1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá đặc tính tương đồng giữa giải phẫu thần kinh và trầm cảm sau đột quỵ nhồi máu não cấp

6 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 473,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về trầm cảm sau đột quỵ nhồi máu não, xác định tần suất trầm cảm sau đột quỵ, mối liên quan giữa trầm cảm sau đột quỵ nhồi máu não cấp và vị trí tổn thương. Kết quả cho thấy, những bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não, đặc biệt là dưới 45 tuổi nên đánh giá đầy đủ để phát hiện và điều trị sớm những triệu chứng trầm cảm nhằm cải thiện dự hậu sau đột quỵ.

Trang 1

THẦN KINH VÀ TRẦM CẢM SAU ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO CẤP 

Lê Văn Tuấn*, Lê Cao Thái** 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Trầm cảm là một trong những hậu quả quan trọng và thường gặp nhất sau đột quỵ nhồi máu não. 

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về trầm cảm sau đột quỵ được báo cáo, nhưng mối liên hệ giữa trầm cảm sau đột  quỵ nhồi máu não và vị trí tổn thương vẫn chưa được sáng tỏ  

Mục tiêu:   Xác định tần suất trầm cảm sau đột quỵ, mối liên quan giữa trầm cảm sau đột quỵ nhồi máu não  cấp và vị trí tổn thương.  

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, với 92 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não, nhập viện liên tiếp 

nhau, đươc đánh giá trầm cảm sau khởi phát đột quỵ 2 tuần dựa trên tiêu chuẩn DSM‐IV và thang điểm Beck. 

Vị trí san thương được phát hiện trên CT scan hoặc MRI. 

Kết quả: 34 bệnh nhân trầm cảm theo tiêu chuẩn DSM‐IV, trong đó có 21 bệnh nhân mức độ nhẹ (61,8%), 

8 bệnh nhân mức độ trung bình (23,5%), 5 bệnh nhân mức độ nặng (14,7%). Tất cả bệnh nhân dưới 45 tuổi đều 

bị trầm cảm. Không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa vị trí tổn thương não và trầm cảm sau đột quỵ 

nhồi máu não. 

Kết luận: Những bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não, đặc biệt là dưới 45 tuổi nên đánh giá đầy đủ để phát 

hiện và điều trị sớm những triệu chứng trầm cảm nhằm cải thiện dự hậu sau đột quỵ. 

Từ khóa: Trầm cảm‐ Đột quỵ thiếu máu não‐Vị trí tổn thương‐ Hình ảnh học thần kinh. 

ABSTRACT 

TO ASSESS SIMILAR CHARACTERISTICS BETWEEN NEUROANATOMICAl  

AND DEPRESSION AFTER ACUTE ISCHEMIC STROKE 

Le Van Tuan, Le Cao Thai * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 488 ‐ 493 

Background:  Poststroke  depression  is  one  of  the  most  frequent  and  important  consequences  of  stroke. 

Although many studies of depression after stroke have been reported, clinical association between the depression 

after ischemic stroke and the lesion location remains unclear. 

Objective:  The  purpose  of  the  present  study  is  to  determine  the  frequency  and  relative  between  the 

depression after ischemic stroke and the lesion location. 

Methods:  Base  on  a  cross‐sectional  research  design,  92  consecutive  patients  with  ischemic  stroke  were 

followed  up  to  determine  whether  depression  was  present  2  weeks  after  ischemic  stroke  onset.  Depressive  symptoms were assessed with DSM‐IV interview for depression and Beck Depression Scale. The lesion location 

was determined on magnetic resonance or computed tomography images. 

Results: Thirty‐four patients (37%) had depression on DSM‐IV, with 21 (61.8%) having minor depression, 

8 (23.5%) moderate depression, 5 (14.7%) severe depression. Depression occurs all in those with under 45 year  old. We found no significant differences in the relationship between the location of brain lesion and depression 

after ischemic stroke.  

Conclusion: Patients with ischemic stroke, particularly in under <45 year old, should be carefully evaluated 

for early detection and treatment of depressive symptoms, which may greatly influence outcome. 

