1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu ứng dụng lọc máu liên tục trong điều trị viêm tụy cấp nặng

6 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 290,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu đánh giá hiệu quả của phương pháp lọc máu liên tục trong điều trị viêm tụy cấp thể nặng. Nghiên cứu tiến hành có tất cả 19 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, bao gồm 14 nam và 5 nữ. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ chi tiết nghiên cứu.

Trang 1

BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG LỌC MÁU LIÊN TỤC TRONG ĐIỀU TRỊ VIÊM TỤY CẤP NẶNG

Nguyễn Nghiêm Tuấn*, Nguyễn Thị Thư Hương**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của phương pháp lọc máu liên tục (LMLT) trong điều trị viêm tụy cấp

thể nặng

Phương pháp nghiên cứu: Có tất cả 19 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, bao gồm 14 nam và 5 nữ,

tuổi trung bình là 42,9 ± 12,1 LMLT được thực hiện sau khi bệnh khởi phát 4,3 ± 2,2 ngày với phương thức CVVH hoặc CVVHDF Lưu lượng máu được sử dụng là 180 – 250 mL/p và tốc độ siêu lọc là 30 – 40 mL/kg/giờ Chống đông bằng heparin không phân đoạn truyền tĩnh mạch liên tục

Kết quả: LMLT được dung nạp tốt trên tất cả bệnh nhân 14 bệnh nhân còn sống và 5 bệnh nhân tử

vong Tỷ lệ tử vong tại khoa HSCC là 26% Nhiệt độ, nhịp thở, nhịp tim giảm đáng kể sau LMLT Creatinine huyết tương trước lọc là 3,37 ± 2,87 mg/dL và giảm xuống còn 1,54 ± 0,87mg/dL sau 72 giờ bắt đầu LMLT (p < 0,05) Các yếu tố giúp tiên lượng tử vong là tuổi, điểm APACHE II và khuynh hướng thay đổi điểm SOFA trong và sau khi LMLT

Kết luận: LMLT có thể áp dụng một cách an toàn trên các bệnh nhân bị viêm tụy cấp có biến chứng

suy đa cơ quan Nên xem xét chỉ định sớm LMLT trên nhóm đối tượng bệnh nhân này

Từ khóa: lọc máu liên tục; viêm tụy cấp

ABSTRACT

CONTINUOUS RENAL REPLACEMENT THERAPY IN TREATMENT OF SEVERE ACUTE

PANCREATITIS

Nguyen Nghiem Tuan; Nguyen Thi Thu Huong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 191 - 196

Objective: To investigate the effectiveness of using continuous renal replacement therapy (CRRT) in

the treatment of severe acute pancreatitis (SAP)

Methods: A total of nineteen patients (14 males and 5 females) with average age of 42.9 ± 12.1 years

were involved CRRT (CVVH or CVVHDF) was started 4.3 ± 2.2 days after onset of the disease The blood flow rate during CRRT was 180 – 250 mL/min, ultrafiltration rate was 30 – 40 mL/kg/h Continuous intravenous infusion of unfractionated heparin was used for anticoagulation

Results: CRRT was well tolerated in all the patients 14 of the patients survived and 5 died ICU

mortality was 26% Body temperature, breath rate and heart rate decreased significantly after CRRT Plasma creatinine before CRRT was 3.37 ± 2.87 mg/dL, and declined to 1.54 ± 0.87mg/dL after 72 h of the beginning of CRRT (p < 0.05) Prognostic factors include age, APACHE II score and the progression of SOFA score during and after CRRT

Conclusion: CRRT can be safely used in SAP patients complicated with multiple organ failure CRRT

is recommended early for this particular group of patients

* Bộ môn Nội Tiết - Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Nghiêm Tuấn ĐT: 0989064465 Email: tuanmed@yahoo.com.uk

