1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo 3 trường hợp bệnh nhi có hội chứng wiskott aldrich tại Bệnh viện Nhi Đồng 1

8 74 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 428,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết với mục tiêu nghiên cứu về đặc điểm chẩn đoán hội chứng wiskott aldrich ở trẻ em. Đồng thời báo cáo 3 trường hợp bệnh nhi có hội chứng wiskott aldrich tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

WISKOTT ALDRICH TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 

Đỗ Hoàng Cúc*, Tăng Kim Hồng*, Nguyễn Minh Tuấn** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu nghiên cứu: Đặc điểm chẩn đoán hội chứng Wiskott Aldrich ở trẻ em. 

Thiết kế nghiên cứu: báo cáo case – report 

Kết quả nghiên cứu: Ba trường hợp chẩn đoán có hội chứng Wiskott Aldrich (WAS) ở trẻ em. Cả 3 trường 

hợp đều là nam, sanh thường, đủ tháng, xuất hiện tiêu phân máu sớm trong độ tuổi sơ sinh, được chẩn đoán ban  đầu là nhiễm trùng tiêu hóa. Cả 3 tiền sử gia đình đều hướng đến bệnh lý liên quan đến nhiễm sắc thể X. Xét  nghiệm: có 2 trường hợp số lượng bạch cầu ái toan tăng (1330 con/mm 3  và 1980 con/ mm 3 ), số lượng tiểu cầu  thấp (13000/mm 3  đến 74000/mm 3 ), MPV trung bình (5–7 fl), 1 ca test coombs trực tiếp dương tính yếu, antids‐  DNA dương tính trong 2 ca. Định lượng kháng thể có Ig G, Ig A bình thường, Ig M thấp, riêng 2 ca có Ig E  tăng cao (>3000 IU/l, 2531,7 IU/l). Điều trị truyền Gamma‐globulin, điều trị kháng sinh trong đợt nhiễm trùng 

và kháng sinh dự phòng. Cả 3 đều được làm PCR và xác định có đột biến gen WAS. Cả 3 trường hợp đều có  điều trị corticoid vì rối loạn miễn dịch hay chẩn đoán nhầm xuất huyết giảm tiểu cầu.  

Kết luận: cần lưu ý phát hiện hội chứng Wiskott Aldrich khi là trẻ nam, tiêu máu sớm, kéo dài, chàm da, 

xuất huyết, nhiễm trùng tái phát, giảm tiểu cầu với thể tích nhỏ, định lượng kháng thể có IgM thấp, kèm tiền sử  gia đình nghĩ đến bệnh lí liên quan nhiễm sắc thể X. 

Từ khóa: Wiskott Aldrich. 

ABSTRACT  

WISKOTT ALDRICH SYNDROME IN CHILDREN: A CASE REPORT. 

Do Hoang Cuc, Tang Kim Hong, Nguyen Minh Tuan 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 97 ‐ 103 

Objective: describe characteristics of Wiskott Aldrich syndrome in children. 

Design: case‐ report 

Results: 3 cases of Wiskott Aldrich syndrome in children. All of them are male, full‐term, normal delivery 

and  normal  birth  weight,  bloody  diarrhea  in  neonatal  age,  diagnostic  with  gastroenteritis.  Family  history  of  3  cases  is  related  to  an  X‐  linked  disorder.  Suggestive  diagnostic  tests:  2  of  3  cases  had  an  elevated  eosinophile  (1330/mm3 and 1980/ mm3, low platelet count (from 13000/mm3 to 74000/mm3). MPV mean 5‐7fl, 1 case had  direct Coombs test positive and 2 cases had anti‐dsDNA positive. Immunological (deficiency of IgM, normal IgG,  IgA,  elevated  IgE  (>3000IU/l,  2531,  7IU/l).  Treatment:  intravenous  Immunoglobulins  (IVIG),  antibiotics  according  to  infection,  prophylactic  antibiotics.  All  of  3  cases  had  a  PCR  confirmation  of  a  causative  WAS  mutation. 3 cases had been treated with corticoide due to autoimmune disorders and misdiagnosis with ITP at  first.  

Conclusion: We should diagnose WAS with male newborn, early and prolonged bloody diarrhrea, eczema, 

petechie or bruising, recurrent infections, low platelet count, small size platelet, decline level of IgM and their  family history suggested a hereditary disease related to X‐linked. 

Trang 2

 

Hình 1: Bệnh sinh WAS  (8)  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Hội chứng Wiskott Aldrich (WAS) được mô 

tả lần đầu năm 1936, xuất hiện với tỉ lệ 4/1000000 

trẻ sinh ra(2) . WAS là bệnh hiếm do rối loạn di 

truyền  theo  gen  lặn  liên  kết  với  nhiễm  sắc  thể 

giới tính X (X‐linked disorder), đột biến trên gen 

WAS  là  gien  mã  hóa  intracytoplasmic  protein 

WAS. Protein WAS có vai trò trong tế bào máu 

đầu  dòng  và  liên  quan  đến  tái  tổ  hợp  actin 

cytoskeleton  và  thành  lập  synase  miễn  dịch. 