Keywords: Depressive ‐Ischemic stroke‐Lesion location‐ Neuroimaging. 

* Bộ môn Thần Kinh, ĐH Y Dược TP.HCM ** Bệnh viện Bà Rịa

Trang 2

Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong đứng 

hàng  thứ  ba  sau  các  bệnh  lý  tim  mạch  và  ung 

thư, đồng thời cũng là nguyên nhân gây khuyết 

tật  hàng  đầu  trên  toàn  thế  giới.  Trong  thập  kỷ 

qua có nhiều thành tựu của y học đã được kiểm 

chứng, nhiều phương thức điều trị mới đối với 

đột  quỵ.  Bên  cạnh  đó,  những  kỹ  thuật  mới  về 

hình  ảnh  học  là  một  bước  đột  phá  mạnh  mẽ 

giúp việc chẩn đoán sớm, cũng như để đánh giá, 

theo  dõi  điều  trị  và  ngừa  các  biến  chứng,  làm 

tăng  tỉ  lệ  sống  còn  cho  bệnh  nhân  bị  đột  quỵ, 

đây là một bước tiến mang lại lợi ít thực sự cho 

người  bệnh.  Tuy  vậy,  đến  nay  đột  quỵ  vẫn  là 

nguyên nhân gây khuyết tật hàng đầu trên toàn 

thế giới. Mặc dù đây là bệnh lý của não, nhưng 

có  thể  ảnh  hưởng  đến  toàn  bộ  cơ  thể,  gây  tàn 

phế về mặc chức năng vận động, cảm giác, cũng 

như những hậu quả về sức khỏe tâm thần, trong 

đó  trầm  cảm  là  phổ  biến,  thường  xảy  ra  trong 

vòng  vài  tháng  đầu  sau  khi  bị  đột  quỵ(5).  Một 

trong  những  công  trình  nghiên  cứu  đầu  tiên 

trước  đây  gợi  ý  rằng  trầm  cảm  sau  đột  quỵ  có 

thể đi kèm với một vị trí đặc biệt và liên quan tới 

một  rối  loạn  khu  trú  đường  dẫn  truyền  thần 

kinh  của  các  amin  sinh  học(14).  Tuy  nhiên  qua 

hơn  ba  thập  niên,  nguyên  nhân  của  trầm  cảm 

sau  đột  quỵ  vẫn  chưa  được  làm  sáng  tỏ,  giả 

thuyết có thể do đa yếu tố hay không, đến nay 

vẫn chưa thống nhất. Về những yếu tố nguy cơ 

cũng như sự tương quan giữa vị trí tổn thương 

và trầm cảm sau đột quỵ nhồi máu não cấp vẫn 

chưa được đồng thuận(10). Xuất phát từ thực tiển 

đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá đặc 

tính  tương  đồng  giữa  giải  phẫu  thần  kinh  và 

trầm cảm sau đột quỵ nhồi máu não cấp. Với các 

mục tiêu cụ thể sau: Khảo sát tần suất trầm cảm 

và  sự  liên  quan  giữa  trầm  cảm  với  các  yếu  tố 

dân  số  học,  hình  ảnh  học  thần  kinh  trên  bệnh 

nhân đột quỵ nhồi máu não cấp. 

ĐỐI TƯỢNG‐PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Dân số chọn mẫu 

Chọn  mẫu  không  xác  xuất,  được  chọn  liên 

tiếp  tất  cả  bệnh  nhân  bị  đột  quỵ  nhồi  máu  não 

cấp lần đầu nhập viện, được điều trị nội trú tại 

khoa  nội  tổng  hợp‐  Bệnh  viện  Bà  Rịa,  Tỉnh  Bà  Rịa‐Vũng Tàu. Từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 

04 năm 2013. 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

>18 tuổi, nhập viện trong vòng 3 ngày sau  khởi phát đột quỵ nhồi máu não lần đầu. Chẩn  đoán lâm sàng đột quỵ theo tiêu chuẩn WHO. 

