ng/ml (36,7% BN)

là do xơ gan gây tổn thương niêm mạc dạ dày chính ở thân vị (68,3%) và phình vị (60,0%) (đây là nơi các tế bào chính và tế bào chế nhày bài tiết PG I), trong khi tổn thương ở hang vị rất ít gặp (chỉ 8,3%), nên số BN xơ gan giảm nồng độ PG II không nhiều (PG II chủ yếu được bài tiết

từ tế bào niêm mạc vùng hang vị và tuyến Brunner ở tá tràng…)

Bảng 4: Mối liên quan giữa nồng độ

PG I, II huyết tương với xuất hiện BDDTAC ở BN xơ gan

Không có BDDTAC (n = 16)

Có BDDTAC (n = 44)

p

PG I (ng/ml) 89,9 ± 58,9 101,0 ± 57,9 0,41

PG II (ng/ml) 14,9 ± 9,6 16,3 ± 10,2 0,55

Không có sự khác biệt về nồng độ PG I

và PG II huyết tương ở phân nhóm BN xơ gan không có và có BDDTAC trên nội soi,

p > 0,05

Bảng 5: Mối liên quan giữa nồng độ

PG I, II huyết tương với mức độ BDDTAC

ở BN xơ gan

BDDTAC nhẹ (n = 30)

BDDTAC nặng (n = 14)

p

PG I (ng/ml) 104,0 ± 58,9 94,5 ± 57,2 0,49

PG II (ng/ml) 16,8 ± 10,9 15,4 ± 8,9 0,86

Tương tự như kết quả về mối liên quan giữa nồng độ PG huyết tương với xuất hiện BDDTAC, chúng tôi không thấy

Trang 5

khác biệt có ý nghĩa giữa nồng độ PG

huyết tương theo mức độ nặng, nhẹ của

BDDTAC Kết quả này tương tự nghiên

cứu của Lin W.J và CS (1991) trên 100

BN xơ gan thấy BDDTAC tương đối hay

gặp (41%) và BDDTAC xuất hiện không

liên quan với nồng độ PG máu Nồng độ

PG I huyết tương ở nhóm BDDTAC

không khác biệt so với nồng độ ở nhóm

không có BDDTAC (69,5 ± 26,6 ng/ml so

với 65,2 ± 26,1 ng/ml, p > 0,05) [5] Tuy

nhiên, nghiên cứu của Mao H và CS

(2014) trên 51 BN xơ gan nhận thấy nồng

độ PG I huyết tương ở nhóm BN không

có BDDTAC là 74,85 ± 30,27 µg/l, cao

hơn có ý nghĩa so với nồng độ ở nhóm

xơ gan có BDDTAC (49,48 ± 23,86 µg/l),

p < 0,001 [6] Sự khác biệt giữa kết quả

các nghiên cứu cho thấy cần nghiên cứu

thêm với số lượng BN lớn hơn, sử dụng

máy móc kỹ thuật hiện đại hơn để xác

định chính xác mối tương quan giữa

BDDTAC và nồng độ PG huyết tương

Thực tế, cơ chế giảm PG huyết tương ở

BN xơ gan có lẽ không chỉ liên quan đến

BDDTAC mà còn liên quan đến tình trạng

viêm niêm mạc dạ dày mạn tính cũng như

tình trạng nhiễm H pylori [5, 7]

KẾT LUẬN

Nghiên cứu thay đổi nồng độ PG I, II

huyết tương và mối liên quan với

BDDTAC ở BN xơ gan, chúng tôi nhận

thấy:

- Nồng độ PG I, PG II huyết tương

trung bình ở BN xơ gan lần lượt là 95,8 ±

58,4 ng/ml và 15,6 ± 9,8 ng/ml

- 36,7% BN xơ gan có giảm nồng độ

PG I huyết tương

- Không có mối liên quan giữa nồng độ

PG huyết tương với sự xuất hiện cũng như mức độ BDDTAC ở BN xơ gan

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Phạm Chí Nghiên cứu hiệu quả

thắt giãn tĩnh mạch thực quản kết hợp propranolol trong dự phòng xuất huyết tái phát và tác động lên bệnh dạ dày tăng áp cửa

do xơ gan Luận án Tiến sỹ Y học Trường Đại học Y Dược Huế 2014

2 De Franchis R Updating consensus in

portal hypertension: Report of Baveno III Consensus workshop on definitions, methodology and therapeutic strategies in

portal hypertension Journal of Hepatology

2000, 33, pp.846-852

3 Eleftheriadis E Portal hypertensive

gastropathy Annals of Gastroenterology 2001,

14 (3), pp.196-204

4 Iwao T Portal hypertensive gastropathy

in patients with cirrhosis Gastroenterology

1992, 102 (6), pp.2060-2065

5 Lin W.J, Lee F, Lin H Snake skin pattern

gastropathy in cirrhotic patients J Gastroenterol Hepatol 1991, 6 (2), pp.145-149

6 Mao H, Li R Changes in serum

pepsinogen in patients with liver cirrhosis and portal hypertensive gastropathy Nan Fang Yi

Ke Da Xue Xue Bao 2014, 34 (1), pp.141-3

7 Quintero E, Pique J.M, Bombi J.A et al

Gastric mucosal vascular ectasias causing bleeding in cirrhosis A distinct entity associated with hypergastrinemia and low serum levels

of PG I Gastroenterology 1987, 93 (5),

pp.1054-1061

Ngày đăng: 22/01/2020, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w