(Hình  1).  Thiếu  hụt  protein  WAS  gây  ra  khiếm 

khuyết hoạt hóa tế bào T‐ giảm sản xuất kháng 

thể  và  đặc  biệt  đối  với  kháng  nguyên 

polysaccharide,  giảm  chức  năng  tế  bào  giết  tự 

nhiên  NK,  hạn  chế  di  chuyển  đại  thực  bào  và 

khiếm  khuyết  trong  trình  diện  kháng 

nguyên(12,4,9).  

Chúng  tôi  nghiên  cứu  đề  tài  này  vì  đứng 

trước nhu cầu cần chẩn đoán xác định sớm trên 

lâm  sàng  để  điều  trị  bệnh  nhân  hiếm  WAS  và 

chưa thể thực hiện xác định đột biến gien WAS 

rộng rãi.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Mô  tả  đặc  điểm  chẩn  đoán  hội  chứng 

Wiskott Aldrich ở trẻ em. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Trẻ dưới 15 tuổi nhập viện Nhi đồng 1. 

Phương pháp nghiên cứu 

Case  ‐  report  báo  cáo  3  ca  bệnh  nhi  có  Hội  chứng Wiskott Aldrich tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 

từ 03/2012 đến tháng 03/2013. 

Tiêu  chuẩn  chọn  bệnh  nhi  có  Hội  chứng  Wiskott Aldrich: (tiêu chuẩn chẩn đoán hội  chứng  Wiskott  Aldrich,  chưa  có  xét  nghiệm về gien)(13,12,15) 

Giới: nam  

Có tiền sử gia đình gợi ý bệnh liên quan NST 

X (họ mẹ). 

Tiêu  phân  có  máu  kéo  dài,  xuất  hiện  sớm  thường tuổi sơ sinh.  

Xuất  huyết  thì  đa  dạng  từ  xuất  huyết  da  dạng  chấm,  ban  xuất  huyết  cho  đến  chảy  máu  đường tiêu hóa và xuất huyết não. 

Chàm da.  

Nhiễm  trùng  thông  thường,  tái  đi  tái  lại:  viêm tai, viêm phổi, viêm mô tế bào, viêm màng  não, nhiễm trùng huyết…  

Công thức máu: giảm số lượng tiểu cầu với  tiểu cầu kích thước rất nhỏ, thể tích trung  bình  của tiểu cầu là 4‐5fl.  

Định lượng kháng thể: Ig M thấp  

Trang 3

Trường hợp 1 

Bệnh  nhi  nam  M.  Th.  Th.,  1  tháng  20  ngày 

tuổi,  địa  chỉ  ở  Đức  Hòa  –  Long  An,  nhập  viện 

ngày 01/09/2012. Số Hồ Sơ 352869/12.  

Lí do nhập viện 

Tiêu máu 3 ngày 

Bệnh sử 

Bé  bắt  đầu  tiêu  phân  nhầy  máu  từ  20  ngày 

tuổiÆ điều trị với chuẩn đoán: Nhiễm trùng tiêu 

hóa/Xuất huyết giảm tiểu cầu cấp, được điều trị 

không  rõ.Tiếp  tục  tiêu  máuÆ  ba  mẹ  tự  đến 

khám và nhập viện Bệnh viện Nhi đồng 1. 

Tiền sử cá nhân 

Con  1/2,  sanh  thường,  đủ  tháng  tại  Bệnh 

viện Từ Dũ, cân nặng lúc sanh 2,9 kg. Sau sanh 3 

ngày xuất viện.  

Tiền sử gia đình 

Ba, mẹ: làm công nhân 

Anh  ruột  bị  giảm  tiểu  cầu,  tử  vong  lúc  17 

tháng tuổi.  

Triệu chứng lâm sàng 

Tình  trạng  lúc  nhập  viện:  Tỉnh,  không  sốt, 

môi  hồng,  chi  ấm,  mạch  quay  rõ,  thở  đều  êm, 

tim đều rõ 120 lần/phút, phổi trong, bụng mềm, 

gan,  lách  không  sờ  chạm,  thóp  phẳng,  xuất 

huyết  da  rải  rác,  không  xuất  huyết  vòm  họng, 

chàm da rải rác. Cân nặng lúc  nhập  viện:  5  kg. 

Chẩn  đoán  lúc  nhập  viện  là  Viêm  ruột/  Xuất 

huyết  giảm  tiểu  cầu  cấp  đang  điều  trị.  Điều  trị 

Cefaxon, Methylprednisolon.  

Xét nghiệm và kết quả 

Công  thức  máu:  BC  10800,  BCĐNTT  6690 

(62%),  BCĐNAT  390  (3,6%),  Lympho  bào  2110 

(19,5%),  Monocyte  1560  (14,4%).  Hb  10g/dl, 

MCV  86,2fl,  MCH  28,2pg.  TC  74  000Æ  13  000, 

MPV 6, 9 fl. 