Có hình ảnh tổn thương nhồi máu não trên kết  quả  cộng  hưởng  từ  hoặc  chụp  cắt  lớp  vi  tính  não và chỉ có một tổn thương duy nhất. Bệnh  nhân  có  thể  hợp  tác  thực  hiện  đánh  giá  trầm  cảm ở thời điểm 2 tuần sau đột quỵ.Tiêu chuẩn  loại trừ: suy giảm ý thức hoặc sa sút trí tuệ, có  bệnh  cơ  thể  nặng  khác  kèm  theo,  có  tiền  căn  trầm cảm.  

Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu mô tả cắt ngang. 

Cở mẫu 

Thiết  kế  nghiên  cứu  với  hy  vọng  độ  nhạy  80% và độ tin cậy thống kê đạt 95% (α = 0,05), 2  chỉ số này dao động khoảng 5%. Theo ước lượng  tần  suất  trầm  cảm  sau  đột  quỵ  NMN  khoảng  20%,  cở  mẫu  cần  thiết  để  ước  tính  độ  đặc  hiệu  nghiên  cứu  là  91.  Số  liệu  được  thu  thập  qua  bảng thu thập số liệu chi tiết phù hợp với  mục  tiêu  nghiên  cứu:  khai  thác  bệnh  sử,  khám  lâm  sàng  và  hình  ảnh  học  trong  vòng  3  ngày  sau  khởi  phát  NMN,  tiến  hành  đánh  giá  trầm  cảm 

sau 2 tuần nằm viện.  

Các bước tiến hành 

Bệnh nhân nhập khoa Nội‐Bệnh viện Bà Rịa  với chẩn đoán NMN cấp theo định nghĩa WHO,  đáp ứng các tiêu chẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn  loại  trừ  được  đưa  vào  mẫu  nghiên  cứu.  Bệnh  nhân  được  khám  tổng  quát,  khám  thần  kinh,  thực hiện các xét nghiệm LS và chụp MRI hoặc 

CT  để  xác  định  tổn  thương  trong  48  giờ  sau  nhập  viện.  Sau  02  tuần  bệnh  nhân  được  đánh  giá  trầm  cảm  theo  DSM‐IV,  đánh  giá  mức  độ  trầm cảm bằng thang Beck rút gọn, dùng thang  điểm Rankin sửa đổi đánh giá chức năng. 

Các  số  liệu  thu  thập  được  xử  lý  trên  phần  mềm  thống  kê  SPSS  phiên  bản  16.0.  Khởi  đầu 

Trang 3

được được mô tả bằng giá trị trung bình và độ 

lệch chuẩn, được so sánh bằng phép kiểm χ2, các 

biến định tính được  mô  tả  bằng  tần  số  và  tỷ  lệ 

phần  trăm,  được  so  sánh  bằng  kiểm  định  t‐

student  độc  lập.  Tiếp  theo  tiến  hành  phân  tích 

đơn biến để đánh giá độ mạnh của mối liên hệ 

giữa các yếu tố liên quan với trầm cảm sau nhồi 

máu não. Sau đó chúng tôi thực hiện phân tích 

hồi quy đa biến logistic, các biến có mức ý nghĩa 

p <0,05 được đưa vào phân tích hồi quy đa biến 

logistic  tìm  ra  các  biến  có  giá  trị  tiên  đoán  độc 

lập với trầm cảm sau NMN cấp, loại trừ các biến 

gây nhiễu nhằm xác định mối liên hệ giửa vị trí 

tổn thương và trầm cảm sau NMN cấp để đánh 

giá đặc tính tương đồng này.  

KẾT QUẢ  

Mẫu khảo sát có 34 bị trầm cảm trên 92 bệnh 

nhân, chiếm tỷ lệ 37% vào thời điểm 2 tuần sau 

khởi  phát  đột  quỵ  nhồi  máu  não  cấp.  Số  bệnh 

nhân  trầm  cảm  nam  và  nữ  bằng  nhau  là  17 

trường  hợp,  trong  đó  trầm  cảm  mức  độ  nhẹ 

chiếm 61,8%, trung bình chiếm 23,5% và mức độ 

nặng  là  14,7%.  Bệnh  nhân  trầm  cảm  sau  nhồi 

máu não ở các nhóm tuổi <45 tuổi chiếm 14,7%, 

nhóm  từ  45‐54  chiếm  26,5%,  nhóm  từ  55‐64 

chiếm  32,4%,  và  nhóm  ≥65  tuổi  chiếm  26,5%. 