Trang 2

Keywords: continuous renal replacement therapy; acute pancreatitis

MỞ ĐẦU

Viêm tụy cấp (VTC) là một cấp cứu

nội-ngoại khoa tương đối hay gặp trong thực hành

lâm sàng với thể VTC nặng chiếm khoảng 20

đến 25% Tuy hiện nay đã có nhiều biện pháp

điều trị mới được áp dụng nhưng tử vong của

VTC nặng vẫn còn cao (28 – 40% tùy theo

nghiên cứu) Nguyên nhân tử vong hầu hết là

do nhiễm khuẩn huyết và suy đa cơ quan

không hồi phục

Cytokine được phóng thích từ đại thực bào

và bạch cầu đa nhân có vai trò trung tâm trong

sinh bệnh học của VTC Các cytokine như IL-1,

TNF, PAF khi được phóng thích vào máu sẽ

gây hiện tượng tế bào viêm thoát mạch, thâm

nhập vào nhiều mô cơ thể và tiết hóa chất

trung gian khởi đầu cho đáp ứng viêm toàn

thân Trên cơ sở đó, những biện pháp nhằm

điều hòa dòng thác cytokine được nghiên cứu

sử dụng ngày một nhiều hơn và là một trong

các xu hướng điều trị VTC hiện nay Các số

liệu lâm sàng và thực nghiệm đã chứng tỏ lọc

máu liên tục (LMLT) có ảnh hưởng rõ rệt đến

sự gia tăng thải trừ các cytokine trong máu

Một số thử nghiệm gần đây cho thấy LMLT có

thể cải thiện diễn tiến của bệnh và góp phần

làm giảm tỷ lệ tử vong

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này tại khoa

Hồi sức Cấp cứu bệnh viện Chợ Rẫy nhằm đánh

giá vai trò của LMLT trong điều trị viêm tụy cấp

nặng

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dân số

Tất cả bệnh nhân viêm tụy cấp được điều trị

tại khoa HSCC bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 1

đến hết tháng 12 năm 2011

VTC được chẩn đoán khi có bệnh nhân có 3

tiêu chuẩn sau: đau bụng vùng thượng vị cấp

tính, men amylase hoặc lipase trong máu tăng ≥

3 lần bình thường và có hình ảnh VTC trên phim

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tuổi > 18

VTC nặng theo phân loại Atlanta 1992: có suy chức năng cơ quan và/hoặc biến chứng tại chỗ (hoại tử, áp xe, nang giả) và điểm APACHE

II ≥ 8

Được lọc máu liên tục ≥ 24 giờ

Tiêu chuẩn loại trừ

Tử vong trong vòng 24 giờ đầu nhập khoa

Đã được can thiệp phẫu thuật

Thu thập số liệu

Tất cả bệnh nhân đưa vào nghiên cứu đều được thu thập các số liệu sau:

Các đặc điểm dân số

Tuổi và giới

Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng

Ngay trước khi LMLT và sau 24, 48, 72 giờ từ khi bắt đầu LMLT:

- Dấu hiệu sinh tồn bao gồm lượng nước tiểu

24 giờ

- Công thức máu

- Khí máu động mạch

- Điện giải đồ

- Nồng độ creatinine huyết tương

- Nồng độ amylase và lipase máu

- Hình ảnh trên CTscan bụng có cản quang

Độ nặng của bệnh

Được đánh giá theo thang điểm APACHE II

và SOFA

Các thông số được sử dụng trong LMLT

Thời gian từ khi có triệu chứng đau bụng và thời gian từ khi nhập khoa đến khi được LMLT lần đầu, thời gian cho mổi lần LMLT, phương thức LMLT, thể tích dịch thay thế/thẩm tách và

số màng lọc đã sử dụng

Kết quả điều trị

Trang 3

khỏi khoa HSCC

Biến chứng

Rối loạn điện giải, chảy máu, nhiễm khuẩn

tại chỗ, hạ thân nhiệt

Hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (SIRS) và

hội chứng suy đa cơ quan (MODS) được chẩn

đoán theo tiêu chuẩn của ACCP/SCCM (1992)