Xét  nghiệm  sinh  hóa:  CRP  5,6  mg/l,  chức 

năng gan thận: bình thường. 

Xét  nghiệm  nhiễm  trùng  bào  thai:  CMV  (‐), 

EBV  (‐),  Rubella  (‐),  HIV  (‐).  Xét  nghiệm  vi 

khuẩn: soi phân: BC (+), cấy máu, cấy phân âm  tính, TPTNT bình thường. 

Xét  nghiệm  hình  ảnh:  X‐quang  phổi,  bụng:  bình thường, Siêu âm bụng, não: bình thường  Xét  nghiệm  miễn  dịch  học:  định  lượng  kháng  thể:  IgG  893,2  mg/dl,  IgM  114,6  mg/dl,  IgA 52,6 mg/dl, IgE > 3000 UI/ml. 

Định lượng protein: Albumin 4,27 g/dl, A/G  1,47,  Alpha1  2,8%,  Alpha2  14,1%,  Beta  11,5%,  Gamma 12,1%. 

C3, C4: bình thường, ANA âm tính, anti ds‐ DNA: âm tính.  

PCR tìm thấy đốt biến điểm trên gien WAS.  

Điều trị và diễn tiến 

Truyền Gamma‐globulin  Kháng sinh Cefaxon, ciprofloxacin 2 tuần.  Sulfamethoprim dự phòng. 

Tái khám mỗi tháng. 

Trường hợp 2 

Bệnh nhi nam Ng. Tr. N. Tr., 2 tháng 10 ngày  tuổi, địa chỉ Bến Lức, nhập viện ngày 23/08/2012. 

Số hồ sơ 285768/12. 

Lí do nhập viện 

Tiêu máu 3 ngày 

Bệnh sử 

Bé  bắt  đầu  tiêu  phân  nhầy  máu  khoảng  1  tuần  tuổi  Æ  điều  trị  bác  sĩ  tư  (uống  Ciprofloxacin và Probio) 5 ngày không giảm Æ  khám và nhập viện Long An vì tiêu máu và sốt,  được  điều  trị  tại  bệnh  viện  tỉnh  10  ngày  với  chuẩn đoán:  Nhiễm trùng tiêu  hóa/Xuất  huyết  giảm tiểu cầu cấp, được điều trị không rõ. Xuất  viện được khoảng 2 tuần, thỉnh thoảng vẫn tiêu  máu, tiếp tục nhập viện bệnh viện tỉnh điều trị 

Æ mẹ bé lo lắng vì bé vẫn còn tiêu máu nên tự  đưa bé đến Bệnh viện Nhi đồng 1. 

Tiền sử cá nhân 

Con  3/3,  sanh  thường,  đủ  tháng  tại  Bệnh  viện tỉnh Long An, cân nặng lúc sanh 3,2 kg. Sau  sanh 3 ngày xuất viện.  

Tiền sử gia đình 

Trang 4

2 chị gái:  13 tuổi, 10 tuổi khỏe.  

Ông  cậu  của  mẹ  mất  sớm  trước  2  tuổi, 

không rõ chẩn đoán. 

Triệu chứng lâm sàng 

Tình  trạng  lúc  nhập  viện:  Tỉnh,  to=  37o1C, 

môi  hồng,  chi  ấm,  mạch  quay  rõ,  thở  đều  êm, 

tim đều rõ 130 lần/phút, phổi trong, bụng mềm, 

gan 3 cm DBS, lách không sờ chạm, thóp phẳng, 

không xuất huyết da niêm vòm họng, viêm nứt 

quanh hậu môn, chàm da rải rác. Cân nặng lúc 

nhập  viện:  4,8  kg.  Chẩn  đoán  lúc  nhập  viện  là 

viêm ruột/ xuất huyết giảm tiểu cầu‐ t/d nhiễm 

trùng  bào  thai.  Điều  trị  kháng  sinh 

(Ciprofloxacin,  Amiklin).  Bệnh  nhi  giảm  và  hết 

tiêu  máu  khoảng  4  ngày  sau  đó  tiếp  tục  tiêu 

phân máu, kèm sốt, xuất hiện mảng xuất huyết 

da  nhiều  nơi,  họng:  mảng  xuất  huyết  ít  vòm 

họng,  kèm  sang  thương  da  dạng  viêm  mạch 

máu  2  khớp  cổ  chân,  được  điều  trị  corticoide 

trong 2 tuần. 

Xét nghiệm và kết quả 

Công thức máu: BC 7280 Æ 13190, BCĐNTT 

2980  (40,9%),  BCĐNAT  1330  (18,3%),  Lympho 

bào  2270  (31,2%),  Monocyte  660  (9,1%).  Hb 

9,1g/dl,  MCV  82,3fl,  MCH  25,9pg.  TC  36  000Æ 

13 000, MPV 6,9 fl Æ5.1 fl. 