Tuổi trung bình là 56,03 ± 11,39. Tỷ lệ bệnh nhân 

bị  trầm  cảm  sống  ở  nông  thôn  là  44,1%  và  ở 

thành  thị  là  55,9%,  đa  số  có  mức  sống  không 

thấp, chiếm 97,1% và học vấn không thấp chiếm 

85,3%.  Các  yếu  tố  tiền  căn  như  tăng  huyết  áp 

chiếm 64,7%, đái tháo đường chiếm 17,6% và rối 

loạn  Lipid  máu  chiếm  29,4%  ở  các  bệnh  nhân. 

Xác  định  được  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống 

kê giữa trầm cảm sau đột quỵ nhồi máu não cấp 

với các yếu tố như: trình độ học vấn trên cấp II, 

có tiền căn tăng huyết áp và rối loạn Lipid máu 

thì có tỷ lệ trầm cảm sau nhồi máu não cao hơn. 

Đặc biệt độ tuổi là yếu tố quan trọng có ý nghĩa 

dự đoán độc lập với trầm cảm sau đột quỵ nhồi 

máu não cấp, với bệnh nhân tuổi càng nhỏ thì tỷ 

lệ  trầm  cảm  càng  tăng,  nhất  là  tuổi  dưới  45  thì 

tất  cả  các  trường  hợp  đều  trầm  cảm.  Kết  quả 

hình ảnh học thần kinh trên các bệnh nhân trầm  cảm  ghi  nhận  tổn  thương  bán  cầu  trái  có  16  trường  hợp  (47%),  bán  cầu  phải  có  11  trường  hợp  (32,3%),  vùng  hạch  nền‐bao  trong  có  5  trường  hợp  (14,7%),  đồi  thị  có  3  trường  hợp  (8,8%), vùng dưới vỏ và hố sau cùng có 4 trường 

hợp (11,8%) bị trầm cảm. 

Bảng 1: Liên quan giữa trầm cảm và yếu tố dân số học: 

Dân số học Trầm cảm (n=34) Không trầm cảm (n=58) p

Tuổi

<0,001

45 - 54 9 (26,5%) 5 (8,6%)

55 - 64 11 (32,4%) 5 (8,6%)

>65 9 (26,5%) 48 (82,8%)

Không thấp 33 (97,1%) 53 (91,4%) Nơi sống Thành thị 19 (55,9%) 26 (44,8) 0,306

Nông thôn 15 (44,1% 32 (55,2%) Học vấn Hết cấp II 29 (85,3%) 28 (48,3%) <0,001

Dưới cấp II 5 (14,7%) 30 (51,7%)

Bảng 2: Liên quan giữa trầm cảm và vị trí tổn thương 

Vị trí tổn thương

Trầm cảm (n=34) Không trầm cảm (n=58) Bên trái

(n=21)

Bên phải (n=13)

Bên trái (n=32)

Bên phải (n=26)

Thùy trán 3 (14,3%) 1(7,7%) 11 (34,4%) 4 (15,4%) Thùy đỉnh 4 (19,0%) 1 (7,7%) 4 (12,5%) 3 (11,5%)

Thùy thái dương 4 (19,0%) 4 (30,8%) 9 (28,1%) 11 (42,3%) Vùng dưới vỏ 2 (9,5%) 3 (23,1%) 2 (6,3%) 4 (15,4%) Hạch nền-bao

trong 3 (14,3%) 2 (15,4%) 3 (9,4%) 0

Thân não 1 (4,8%) 1 (7,7%) 1 (3,1%) 0 Tiểu não 1 (4,8%) 1 (7,7%) 0 3 (11,5%)

p 0,712 0,087

Nhóm  BN  trầm  cảm  sau  NMN  thùy  thái  dương  trái  và  phải  là  4  BN,  tổn  thương  NMN  vùng  đồi  thị  trái  và  thùy  chẩm  02  bên  không  phát hiện bệnh nhân bị trầm cảm. Không có mối  liên quan có ý nghĩa thống kê giửa các vị trí tổn  thương  và  trầm  cảm  sau  NMN  (p>0,05).Chưa  tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa  trầm cảm với NMN vị trí bán cầu não cũng như  với tổn thương mạch dưới vỏ‐ trán trước và quai 