Điều trị nội khoa

Các biện pháp điều trị chung bao gồm: nhịn

ăn cho đến khi tình trạng đau và chướng bụng

cải thiện, hồi sức dịch truyền, giảm đau, giảm

tiết, hỗ trợ dinh dưỡng, kháng sinh phòng ngừa

và thông khí cơ học nếu cần

Lọc máu liên tục

LMLT được chỉ định khi hội chứng đáp ứng

viêm toàn thân tiến triển nặng hơn và/hoặc hội

chứng suy đa cơ quan tồn tại sau 24 – 48 giờ điều

trị tích cực

Máy sử dụng là Diapact (với màng lọc

polysulfone HighFlux) hoặc Prixmaflex (với

màng lọc polyacrylonitrile AN69) LMLT được

thực hiện qua một catheter 2 nòng lưu lượng cao

đặt vào tĩnh mạch đùi hoặc tĩnh mạch cảnh

trong Phương thức LMLT là CVVH hoặc

CVVHDF Lưu lượng máu cài đặt 180 – 250

mL/phút, tốc độ dịch thay thế/dịch thẩm tách 30

– 40 mL/kg thể trọng/giờ và tốc độ siêu lọc được

điều chỉnh tùy theo tình trạng bệnh nhân Chống

đông màng và đường ống bằng heparin không

phân đoạn truyền liên tục

Thống kê

Kết quả được diễn đạt dưới dạng trung bình

± độ lệch chuẩn hoặc trung vị (khoảng tứ vị) đối

với biến số không có phân phối chuẩn So sánh

các biến số liên tục sử dụng phép kiểm t hoặc

Mann-Whitney So sánh các tỷ lệ được thực hiện

bằng phép kiểm chi bình phương Giá trị p < 0.05

được xem là có ý nghĩa thống kê Phân tích số

liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS

version 16

KẾT QUẢ Đặc điểm dân số

Có tất cả 19 bệnh nhân ( 14 nam và 5 nữ) tuổi

từ 23 đến 69 (trung bình 42,9 ± 12,1) được đưa vào nghiên cứu với điểm APACHE II 18.7 ± 5.7 Nguyên nhân VTC: do rượu (52%), tăng lipid máu (32%), sỏi mật (5%) và không rõ nguyên nhân (11%)

Số ngày nằm khoa HSCC trung bình là 11,7 ± 7,7 ngày

Có 14 bệnh nhân phải thở máy với thời gian thở máy 10 ± 7,8 ngày

Có 5/19 bệnh nhân tử vong chiếm tỷ lệ 26%

Thời gian LMLT

Thời gian từ lúc bệnh nhân bắt đầu đau bụng đến lúc được LMLT lần đầu là 4,3 ± 2,2 ngày Thời gian từ lúc bệnh nhân nhập khoa đến lúc bắt đầu LMLT là 3 (2 – 4) giờ Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm tử vong và còn sống

Tổng cộng 33 lần LMLT đã được thực hiện, trong đó 1 bệnh nhân được LMLT 4 lần, 2 bệnh nhân 3 lần, 7 bệnh nhân 2 lần và 9 bệnh nhân 1 lần Thời gian một lần LMLT là 51,8 ± 173 giờ Lượng dịch thay thế (và dịch thẩm tách) là

117 ± 46 lit cho mổi lần LMLT Số màng lọc sử dụng cho một lần LMLT là 2 ± 1 màng

Hình ảnh học

Tổn thương tụy trên CT scan được cho điểm theo thang điểm CTSI – CT Severity Index (điểm CTSI = điểm Balthazar + điểm hoại tử) Điểm CTSI trung bình là 3,5 ± 2,2 điểm Không có khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm còn sống và nhóm tử vong

Diễn biến các thông số lâm sàng và cận lâm sàng

Huyết động khá ổn định trong thời gian LMLT Các dấu hiệu của SIRS (nhịp tim, nhịp thở, thân nhiệt) có khuynh hướng cải thiện muộn nhất là sau 24 giờ bắt đầu LMLT

Trang 4

Bảng 1 Các thông số lâm sàng trước và sau LMLT

Trước

LMLT

Sau 24h Sau 48h Sau 72h

Huyết áp TB

(mmHg)

15,5

79,5 ± 16,3

Nhịp thở

(lần/p)

Nước tiểu

(mL/24h)

† p < 0.05 so với trước LMLT

Men amylase và lipase giảm đáng kể sau

24 giờ được lọc máu và tiếp tục giảm mạnh

trong các ngày tiếp theo Chức năng thận hồi

phục trên 11 bệnh nhân trong số 14 bệnh nhân

có suy thận cấp

Có 2 trường hợp tăng kali máu và 8 trong số

11 bệnh nhân bị toan chuyển hóa khi nhập khoa

được điều chỉnh ổn định sau 24 giờ LMLT

Bảng 2 Các thông số cận lâm sàng trước và sau

LMLT

Trước

LMLT

Sau 24h Sau 48h Sau 72h

Amylase (U/L) 757,6 ±

632,1

442,1 ±

206,8 ±

1679

1982 ±

1981

1398 ±

Natri (mEq/L) 138 ± 9,3 140 ± 4,9 138 ± 3,4 137 ± 2,5

0,135

7,393 ± 0,09

7,395 ± 0,091

7,373 ± 0,06 pO2 (mmHg) 109 ± 49 137 ± 49 155 ± 40 108 ± 49

Creatinine

(mg/dL)