Test coombs trực tiếp, test coombs gián tiếp: 

âm tính. 

Xét  nghiệm  sinh  hóa:  CRP  37,5  mg/l,  chức 

năng  gan  thận:  bình  thường.Xét  nghiệm  nhiễm 

trùng  bào  thai:  CMV  (‐),  EBV  (‐),  Rubella(‐), 

HIV(‐). Xét nghiệm vi khuẩn: cấy máu 2 lần (‐), 

dịch não tủy bình thường, soi phân: BC (+), cấy 

phân 2 lần âm tính, TPTNT bình thường. 

Xét  nghiệm  hình  ảnh:  X‐quang  bụng,  phổi: 

bình thường, Siêu âm bụng, não: bình thường 

Xét  nghiệm  miễn  dịch  học:  định  lượng 

kháng  thể:  IgG  1425,2  mg/dl,  IgM  79,7  mg/dl, 

IgA 42,4 mg/dl, IgE 2531,7 UI/ml. 

Định lượng protein: Albumin 3,45 g/dl, A/G 

1,28,  Alpha1  3%,  Alpha2  13,1%,  Beta  7,7%, 

Gamma 20%. 

C3,  C4:  bình  thường,  ANA  âm  tính,  antids‐ DNA: dương tính ít. 

Giải  trình  tự  gien  phát  hiện  đột  biến  điểm  p.E132K trên exon 4 của gien WAS (AspÆ Glu). 

Điều trị và diễn tiến 

Truyền Gamma‐globulin  Truyền 2 lần hồng cầu lắng (100ml/lần)  Kháng  sinh  Cefaxon,  Oxacilline,  Ciprofloxacin 2 tuần. 

Sulfatrim dự phòng. 

Bệnh  nhân  nhập  viện  lần  2  do  viêm  phổi,  được  truyền  Gamma‐globulin,  lần  cuối  nhập  viện 17/12/2012 do nhiễm trùng tiêu hóa, truyền  Gamma‐globulin, sau đó bỏ tái khám. 

Trường hợp 3 

Bệnh  nhi  nam  Đ.  Tr.  Ng.,  23  ngày  tuổi,  địa  chỉ  Định  Quán‐  Đồng  Nai,  nhập  viện  ngày  31/01/2013. Số hồ sơ 43899/13. 

Lí do nhập viện 

Tiêu máu khoảng 1 tuần. 

Bệnh sử 

Cách nhập viện khoảng 7 ngày, mẹ thấy một  hai  lần  trong  ngày  phân  có  màu  bất  thường  (không  để  ý  do  phòng  thiếu  ánh  sáng),  đến  chiều 2 ngày trước ngày nhập viện bé hơi quấy, 

bú ít quan sát phân thì thấy phân có lẫn máu đỏ  Ækhám bệnh viện Đồng Nai chẩn đoán nhiễm  trùng tiêu hóa cho uống thuốc (không rõ loại) Æ 

Bé tiếp tục tiêu máu 5‐6 lần/ ngày nên mẹ khám 

và nhập Bệnh viện Nhi Đồng 1. 

Tiền sử cá nhân 

Con 1/1, sanh thường tại Bệnh Viện Từ Dũ,  cân nặng lúc sanh 2, 8 kg, đủ tháng, sau sanh 3  ngày xuất viện.  

Tiền sử gia đình 

Ba: nghề nghiệp làm rẫy, mẹ: giáo viên tiểu  học.  

Cậu của mẹ bị mất sớm trước 1 tuổi do xuất  huyết giảm tiểu cầu. 

Triệu chứng lâm sàng 

Trang 5

Tình  trạng  lúc  nhập  viện:  Tỉnh,  to=  37o1C, 

môi hồng, chi ấm, mạch quay rõ, thở đều êm, 

tim  đều  rõ  140  lần/phút,  phổi  trong,  bụng 

mềm,  gan  2  cm,  lách  không  sờ  chạm,  thóp 

phẳng,xuất huyết da dạng chấm. Cân nặng lúc 

nhập  viện:  3  kg.  Chẩn  đoán  lúc  nhập  viện  là 

Viêm  ruột/  Nhiễm  trùng  sơ  sinh.  Điều  trị 

kháng sinh (Tienam, Metronidazole). Bệnh nhi 

tiếp  tục  tiêu  phân  máu,  sốt,  xuất  hiện  hội 

chứng thiếu máu, xuất huyết da niêm, được xử 

trí  truyền  hồng  cầu  lắng,  truyền  tiểu  cầu, 

Methylprednison  TM  10  mg/kg/ngày  trong  8 

ngày,  sau  đó  Prednisone  uống  liều 

2mg/kg/ngày  trong  15  ngày.  Bệnh  nhân  tiếp 

tục  sốt  cao,  tiêu  máu  nên  hội  chẩn  khoa  Sốt 

xuất huyết, được chẩn đoán theo dõi WAS. 