Trang 4

biến độc lập trong mối liên hệ với các biến phụ 

thuộc, chúng tôi đã tìm ra những biến mà sự liên 

hệ có ý nghĩa thống kê với trầm cảm sau NMN. 

Các biến trên gồm: nhóm tuổi, trình độ học vấn, 

tiền sử THA và tiền sử rối loạn Lipid máu.  

Bảng 3: Các biến liên quan có ý nghĩa thống kê với 

trầm cảm sau NMN 

Các biến độc lập Tỉ số chênh OR Khoảng tin cậy 95% Mức ý nghĩa

Tuổi

≥65 tuổi 0,08 0,02 – 0,31 <0,001

Trình độ học vấn 6,21 2,11 – 18,30 <0,001

Tc RL Lipid máu 3,04 1,03 – 8,95 0,039

Tất cả 4 biến này được đưa vào phân tích hồi 

quy đa biến logistic để tìm ra những biến thực có 

giá trị độc lập tiên đoán trầm cảm sau NMN. 

Phân tích hồi quy đa biến  

Bảng 4: Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến 

tìm tương quan các yếu tố và trầm cảm sau NMN.  

Biến Mức ý nghĩa

Tỉ số chênh

OR

Khoảng tin cậy 95%

Dưới Trên

Rối loạn lipid máu 0,327 2,05 0,49 8,65

Phân  tích  hồi  quy  đa  biến  được  thực  hiện 

trên  những  biến  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa 

thống kê trên phân tích đơn biến. Theo kết quả 

bảng 4, sau khi hiệu đỉnh 4 yếu tố trên, chỉ còn 

1 yếu tố được giử lại trong mô hình cuối cùng 

này,  đó  là  nhóm  tuổi  bệnh  nhân  bị  đột  quỵ 

NMN. Như vậy,  yếu  tố  nhóm  tuổi  có  ý  nghĩa 

dự đoán độc lập đưa đến phát triển trầm cảm 

trên  bệnh  nhân  đột  quỵ  NMN  cấp  với  OR= 

8,58 (KTC 95%: 3,03 – 24,26; p=0,007).  

BÀN LUẬN   Tần suất trầm cảm  

Nghiên  cứu  của  William  AL,  theo  dõi  trong  6  tháng  nhận  thấy  có  tới  1/3  số  bệnh  nhân  bị  trầm  cảm  sau  NMN  nhưng  trong  tháng đầu tiên chỉ chiếm 19,3%(17). Kết quả của  chúng  tôi  thấp  hơn  nhiều  so  với  kết  quả  nghiên  cứu  của  tác  giả  Lara  Caeiro  và  CS  (2006)  ở  những  bệnh  nhân  NMN  giai  đoạn  cấp.  Theo  các  tác  giả  này  có  tới  49%  số  bệnh  nhân  bị  trầm  cảm  sau  NMN  giai  đoạn  cấp(2).  Trong  những  nghiên  cứu  trước  đây,  Nghiên  cứu  của  Nishiyama  và  cs  (2010)  cho  kết  quả  cũng  gần  tương  tự,  tỷ  lệ  trầm  cảm  một  tháng  sau  đột  quỵ  ở  134  bệnh  nhân  nhóm  này  là  34,3%(11).  Theo  Jessica  LJ  (2006)  thì  tỷ  lệ  trầm  cảm sau NMN dao động từ 5%‐ 60%, tùy theo  tiêu  chuẩn  chọn  lựa  mẫu  nghiên  cứu  như:  bệnh  nhân  sau  NMN  đang  sống  ở  cộng  đồng  hoặc  đang  điều  trị  tại  cơ  sở  phục  hồi  chức  năng  hoặc  đang  nằm  viện,  cách  đánh  giá  và  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  cũng  như  là  thời  điểm  đánh  giá  sau  NMN(7).  Kết  quả  của  chúng  tôi  thấp hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của  tác giả Lara Caeiro và CS (2006) ở những bệnh  nhân NMN giai đoạn cấp. Theo các tác giả này 

có tới 49% số bệnh nhân bị trầm cảm sau NMN  giai đoạn cấp(2).  