3,37 ± 2,87

† p < 0.05 so với trước LMLT § p < 0.05 so với thời điểm

sau 24h

So sánh 2 nhóm còn sống và tử vong

Các chỉ số tiên đoán tử vong là tuổi và điểm

APACHE II Có sự cải thiện rõ rệt chức năng các

tạng trong thời gian LMLT (thể hiện bằng điểm

SOFA) ở nhóm bệnh nhân còn sống Ở nhóm

bệnh nhân tử vong không có hiện tượng này

Lượng dịch thay thế/thẩm tách được sử dụng

không có khác biệt đáng kể giữa 2 nhóm

Bảng 3 Đặc điểm 2 nhóm nghiên cứu

Còn sống Tử vong

‡ p < 0.05 so với nhóm còn sống § p < 0.05 so với trước LMLT

Biến chứng

Hạ kali máu được phát hiện trên 11 bệnh nhân trong quá trình LMLT nhưng không gây tai biến nghiêm trọng Hạ thân nhiệt được ghi nhận trên 6 bệnh nhân sau 48 – 72 giờ LMLT

Không có trường hợp nào bị xuất huyết do dùng kháng đông

BÀN LUẬN Đặc điểm dân số

Độ tuổi trung bình trong dân số nghiên cứu của chúng tôi trẻ hơn so với dân số của các tác giả khác Tuy nhiên điểm APACHE II có phần cao hơn, điều này lý giải tử vong của chúng tôi ở mức cao so với các công trình đi trước

Bảng 4 So sánh các đặc điểm dân số

Tuổi Điểm APACHE II Tử vong

(%)

Vũ Đức Định

Hà Mạnh Hùng Xie Hao Chúng tôi

43,9 50,9 ± 13,8 50,6 ± 10,8 51,43 ± 12,96 42,9 ± 12,1

15,4 ± 13,9 10,8 ± 4,8 15,2 ± 6,5 14,4 ± 3,9 18,7 ± 5,7

10,2 29,6 23,1 21,4 26,3

Theo y văn, tại các nước phát triển, hai nguyên nhân hàng đầu dẫn đến VTC ở người lớn là rượu và sỏi mật(1) Xuất độ của VTC do rượu (30 – 60%) và do sỏi mật (24 – 60%) rất thay đổi tùy theo giới tính và quốc tịch(12) Một chương trình tầm soát VTC ở Nhật năm 1999 cho thấy ở nam giới VTC do rượu và sỏi mật lần lượt có tỷ lệ 42% và 20%, ngược lại ở nữ giới tỷ lệ tương ứng là 7,2% và 31%(12) Ngoài

Trang 5

như tăng triglyceride huyết tương, sau nội soi

mật tụy ngược dòng (ERCP), sau một số thủ

thuật - phẫu thuật liên quan đến đường mật,

do thuốc Trong nghiên cứu của chúng tôi, số

bệnh nhân bị VTC do rượu chiếm tỷ lệ rất cao

(52%) và tất cả đều là nam giới

Chúng tôi cũng nhận thấy VTC liên quan

đến tăng triglyceride máu khá phổ biến trong

dân số nghiên cứu Cụ thể có 6 ca (32%) có nồng

độ triglyceride huyết tương > 1000 mg/dL, đứng

hàng thứ hai trong các nguyên nhân VTC nặng

Điều này có lẽ là dấu hiệu báo động về chế độ

dinh dưỡng chưa lành mạnh ở một bộ phận

không nhỏ người Việt Nam Trong khi đó sỏi

mật là một yếu tố bệnh nguyên quan trọng ở các

nước phương Tây (đặc biệt ở phụ nữ) chỉ chiếm

một tỷ lệ nhỏ (2 trường hợp) trong nghiên cứu

của chúng tôi Có thể việc loại trừ các ca VTC

nhẹ hoặc đã được phẫu thuật làm ảnh hưởng

đến thống kê này Số ca không tìm được nguyên

nhân chiếm 11%, tương tự kết quả của các tác giả

khác (10 – 30%)(12)