Xét nghiệm và kết quả 

Cộng thức máu: BC 15 650Æ 6750, BCĐNTT 

7950(  50,7%),  BCĐNAT  1980(  12,7%),Lympho 

bào  3  390(21,7%),  Monocyte  2  240  (14,3%).Hb 

12,1  g/dl,  MCV  97,2  fl,  MCH  33,7  pg.  TC  45 

000Æ 13 000, MPV 7,7 fl Æ5.1 fl. 

Test  coombs  trực  tiếp:  dương  tính,  test 

coombs gián tiếp: âm tính.  

Đông máu toàn bộ (4 lần): PTs 13” (Tm 13”), 

PT 78%, INR 0,91, aPTT 32”(Tm 32”), fibrinogen 

3,75 g/dl. 

Xét  nghiệm  sinh  hóa:  ion  đồ  bình  thường, 

CRP  18,8  mg/l,  chức  năng  gan  thận:  bình 

thường. 

Xét  nghiệm  nhiễm  trùng  bào  thai:  CMV  (‐), 

EBV (‐), Rubella(‐), HIV(‐). Xét nghiệm vi khuẩn: 

cấy máu 5 lần (‐), dịch não tủy bình thường, soi 

phân: HC (++), cấy phân (3 lần) âm tính, TPTNT 

bình thường. 

Xét  nghiệm  hình  ảnh:  X‐quang  bụng,  phổi: 

bình thường.  

Xét  nghiệm  miễn  dịch  học:  định  lượng 

kháng thể: IgG 669,9 mg/dl, IgM 46,7 mg/dl, IgA 

47,9 mg/dl, IgE 33,4 UI/ml. 

Định lượng protein: Albumin 3, 45 g/dl, A/G 

2,23,  Alpha1  3,  2%,  Alpha  2  11,5%,  Beta  7,9%, 

Gamma 8,4%. 

C3,  C4:  bình  thường,  ANA  âm  tính,  antids  DNA: dương tính yếu.  

Giải  trình  tự  guen  phát  hiện  đột  biến  điểm  p.E3K trên exon 4 của gien WAS(Glu ÆLys). 

Điều trị và diễn tiến 

Truyền tiểu cầu 3 lần ( 1đợn vị/ 1 lần)  Ciprofloxacin 14 ngày. 

Truyền Gamma‐globulin  Bệnh  nhân  ổn  định  nhiễm  trùng,  hết  tiêu  máu, chưa xuất viện. 

BÀN LUẬN  Bệnh sử 

Cả 3 ca đều là nam, tuổi phát hiện bệnh rất  sớm  trước  3  tháng  tuổi,  triệu  chứng  xuất  hiện  đầu tiên đều là tiêu máu. Biểu hiện lâm sàng đa  dạng, ca 2 có giai đoạn rối loạn miễn dịch, viêm  mạch  máu,  không  thấy  chàm  da  rõ  trên  ca  3,  theo  Shu (17,11,22),  WAS  protein  có  rất  nhiều  đột  biến  và  thể  lâm  sàng  có  thể  thay  đổi  tùy  theo  mức độ. 

Tiền sử cá nhân 

Cả  3  ca  đều  sanh  thường  đủ  tháng,cân  nặng lúc sanh bình thường, không tiền căn hay  sang chấn sản khoa, không gợi ý nhiễm trùng  bào  thai,  tương  tự  với  nghiên  cứu  ở  Thái  Lan 

và ở Nhật (14,6). 

Tiền sử gia đình 

Lưu  ý  bệnh  lý  họ  mẹ  có  trẻ  nam  bệnh  hay  chết trong tuổi nhũ nhi vì WAS là gien nằm trên  nhiễm  sắc  thể  X.  Tuy  nhiên,  ta  chưa  xác  định  được  chính  xác  là  gien  WAS.  Tương  tự  với  nghiên  cứu  chúng  tôi,  tại  Ý  năm  2011,  Syrigos  cũng làm case report về WAS thấy bệnh nhân có  cậu ruột bị ITP và tiêu máu(11,19).  

Ca 1 có anh ruột bị mất do giảm tiểu cầu lúc 17 tháng  tuổi, sơ đồ phả hệ:  

Trang 6

Sơ đồ 1: Phả hệ di truyền trường hợp 1 

Ca 3 có ông cậu bị mất do xuất huyết giảm 

tiểu cầu, sơ đồ phả hệ 

 

Sơ đồ 2: Phả hệ di truyền trường hợp 3 

Theo  Dupuis(7),  bệnh  nhân  WAS  mà  có  tiền 

sử gia đình nghĩ là có liên quan đến NST X như 

2  ca  trong  nghiên  cứu  là  dấu  hiệu  tiên  lượng 

xấu.  Tuy  nhiên,  theo(10,11,21,22),  đột  biến  của  WAS 

protein thì có 3 dạng: 1. Cổ điển “classic WAS”, 

2. Liên kết với NST X và giảm tiểu cầu “X‐linked 

thrombocytopenia” (XLT) 3. Liên kết với NST X 

và  giảm  bạch  cầu  hạt  “X‐linked  neutropenia” 