Những yếu tố liên quan với trầm cảm sau  đột quỵ nhồi máu não cấp 

Yếu tố dân số học  

‐ Bệnh nhân trầm cảm sau NMN trong mẫu  nghiên cứu chúng tôi có tuổi trung bình là 56,03 

± 11,39 tuổi, sự khác biệt giữa các nhóm tuổi và  trầm cảm có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kết quả  này phù hợp so với y văn có tuổi trung bình là 

58  ±  14  tuổi,  gần  tương  đương  với  tác  giả  Nguyễn Thanh Long là 57± 8,4 tuổi, trong đó số  bệnh  nhân  trầm  cảm  này  nhiều  nhất  ở  nhóm  tuổi từ 55‐ 64 tuổi là 20 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ  58,9%) so với 74,7% của cùng tác giả này thì có  trị số thấp hơn(9). Điều khác biệt khá thú vị trong  mẫu  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  sự  khác  biệt 

Trang 5

(p<0,001), nhóm tuổi càng nhỏ thì tỷ lệ trầm cảm 

càng tăng. Kết quả của Carota và cs (2005) cũng 

tương tự là tuổi nhỏ hơn thì liên quan có ý nghĩa 

với sự tăng nguy cơ trầm cảm(3). 

‐  Về  sự  khác  biệt  liên  quan  đến  giới  tính, 

thấy một điều khá trùng hợp là mẫu nghiên cứu 

của chúng tôi tỷ lệ trầm cảm ở nhóm người bệnh 

nhân NMN nam giới bằng với tỷ lệ trầm cảm ở 

nhóm  bệnh  nhân  NMN  là  nữ  giới  (cùng  chiếm 

18,5%),  mối  liên  quan  này  không  có  ý  nghĩa 

thống  kê  (p>0,05).  Theo  Brittany  Poynter  và  CS 

(2009), tổng kết từ 35 nghiên cứu khác nhau về 

trầm cảm sau NMN và giới tính các tác giả đều 

nhận  thấy  tỷ  lệ  trầm  cảm  gặp  nhiều  hơn  ở  nữ 

giới(1,12).  Nghiên  cứu  trong  nước  gần  đây 

Nguyễn  Thành  Long  (2011)  cho  thấy  không 

chênh lệch đáng kể, tỷ lệ trầm cảm ở nữ sau đột 

quỵ  là  52,8%  nhiều  hơn  nam  giới  là  47,2%,  sự 

khác biệt không có ý nghĩa thống kê(9).  

‐Theo Nguyễn Thành Long nghiên cứu trên 

110 bệnh nhân sau đột quỵ 14 ngày, báo cáo tần 

suất trầm cảm theo tiêu chuẩn DSM‐IV là 32,7%, 

trong  đó  có  30,5%  là  trầm  cảm  nhẹ,  69,5%  là 

trầm cảm vừa và không có trường hợp có mức 

trầm  cảm  nặng(9).  Theo  Liang‐Po  Hsieh  và  cs 

(2005) báo cáo sau nghiên cứu 207 bệnh nhân bị 

đột quỵ NMN lần đầu, CT hoặc MRI được thực 

hiện trong giai đoạn cấp, có tần suất trầm cảm là 

34,3%,  trong  đó  trầm  cảm  nặng  chiếm  23,5%, 

trầm  cảm  trung  bình  45,1%(9).  Theo  kết  quả 

nghiên cứu của chúng tôi thì tổn thương NMN 

bên trái chiếm tỷ lệ cao hơn bên phải (57,6% so 

với  42,4%),  nhưng  không  có  mối  liên  quan  với 

trầm cảm.  