Hiệu quả của lọc máu liên tục

Các nghiên cứu về LMLT trên bệnh nhân

cải thiện các dầu hiệu của hội chứng đáp ứng

viêm toàn thân như sốt, nhịp tim nhanh, thở

nhanh Tác dụng này có được là do nồng độ các

cytokine gây viêm (TNFα, IL-1β ) trong máu đã

giảm đáng kể Các công trình của Heering(6),

Sander(11) và Hoffman(7) đã chứng minh được các

chất trung gian gây viêm được loại bỏ khi LMLT

Còn De Vriese và cs(3) đã chứng tỏ được hiệu quả

làm giảm nồng độ các cytokine gây viêm trong

huyết tương của LMLT Chúng tôi không có

điều kiện định lượng các cytokine trong máu và

dịch lọc nhưng cũng nhận thấy (bảng 1) các dấu

hiệu sinh tồn cải thiện nhanh ngay trong vòng 24

giờ khi bệnh nhân bắt đầu được LMLT, gián tiếp

khẳng định vai trò của LMLT đối với sự thải trừ

các cytokine

Về mặt cận lâm sàng, nồng độ các men tụy

giảm rất nhanh trong quá trình LMLT Đối với

các chất có trọng lượng phân tử lớn như amylase

và lipase (khoảng 36 000 – 50 000 Da), cơ chế thải trừ chủ yếu là hấp phụ và một phần nhỏ là đối lưu Công trình của Hà Mạnh Hùng(4) cũng cho thấy nồng độ 2 men này giảm mạnh sau 24 giờ LMLT và xu hướng này tiếp tục cho đến khi kết thúc liệu pháp

Nồng độ các chất điện giải được duy trì khá

ổn định tuy giảm kali máu là biến chứng hay gặp (58%) và có thể phòng ngừa bằng bổ sung kali vào dịch thay thế Tình trạng toan hóa máu cũng được điều chỉnh bằng dịch thay thế và pH máu có xu hướng được nâng lên so với trước LMLT mặc dù thay đổi này chưa ghi nhận ở mức có ý nghĩa

Hiệu quả của LMLT đối với thải trừ các cytokine phụ thuộc vào tốc độ dịch lọc (dịch thay thế trong phương thức CVVH) Khi tốc độ lọc tăng, lực đối lưu cao hơn có tác dụng gia tăng bề mặt hấp phụ bằng cách đẩy các phân tử vào sâu hơn trong cấu trúc màng lọc Việc thay thế màng lọc một cách định kỳ khi màng lọc cũ đã bão hòa làm tăng hiệu quả của LMLT qua cơ chế hấp phụ Ronco trong nghiên cứu của mình(10) cũng khẳng định lợi ích của việc gia tăng tốc độ lọc đối với cải thiện tỷ lệ sống còn và đẩy nhanh quá trình hồi phục của suy thận cấp Do hạn chế của một nghiên cứu mang tính hồi cứu, chúng tôi không thấy có khác biệt về tốc độ dịch lọc giữa nhóm còn sống và nhóm tử vong (bảng 3) Theo Jiang và cs(8), nhóm bệnh nhân bị VTC được LMLT sớm cải thiện được huyết động và

tử vong so với nhóm được LMLT muộn hơn Cụ

thể tỷ lệ còn sống khác biệt có ý nghĩa (88,89% vs 73,68%, p < 0.05) giữa nhóm được LMLT sau 48

giờ và nhóm được LMLT sau 96 giờ kể từ khi bắt đầu đau bụng Tương tự, Xie(14) cũng nhận thấy nhóm bệnh nhân tử vong được LMLT muộn hơn

nhóm còn sống (9,7 ± 2,5 ngày vs 4,0 ± 2,2 ngày,

p<0,01) Chúng tôi chưa có được sự khác biệt này

có lẽ do hạn chế của cỡ mẫu nhỏ Một điểm đáng khích lệ là đa số (75%) bệnh nhân của chúng tôi