(XLN). Tùy theo dạng đột biến mà có thể chỉ ở 

rối  loạn  chức  năng  của  gien  WAS  hay  ức  chế 

hẳn  WAS.  “Classic”  WAS  xảy  ra  khi  protein  WAS  không  có,  XLT  xảy  ra  khi  WASP  có  biểu  hiện, XLN xảy ra khi có đột biến missense xuất  hiện  tại  vị  trí  Cdc42‐  binding.  Nhưng  nghiên  cứu không tiên lượng bệnh nhân được dựa trên  phân tích biểu hiện protein WAS. Gần 50% bệnh  nhân WAS có WAS phenotype và phân nữa còn  lại có XLT phenotype. Đột biến gien WAS gây ra  bởi  gien  liên  quan  nhiễm  sắc  thể  X‐linked  với  giảm neutrophile thì rất hiếm. 

Triệu chứng lâm sàng thường gặp 

Theo  Pai  SY(2),  nghiên  cứu  thấy  tỉ  lệ  xuất  huyết  chiếm  hơn  80%  ở  bệnh  nhân  gồm  xuất  huyết da, chảy máu mũi, tiêu chảy có máu trong  phân.  

Cả  3  bệnh  nhân  đều  xuất  huyết,  nhiễm  khuẩn  tái  đi  tái  lại.  Theo  y  văn(13,7,12),  WAS  thường  viêm  phổi  do  Pneumocystis  cannii  và  mycoplasma  pneumoniac,  đi  lỏng  mạn  tính,  nhiễm  trùng  da  lan  rộng  do  staphylacoccus  hay treptococcus, nhiễm herpes nặng, nấm, có  thể có viêm da cơ, xơ cứng bì như các thương  tổn  của  bệnh  tự  miễn,  có  thể  bị  nhiễm  nấm  Candida Albicans  mạn  tính  ở  da  và  niêm  mạ,  nhiễm trùng huyết nặng. Khoảng 10% có giảm 

cả đáp ứng miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch  thể. Trường hợp bệnh thứ 2 có nhiều đợt viêm  phổi  tái  đi  tái  lại,  không  loại  trừ  do 

Pneumocytis carnii.  

Một số trường hợp bệnh diễn tiến nhầm lẫn  với  bệnh  lý  miễn  dịch(12),  trường  hợp  2  và  3,  bệnh  nhân  có  anti‐  dsDNA  dương  tính,  riêng  trường  hợp  2,  bệnh  nhân  có  một  đợt  biểu  hiện  lâm sàng viêm mạch máu cẳng chân phải. Theo 

y văn thì Catucci thấy bệnh tự miễn ảnh hưởng 

từ 22% đến 72% trên các bệnh nhân WAS nghiên  cứu(5,3). 

Xét nghiệm chẩn đoán 

Công thức máu 

Tiểu  cầu  trong  3  ca  thấp,  cao  nhất  là  74000  con/mm3, với kích thước trung bình 5,1 đến 7,2 

fl, theo Hoffnam(6) thi MPV mean điển hình từ 4 

XY

bệnh nhân)

XY

Chết

bệnh nhân)

Chết

Trang 7

‐5  fl.  Ngoài  ra,  trong  3  trường  hợp  thì  có  2  ca 

tăng eosinophlie, tương tự y văn(15) 

Về  định  lượng  kháng  thể,  cả  3  trường  hợp 

đều có IgM thấp, IgG, IgA bình thường do đây 

là kháng thể qua nhau thai từ mẹ sang con. IgE 

tăng cao.(Bảng 1) 

Bảng 1: Định lượng kháng thể  

Ca 1 Ca 2 Ca 3

Ig E( IU/l) >3000 2531,7 33,4

Theo  y  văn(8,7)  10%  giảm  đáp  ứng  cả  miễn 

dịch thể lẫn miễn dịch tế bào.  

Giải  trình  tự  gien  có  thể  phát  hiện  các  rối 

loạn  gien  WAS  liên  quan  đến  hội  chứng 

Wiskott‐Aldrich,  giảm  tiểu  cầu  liên  kết  với  X 

(XLT), và liên kết với X bạch cầu trung tính bẩm 

sinh  (XLN).  Phân  tích  trình  tự  của  gien  có  thể 

phát  hiện  khoảng  98%  đột  biến  ở  nam  giới  và 

97% đột  biến  ở  nữ  mang  gien  bệnh.  Vì  XLT  và 

XLN triệu chứng có thể ít nghiêm trọng hơn so 

với đầy đủ WAS “classic” và vì nữ mang mầm 

bệnh  thường  không  có  triệu  chứng,  chẩn  đoán 

lâm  sàng  có  thể  khó  nắm  bắt.  Trong  những 

trường hợp này, xét nghiệm di truyền có thể là 

công cụ chẩn đoán các rối loạn liên quan đến các 

thể của WAS. 