Vị trí tổn thương    

Báo cáo gần đây cho thấy các yếu tố nguy cơ 

tâm lý xã hội bao gồm tuổi, giới tính, suy giảm 

chức  năng  hoặc  tiền  sử  rối  loạn  tâm  thần  góp 

phần lớn vào sự tiến triển của trầm cảm hơn là 

vị  trí  tổn  thương(3,11) Qua  ba  thập  kỷ  vẫn  chưa 

đạt  được  sự  đồng  thuận  về  tương  quan  giải 

phẫu thần kinh của PSD, dù một số ý kiến cho là 

vị trí NMN ở thùy trán hoặc tại hạch nền có thể 

tạo  ra  nguy  cơ  cao  nhất(6,13).  Gần  đây  tác  giả  Dương Minh Tâm(3)  cũng  cho  kết  quả  tương  tự  nghiên  cứu  chúng  tôi  là  không  thấy  mối  liên  quan giữa PSD và tổn thương bán cầu não. Tang 

và  cs  (2010)(19)  chứng  minh  rằng  những  ổ  nhồi  máu  lỗ  khuyết  trong  hạch  nền,  đồi  thị  và  chất  trắng sâu liên quan đến trầm cảm. Theo kết quả  của chúng tôi thì tổn thương bên trái chiếm tỷ lệ  cao  hơn  bên  phải  (57,6%  so  với  42,4%),  nhưng  không  có  mối  liên  quan  với  trầm  cảm.  Theo  Zanetti và cs (2009), hai quai, mạch đóng vai trò  quan  trọng  trong  sự  hình  thành  cảm  xúc,  nhận  thức và kiểm soát hành vi(18), cũng đã được khảo  sát trong nhiều nghiên cứu về bệnh lý trầm cảm  chủ yếu và trầm cảm sau đột quỵ. Vataja  và  cs  báo  cáo  rằng  các  tổn  thương  ảnh  hưởng  đến  mạch  dưới  vỏ‐trán  trước  bên  trái  có  liên  quan  chặt chẽ với sự phát triển trầm cảm sau đột quỵ  NMN cấp(17). 

Theo  Tongzang  báo  cáo  rằng  NMN  vị  trí  cánh tay sau, gối bao trong và khu vực dưới vỏ‐ thái  dương  là  những  yếu  tố  tiên  lượng  độc  lập  đối  với  PSD,  những  phát  hiện  này  hỗ  trợ  quan  điểm cho rằng tổn thương tại một số vị trí nhất  định  trong  hệ  thần  kinh  trung  ương  làm  tăng  nguy  cơ  đối  với  PSD(19).  Nhưng  kết  quả  nghiên  cứu của chúng tôi hoàn toàn trái ngược là không  tìm ra mối liên quan giửa tổn thương của 2 quai,  mạch thần kinh và trầm cảm sau nhồi máu não. 

KẾT LUẬN 

Chưa thấy mối liên hệ giữa trầm cảm và vị trí  tổn  thương  nhồi  máu  não  cấp.  Các  kết  luận  sinh  bệnh học trầm cảm sau nhồi máu não còn chưa rõ  ràng. Qua kết quả nghiên cứu không thấy đặc tính  tương đồng giữa giải phẫu thần kinh và trầm cảm  sau đột quỵ nhồi máu não cấp.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO  

1 Bùi Quang Huy (2008). Trầm cảm. Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. 

2 Caeiro L, Ferro JM, Santos CO, Figueira ML (2006). “Depression 

in  acute  stroke”,  Journal  of  Psychiatry  &  Neuroscience  :  JPN.  Ottawa, Vol. 31, Iss. 6, pp. 377‐384. 

3 Carota  A,  Berney  A,  Aybek  S,  et  al  (2005).  “A  prospective  study of predictors of post‐stroke depression”, Neurology, 64, 

pp.428‐433. 