đã được tiến hành LMLT ngay trong vòng 4 giờ đầu sau khi vào khoa

Trang 6

Các yếu tố tiên lượng

Tuổi, điểm APACHE II và điểm SOFA tại

thời điểm nhập khoa của nhóm tử vong cao hơn

nhóm hồi phục Ngoài ra chúng tôi không nhận

thấy các chỉ số sinh hóa như amylase, lipase hay

mức độ tổn thương trên CTscan có liên quan đến

kết cuộc của bệnh nhân

Khi so sánh sự phục hồi chức năng các cơ

quan theo thời gian, chúng tôi thấy ở nhóm

bệnh nhân còn sống điểm SOFA giảm một

cách có ý nghĩa trong suốt quá trình bệnh

nhân được LMLT Ngược lại ở nhóm tử vong

không quan sát được hiện tượng này Hơn

nữa ở mọi thời điểm, điểm SOFA của nhóm tử

vong luôn luôn cao hơn nhóm hồi phục (bảng

3) Như vậy có thể thấy sự cải thiện chức năng

các tạng là một yếu tố tiên lượng tốt trong

VTC Tương tự, Hà Mạnh Hùng (4) ghi nhận sự

cải thiện điểm SOFA ở nhóm còn sống từ sau

48 giờ trở đi Trong nghiên cứu của Vũ Đức

Định(13), tác giả nhận xét sự khác biệt về mức

giảm điểm SOFA giữa hai nhóm chỉ ở ngày

thứ 3, thứ 4 trở đi Còn Đào Xuân Cơ(2) chỉ

thấy sự khác biệt có ý nghĩa vào ngày thứ 5

sau điều trị trở đi Có lẽ thời gian hồi phục của

các bệnh nhân trong 2 nghiên cứu này kéo dài

hơn so với nhóm bệnh nhân của chúng tôi

KẾT LUẬN

LMLT được dung nạp tốt trên nhóm bệnh

nhân bị VTC thể nặng Liệu pháp này tỏ ra có

hiệu quả trong việc cải thiện các triệu chứng

viêm toàn thân Chức năng các cơ quan bị suy

cũng được nâng đỡ khá tốt Biến chứng liên

quan đến LMLT xảy ra tương đối ít và không

quan trọng.Tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện

và mức độ đáp ứng với trị liệu có ý nghĩa tiên

lượng bệnh Nghiên cứu này là tiền đề để mở

rộng sử dụng LMLT trên các bệnh nhân VTC có suy đa cơ quan

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Banks PA (2002) Epidemiology, natural history, and predictors

of disease outcome in acute and chronic pancreatitis Gastrointest Endosc.;56(6 Suppl):S226–30

2 Đào Xuân Cơ, Nguyễn Gia Bình và cs (2010) Nhận xét hiệu quả phương pháp lọc máu liên tục trong điều trị viêm tụy cấp nặng Kỷ yếu hội thảo về lọc máu liên tục toàn quốc, tr 37-44

3 De Vriese et al (1999) Cytokine removal during continous hemofiltration in septic patients J Am Soc Nephrol.; 10: 846–

853

4 Hà Mạnh Hùng (2010) Đánh giá hiệu quả của biện pháp lọc máu tĩnh mạch-tĩnh mạch liên tục trong phối hợp điều trị viêm tụy cấp nặng Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Hồi Sức Cấp Cứu Đại Học Y Hà Nội

5 Hao Wang et al (2003) Clinical effects of high volume hemofiltration on severe acute pancreatitis complicated with multiple organ dysfuction syndrome World J Gastroenterol.; 9(9):2096-2099

6 Heering P et al (1997) Cytokine removal and cardiovascular hemodynamics in septic patients with continuous venovenous hemofiltration Intensive Care Med.; 20: 288–296

7 Hoffman J et al (1995) Hemofiltration in human sepsis: Evidence for elimination of immunomodulatory substances Kidney Int.; 48: 1563–1570

8 Jiang HL et al (2005) Influence of continuous veno-venous hemofiltration on the course of acute pancreatitis World J Gastroenterol.; 11(31): 4815-4821

9 Pupelis G et al (2007) Continuous veno-venous haemofiltration

in the treatment of severe acute pancreatitis: 6-year experience HPB.; 9: 295-301

10 Ronco et al (2000) Effects of differents doses in continuous veno-venous heamofiltration on outcomes of acute renal failure: a prospective randomised trial Lancet; 356:26-30

11 Sander A et al (1997) Hemofiltration increases IL-6 clearance in early systemic inflammatory response syndrome but does not alter IL-6 and TNF plasma concentrations Intensive Care Med.; 23: 878–884

12 Sekimoto M et al (2006) JPN Guidelines for the management of acute pancreatitis: epidemiology, etiology, natural history, and outcome predictors in acute pancreatitis J Hepatobiliary Pancreat Surg 13:10–24

13 Vũ Đức Định, Đỗ Tất Cường, Nguyễn Gia Bình (2011) Nghiên cứu hiệu quả của liệu pháp lọc máu liên tục trong viêm tụy cấp nặng Y Học Thực Hành (783) – số 9, tr 25-28

14 Xie H et al (2003) Continuous veno venous hemofiltration in treatment of acute necrotizing pancreatitis Chin Med J.;116(4):549-553

Ngày đăng: 22/01/2020, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w