Điều trị 

Điều  trị  hỗ  trợ  của  WAS  gồm  theo  dõi  và 

điều  trị  xuất  huyết,  kháng  sinh,  kháng  sinh  dự 

phòng, Gamma‐globulin, điều trị eczema và các 

rối  loạn  miễn  dịch  kèm  theo  với  thuốc  ức  chế 

miễm  dịch.  Ghép  tủy  là  điều  trị  chuẩn  ở  các 

nước  trên  thế  giới,  đặc  biệt  trên  bệnh  nhân  với 

đột  biến  nặng  không  có  biểu  hiện  protein.  Tuy 

nhiên,  hiệu  quả  của  ghép  tủy  trên  bệnh  nhân 

không  cao,  tỷ  lệ  chết  sau  5  năm  rất  cao.  Liệu 

pháp thay gien đã được thực hiện nhưng không 

hiệu  quả  và  dễ  dẫn  đến  phát  triển  ung  thư 

mới(12,6).  Ở  Việt  Nam,  hiện  tại  chỉ  điều  trị  triệu 

chứng,  chưa  có  điều  trị  triệt  để  hữu  hiệu.  Điều 

trị  triệu  chứng  trên  cả  3  ca  bao  gồm  truyền 

kháng thể Gamma‐globulin mỗi 3‐4 tuần, kháng 

sinh  Sulfamethoprim  dự  phòng.  Điều  trị  các  triệu chứng tự miễn, ca số 2 có biểu hiện bệnh lý  miễn dịch và được điều trị corticoide trong một  thời gian ngắn 2 tuần sau đó ngưng. Tiên lượng  thì khoảng 10% dẫn đến ung thư và tử vong rất  sớm trước 3 tuổi nếu không được điều trị ghép 

tế bào gốc hay liệu pháp gien(1,6,16,18). 

KẾT LUẬN 

WAS là bệnh xuất hiện rất sớm sau sanh và  tiên lượng tử vong sớm rất cao nên cần: 

‐ Chẩn đoán sớm khi lâm sàng là nam, tiêu  máu  sớm  kéo  dài,  chàm  da,  kết  hợp  giảm  tiểu  cầu với kích thước nhỏ, Ig M thấp và có tiền sử 

họ mẹ có người nam bị mất sớm. 

‐  Phát  triển  kỹ  thuật  sinh  học  phận  tử  tầm  soát đột biến gien WAS rộng rãi tại Việt Nam để  phát hiện chẩn đoán chính xác và sớm hơn tránh  nằm  viện  kéo  dài;  đồng  thời  có  thể  phát  triển  rộng  rãi  để  tầm  soát  trên  những  các  thể  bệnh  nhân khác của WAS. 

‐  Điều  trị  kháng  sinh  dự  phòng,  truyền  Gamma‐globulin. 

‐ Xem xét việc phát triển hướng đến điều trị  triệt để cho bệnh nhân (ghép tế bào gốc hay liệu  pháp gien). 

‐  Tư  vấn  tiền  sản  cho  gia  đình  có  bệnh  nhân  WAS  hay  các  người  nữ  mang  đột  biến  gien WAS. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Amarinthnukrowh  P.,  Ittiporn  S.,  Tongkobpetch  S.,  Chatchatee  P.,  Sosothikul  D.,  Shotelersuk  V.,  et  al  (2013).  Clinical and molecular characterization of Thai patients with 

Wiskott‐Aldrich syndrome. Scand J Immunol, 77(1), 69‐74. 

2 Balduini CL & Savoia A (2012). Genetics of familial forms of 

thrombocytopenia. Hum Genet, 131(12), 1821‐1832. 

3 Bouma  G,  Burns  SO  &  Thrasher  AJ  (2009).  Wiskott‐Aldrich  Syndrome:  Immunodeficiency  resulting  from  defective  cell  migration  and  impaired  immunostimulatory  activation. 

Immunobiology, 214(9‐10), 778‐790. 

4 Catucci  M,  Castiello  MC,  Pala  F,  Bosticardo  M  &  Villa  A  (2012).  Autoimmunity  in  wiskott‐Aldrich  syndrome:  an 

unsolved enigma. Front Immunol, 3, 209. 

5 Charrier S, Blundell M, Cedrone G, Louache F, Vainchenker 

W,  Thrasher  A,  et  al  (2013).  Wiskott  Aldrich  syndrome  protein‐deficient  hematopoietic  cells  can  beefficiently  mobilized  by  granulocyte  colony‐stimulating  factor. 

Haematologica. 