4 Dương  Minh  Tâm  (2011).  “Đặc  điểm  lâm  sàng  của  trầm  cảm  sau nhồi máu não”. Tạp chí Y Học Thực Hành, Số 9 (783): 50‐53 

Trang 6

5 Hackett  ML,  Yapa  C,  Parag  V,  et  al  (2005).  “  Frequency  of 

depression  after  stroke:  a  systematic  review  of  observational 

studies”, Stroke, 36, pp. 1330‐40.  

6 Herrmann  M,  Bartels  C  (1995).  “Poststroke  depression:  Is  the 

pathoanalomic correlate for depression in the postacute stage of 

stroke?” Stroke, 26, pp.850‐856. 

7 Johnson  JL, Minarik  PA, Nyström  KV, Bautista  C, Gorman  MJ 

(2006).  “Poststroke  Depression  Incidence  and  Risk  Factors:  An 

Integrative  Literature  Review”,  Journal  of  Neuroscience 

Nursing. Park Ridge, Vol 38, Iss. 4, pp. 316‐328. 

8 Liang‐Po  et  al,  (2005).  “Depression  Symptoms  Follwing 

Ischemic  Stroke:  A  Study  of  207  Patients”,  Acta Neurol Taiwan, 

14,pp. 187‐190. 

9 Nguyễn Thành Long (2011). “Khảo sát tỷ lệ và các yếu tố liên 

quan  đến  trầm  cảm  sau  tai  biến  mạch  máu  não”.  Luận  án 

Chuyên khoa II, đã bảo vệ. Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh. 

10 Niloufar H, Diane J, Ruth L (2009). “Poststroke depression and 

functional outcome: a critical review of literature”, Heart Lung, 

38, pp. 151–162. 

11 Nishiyama  Y,  Komaba  Y,  Ueda  M,  et  al  (2010).  “Early 

depressive symptoms after ischemic stroke are associated with 

a left lenticulocapsular area lesion”, J Stroke Cerebrovasc Dis, 19, 

pp. 184‐189. 

12 Poynter  B, Shuman  M, Diaz‐Granados  N, Kapral  M, Grace 

SL, Stewart  DE  (2009).  “Sex  Differences  in  the  Prevalence  of 

Psychosomatics, Washington, Vol: 50, Iss: 6, pp.563‐567.  

13 Robinson  RG,  Kubos  KL,  Starr  LB,  et  ap  (1984).  “Mood 

disorders  in  stroke  patients.  Importance  of  location  of  lesion”, 

Brain, 107, pp. 81–93. 

14 Schubert  DS,  Taylor  C,  Lee  S,  et  al  (1992).  “Detection  of 

depression  in  the  stroke  patient”,  Psychosomatics,  33,  pp.  290‐

294. 

15 Tang WK, Lu JY, Chen YK, et al (2011). “Association of frontal  subcortical circuits infarcts in poststroke depression: a magnetic  resonance imaging study of 591 Chinese patients with ischemic 

stroke”, Ungvari GS, China. 

16 Vataja R, et al (2001). “Magnetic resonance imaging correlates of  depression  after  ischemic  stroke”,  Arch. Gen. Psychiatry, 58,pp. 

925–931. 

17 William  Alwyn  Lishman  (1987),  “Cerebrovascular  Disorders”. 

Organic  psychiatry.  The  psychological  Consequences  of  cerebral  Disorders–2nd,  Blackwell  Scientific  Publications  Oxford  London  Edinburgh, pp: 319 –369. 

18 Zanetti  MV,  Jackowski  MP,  Versace  A,  et  al  (2009).  “State‐ dependent  microstructural  white  matter  changes  in  bipolar  I 

depression”, Eur. Arch. Psychiatry Clin. Neurosci, 259 (6),pp. 316–

328. 

19 Zhang  T, Jing  X, Zhao  X, Wang  C, Liu  Z, Zhou  Y, Wang 

Y, Wang  Y  (2012).  “A  prospective  cohort  study  of  lesion  location  and  its  relation  to  post‐stroke  depression  among  Chinese patients”, Journal of Affective Disorders, 136,pp. 83–87.  

Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 30/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 11:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w