Trang 8

6 Dupuis‐Girod  S,  Medioni  J,  Haddad  E,  Quartier  P, 

Cavazzana‐Calvo M,  Le  Deist  F,  et  al  (2003).  Autoimmunity 

in  Wiskott‐Aldrich  syndrome:  risk  factors,  clinical  features, 

and outcome in a single‐center cohort of 55 patients. Pediatrics, 

111(5 Pt 1), e622‐627. 

7 Ham  H,  Guerrier  S,  Kim  J,  Schoon  RA,  Anderson  EL, 

Hamann MJ, et al (2013). Dedicator of Cytokinesis 8 Interacts 

with  Talin  and  Wiskott‐Aldrich  Syndrome  Protein  To 

Regulate NK Cell Cytotoxicity. J Immunol. 

8 Hoffman  (2012).  Disorders  of  Lymphocyte  Function.  In 

Hematology:  Principles  and  Pratice  (pp.  1253‐1290).  Elsevier: 

Saunders. 

9 Kliegman  (2011).  Immunodeficiency.  In  Saunders  (Ed.), 

Nelson  Textbook  of  Pediatrics,  19th  edition  (Vol.  II,  pp.  2456‐

2489): Saunders. 

10 Kobayashi R, Ariga T, Nonoyama S, Kanegane H, Tsuchiya S, 

Morio  T,  et  al  (2006).  Outcome  in  patients  with  Wiskott‐

Aldrich  syndrome  following  stem  cell  transplantation:  an 

analysis of 57 patients in Japan. Br J Haematol, 135(3), 362‐366. 

11 Lee PP, Chen TX, Jiang LP, Chen  J,  Chan  KW,  Lee  TL,  et  al 

(2009).  Clinical  and  molecular  characteristics  of  35  Chinese 

children  with  Wiskott‐Aldrich  syndrome.  J  Clin  Immunol, 

29(4), 490‐500. 

12 Lutskiy  MI,  Rosen  FS  &  Remold‐OʹDonnell  E  (2005). 

Genotype‐proteotype  linkage  in  the  Wiskott‐Aldrich 

syndrome. J Immunol, 175(2), 1329‐1336. 

13 Ochs HD (2009). Mutations of the Wiskott‐Aldrich Syndrome 

Protein  affect  protein  expression  and  dictate  the  clinical 

phenotypes. Immunol Res, 44(1‐3), 84‐88. 

14 Ochs  HD,  Filipovich  AH,  Veys  P,  Cowan  MJ  &  Kapoor  N 

(2009).  Wiskott‐Aldrich  syndrome:  diagnosis,  clinical  and 

laboratory  manifestations,  and  treatment.  Biol  Blood  Marrow 

Transplant, 15(1 Suppl), 84‐90. 

15 Pai  SY  &  Notarangelo  LD  (2010).  Hematopoietic  cell 

transplantation  for  Wiskott‐Aldrich  syndrome:  advances  in 

biology  and  future  directions  for  treatment.  Immunol Allergy 

Clin North Am, 30(2), 179‐194. 

16 Safaei  S,  Fazlollahi  MR,  Houshmand  M,  Hamidieh  AA,  Bemanian  MH,  Alavi  S,  et  al  (2012).  Detection  of  six  novel  mutations  in  WASP  gene  in  fifteen  Iranian  Wiskott‐Aldrich 

patients. Iran J Allergy Asthma Immunol, 11(4), 345‐348. 

17 Snover DC, Frizzera G, Spector BD, Perry GS, 3rd & Kersey 

JH  (1981).  Wiskott‐Aldrich  syndrome:  histopathologic 

findings in the lymph nodes and spleens of 15 patients. Hum 

Pathol, 12(9), 821‐831. 

18 Stepensky  P,  Krauss  A,  Goldstein  G,  Zaidman  I,  Elhasid  R,  Bielorai B, et al (2013). Impact of Conditioning on Outcome of  Hematopoietic Stem Cell Transplantation for Wiskott‐Aldrich 

Syndrome. J Pediatr Hematol Oncol. 

19 Syrigos  KN,  Makrilia  N,  Neidhart  J,  Moutsos  M,  Tsimpoukis  S,  Kiagia  M,  et  al  (2011).  Prolonged  survival  after  splenectomy  in  Wiskott‐Aldrich  syndrome:  a  case 

report. Ital J Pediatr, 37, 42. 

thrombocytopenia.  In  American  Socciate  Hematology  Educated 

Program (pp. 390‐406). 

21 Zhang  S,  Zhang  R,  Chen  C  &  Sun  J  (2013).  Two  cases  of  wiskott‐Aldrich syndrome in neonates due to gene mutations. 

Fetal Pediatr Pathol. 

22 Zhu  Q,  Watanabe  C,  Liu  T,  Hollenbaugh  D,  Blaese  RM,  Kanner  SB,  et  al  (1997).  Wiskott‐Aldrich  syndrome/X‐linked 

expression, and phenotype. Blood, 90(7), 2680‐2689. 

  Ngày nhận bài báo      28‐05‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  02‐07‐2013  Ngày bài báo được đăng:     25–09‐2013 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 10:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm